|
TAND HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU Bản án số: 20/2024/HNGĐ-ST Ngày 08-7-2024 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Triệu Phúc Vượng;
Ông Đỗ Đình Cường;
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Nguyệt Ánh - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 43/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 03 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Thào Thị S, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Bản H, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu.
Vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Vàng Văn N, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Bản H, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu.
Vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” cùng các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Thào Thị S trình bày:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị S và anh Vàng Văn N về chung sống với nhau từ năm 2008, sau đó tự nguyện đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu vào năm 2010. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống bình thường, tuy nhiên do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên đến năm 2018 thì chị S bỏ nhà đi sang Trung Quốc để làm ăn đến năm 2023 chị S mới quay về Việt Nam sinh sống, trong thời gian chị S đi làm ăn thì giữa vợ chồng không còn tình cảm, không còn quan tâm, chia sẻ gì với nhau. Hiện tại chị S và anh N không còn tình cảm gì với nhau nên chị S đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vàng Văn N.
2. Về con chung: Quá trình chung sống chị S và anh Vàng Văn N có 02 con chung là Vàng A P, sinh ngày 24/6/2011 và cháu Vàng Thị L, sinh ngày 08/01/2013. Chị S đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là Vàng Thị L và không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên nếu anh N có nguyện vọng nuôi cả 02 con chung thì chị cũng nhất trí với ý kiến của anh N và không tranh giành quyền nuôi con với anh N.
3. Về chia tài sản chung: Tài sản chung, nợ chung, cho vay chung chị Thào Thị S không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Quá trình giải quyết vụ án anh Vàng Văn N trình bày: Về tình trạng hôn nhân giữa anh và chị S đúng như chị S đã trình bày. Anh và chị S về chung sống với nhau từ năm 2008, đến năm 2010 thì đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Khi về ở với nhau thì hai vợ chồng chung sống bình thường đến năm 2018 thì chị S tự ý bỏ nhà đi và không liên lạc gì với anh N, đến năm 2023 thì chị S mới trở về địa phương sinh sống, hiện tại anh N cũng không còn tình cảm với chị S nên chị S đề nghị giải quyết ly hôn thì anh cũng nhất trí ly hôn. Về con chung: Anh N thừa nhận quá trình chung sống có 02 con chung như chị S trình bày, sau khi ly hôn anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm cả 02 con chung là cháu Vàng A P và cháu Vàng Thị L, anh N không yêu cầu chị S phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh N khai đang làm ruộng và làm thuê cho công trình, thu nhập 10.000.000 đồng/tháng. Về chia tài sản chung, nợ chung, cho vay chung: Anh Vàng Văn N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền thụ lý vụ án; thụ lý đơn yêu cầu ly hôn; việc xác định quan hệ tranh chấp và tư cách của đương sự trong vụ án; việc ra và gửi thông báo thụ lý cũng như Quyết định đưa vụ án ra xét xử cùng hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát đúng thời hạn quy định. Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và Thư ký: Tại phiên tòa xét xử vụ án ngày hôm nay, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Thào Thị S và xem xét quyết định:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Thào Thị S được ly hôn với anh Vàng Văn N; Về con chung: Giao 02 con chung là Vàng A P sinh ngày 24/6/2011 và Vàng Thị L sinh ngày 08/01/2013 cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi; Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Thào Thị S không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung; Về chia tài sản chung, nợ chung, cho vay chung: chị S, anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét; Về án phí: Nguyên đơn chị S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Anh Vàng Văn N có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại bản Hua Cưởm 2, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu. Ngày 14/6/2024, Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên đã tiến hành mở phiên tòa lần thứ nhất, mặc dù được triệu tập hợp lệ nhưng anh N vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa hôm nay, chị S có đơn xin xét xử vắng mặt, anh N tiếp tục vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh N, chị S theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Thào Thị S và anh Vàng Văn N tự nguyện về chung sống với nhau từ năm 2008 và đến ngày 16/8/2010 thì đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc. Do vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị S và anh N là hôn nhân hợp pháp.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Quá trình chung sống anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian đầu, tuy nhiên đến năm 2018 thì chị Si t bỏ nhà đi Trung Quốc đến năm 2023 thì chị S mới trở về địa phương, từ khi chị Si trở về địa phương thì chị S và anh N cũng không chung sống với nhau nữa.
Xét thấy chị S và anh N đã không chung sống với nhau từ năm 2018 cho đến nay. Trong thời gian đó vợ chồng anh chị cũng không quan tâm, chia sẻ gì với nhau, hiện tại bản thân chị S và anh N không còn tình cảm với nhau và đều nhất trí ly hôn. Ủy ban nhân dân xã T cũng đã xác nhận giữa anh N và chị S có mâu thuẫn và hiện nay đang sống ly thân. Xét thấy hôn nhân giữa chị S và anh N đã thực sự lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu khởi kiện của chị S đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh N là hoàn toàn có căn cứ theo quy định tại Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về con chung: Anh N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung là Vàng A P sinh ngày 24/6/2011 và Vàng Thị L sinh ngày 08/01/2013 cho đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Chị S trình bày chị muốn được trực tiếp nuôi con chung Vàng Thị L nhưng nếu anh N không nhất trí cho chị nuôi cháu L thì chị cũng không tranh giành quyền nuôi con nữa. Tại phiên họp về kiểm tra việc tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 27/5/2024 chị S thay đổi nguyện vọng nuôi con và đề nghị Tòa án giao 02 con chung cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng vì anh N cũng có nguyện vọng nuôi 02 con chung và con chung trong thời gian sinh sống cùng anh N được chăm sóc tốt, hiện tại chị đang làm ở S, không có chỗ ở ổn định và không có thời gian chăm sóc, giáo dục con.
Quá trình giải quyết vụ án, cháu Vàng A P trình bày có nguyện vọng được ở với anh N, cháu Vàng Thị L có nguyện vọng ở với chị S. Xét thấy từ khi chị S đi Trung Quốc cho đến nay thì 02 con chung đều sinh sống cùng với anh N, được chăm sóc, giáo dục, phát triển tốt, cháu L có nguyện vọng ở với chị S tuy nhiên hiện tại chị S không đảm bảo điều kiện trực tiếp để nuôi con và chị S đề nghị giao 02 con chung cho anh N nuôi dưỡng. Để đảm bảo sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống và giáo dục cũng như đảm bảo điều kiện trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, Hội đồng xét xử nhận thấy cần giao cháu P và cháu L cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi và có khả năng lao động là phù hợp với các điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Vàng Văn N không yêu cầu chị Thào Thị S phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về chia tài sản chung, nợ chung, cho vay chung: Chị Thào Thị S và anh Vàng Văn N tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Chị Thào Thị S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Do vậy, quan điểm giải quyết vụ án của vị Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58; Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Thào Thị S được ly hôn với anh Vàng Văn N.
- Về con chung: Giao 02 con chung là Vàng A P sinh ngày 24/6/2011 và Vàng Thị L sinh ngày 08/01/2013 cho anh Vàng Văn N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Chị Thào Thị S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Vàng Văn N không yêu cầu chị Thào Thị S phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về chia tài sản chung: Anh Vàng Văn N và chị Thào Thị S không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Chị Thào Thị S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng mà chị Thào Thị S đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số: BLTU/23/0000897 ngày 13/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Oanh |
Bản án số 20/2024/HNGĐ-ST ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 20/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con
