|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 20/HNGĐ – ST Ngày: 10/5/2024 V/v “Xin ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH – TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Kiều Chinh
Các Hội thẩm nhân dân.
1. Bà Trần Xuân Đạm
2. Ông Võ Đức Thọ
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Anh Hùng – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước: Ông Cao Thanh Nam - kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 106/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024, về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Đào Thị Thanh G, sinh năm: 1986 (có mặt)
Địa chỉ: Tổ 6, ấp 2, xã Lộc Thái, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.
* Bị đơn: Ông Phạm Văn H, sinh năm: 1984 (có đơn xin vắng mặt)
HKTT: Thôn Vĩnh An, xã Song Mai, thành phố Bắc G, tỉnh Bắc G.
Nơi ở hiện nay: Tổ 6, ấp 2, xã Lộc Thái, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Đào Thị Thanh G trình bày: Bà G và ông Phạm Văn H tự nguyện sống chung năm 2007 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Song Mai, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Trước khi kết hôn có tìm hiểu khoảng 01 năm. Sau khi kết hôn vợ chồng sống với tổ 6, ấp 2, xã Lộc Thái, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp. Nay nhận thấy vợ chồng không thể quay lại sống chung với nhau được nữa nên bà G xin được ly hôn với ông H.
Về con chung: Có 02 con tên Phạm Tuấn Hiệp, sinh ngày: 03/12/2007 và Phạm Tuấn Hưng, sinh ngày: 02/9/2014. Khi ly hôn, bà G yêu cầu được nuôi 02 con, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Hiện bà G không có mang thai, vợ chồng không có con nuôi.
Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ: Không có.
Tại bản tự khai có trong hồ sơ, bị đơn ông Phạm Văn H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Thống nhất về quan hệ hôn nhân như bà Đào Thị Thanh G trình bày. Nay ông H cũng đồng ý ly hôn với bà G.
Về con chung: Có 02 con chung tên Phạm Tuấn Hiệp, sinh ngày: 03/12/2007 và Phạm Tuấn Hưng, sinh ngày: 02/9/2014. Khi ly hôn, ông H đồng ý để bà G nuôi 02 con, ông H không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ: Không có.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền. Xác định đúng quan hệ tranh chấp, thực hiện thủ tục cấp tống đạt các văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát. Tại phiên tòa, thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa ông Phạm Văn H vắng mặt nhưng có đơn xin vắng nên đề nghị xét xử vắng mặt.
- Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Đào Thị Thanh G.
Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Đào Thị Thanh G được ly hôn với ông Phạm Văn H.
Về con chung: Giao bà Đào Thị Thanh G nuôi con tên Phạm Tuấn Hiệp, sinh ngày: 03/12/2007 và Phạm Tuấn Hưng, sinh ngày: 02/9/2014, bà G không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Về tài sản chung và nợ: Không có nên không giải quyết.
Về án phí: Đương sự chịu theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Bà Đào Thị Thanh G có đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh giải quyết ly hôn với ông Phạm Văn H nên vụ án được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Ông Phạm Văn H cư trú tại huyện Lộc Ninh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh được quy định tại khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa ông Phạm Văn H vắng mặt, tuy nhiên có đơn xin vắng. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2]. Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Bà G và ông Phạm Văn H tự nguyện sống chung năm 2007, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Song Mai, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang, vì vậy hôn nhân giữa bà Đào Thị Thanh G và ông Phạm Văn H là hợp pháp. Theo bà G, vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân bất đồng quan điểm, tính tình không hợp. Bà G vẫn giữ yêu cầu xin ly hôn. Ông H cũng đồng ý ly hôn nhưng xin vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Do đó Tòa án không tiến hành hòa giải.
Xét thấy, thời gian ly thân giữa bà G và ông H từ năm 2017 đến nay vẫn không hàn gắn tình cảm được, bà G xác định không còn tình cảm với ông H. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa bà G và ông H đã trầm trọng, cuộc sống không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử quyết định cho bà Đào Thị Thanh G được ly hôn với ông Phạm Văn H.
[2.2] Về con chung: Có 02 con tên Phạm Tuấn Hiệp, sinh ngày: 03/12/2007 và Phạm Tuấn Hưng, sinh ngày: 02/9/2014. Khi ly hôn bà G có nguyện vọng nuôi con. Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 luật Hôn nhân và Gia đình: Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con. Xét thấy, cháu Hiệp và cháu Hưng trên 7 tuổi, có nguyện vọng sống với mẹ nên cần giao cho bà G nuôi, bà G không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không giải quyết.
[3]. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp nhận định của Tòa án nên chấp nhận.
[4]. Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Như vậy, bà G phải chịu số tiền án phí Hôn nhân sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- - Điều 39 của Bộ luật dân sự;
- - Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình;
- - Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 và khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Đào Thị Thanh G được ly hôn với ông Phạm Văn H.
- Về con chung: Bà G nuôi con tên Phạm Tuấn Hiệp, sinh ngày: 03/12/2007 và Phạm Tuấn Hưng, sinh ngày: 02/9/2014, bà G không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
- Về án phí: Bà Đào Thị Thanh G chịu 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí Hôn nhân sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lộc Ninh theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006178 ngày 01 tháng 4 năm 2024.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận :
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Kiều Chinh |
Bản án số 20/HNGĐ – ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH – TỈNH BÌNH PHƯỚC về ly hôn
- Số bản án: 20/HNGĐ – ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH – TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Thanh Giang, Văn Huân
