|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP Bản án số: 20/2024/HS-ST Ngày: 08-5-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Minh Hòa;
- Ông Nguyễn Minh Chí.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Minh Châu – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Chí Công - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn L; Sinh ngày 01/01/1994; Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp B, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: làm thuê; Con ông Nguyễn Văn M, sinh năm: 1947 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1955; Bị cáo có 04 người anh và 01 người chị; Vợ: Nguyễn Thị D, sinh năm 1998; Có 02 con, sinh năm 2018 và 2023; Tiền án, tiền sự: Không; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
Bị hại:
- Bùi Huỳnh Đ, sinh năm 1999 (đã chết);
- Nin Narit, sinh năm 1998 (đã chết);
Người đại diện hợp pháp của bị hại Đ là ông Bùi Văn T, sinh năm 1974 và bà Võ Thị K, sinh năm 1975 (cha, mẹ ruột, có mặt);
Cùng nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp của bị hại N6 là Ninh Buôl T1, sinh năm 1969 (cha ruột, vắng mặt).
Cùng nơi cư trú: Ấp O, xã K, huyện P, tỉnh Prey Veng, Vương quốc Campuchia.
Người làm chứng:
- Nguyễn Văn P, sinh năm 1982 (có mặt);
- Ngô Văn B, sinh năm 1954 (có mặt);
- Lê Văn N1, sinh năm 1975 (có mặt);
- Nguyễn Minh N2, sinh năm 1998 (vắng mặt);
- Nguyễn Duy K1, sinh ngày 18/6/2007 (có mặt);
- Trịnh Văn C, sinh năm 2002 (có mặt);
- Phạm Văn T2, sinh năm 2003 (có mặt);
Người đại diện hợp pháp của K1 là: Trương Thanh D1, sinh năm 1987;
Cùng cư trú: Ấp B, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.
Nơi cư trú: Ấp D, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.
Người phiên dịch: Ông Dương Hoàng N3 – Cộng tác viên Phiên dịch tiếng Khmer – Sở Tư pháp tỉnh Đồng Tháp (có mặt);
Nơi công tác: Phòng An ninh đối ngoại Công an tỉnh Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn L có xe 04 bánh tự chế nhãn hiệu JIANG DONG, hàng ngày L kéo rơm khô thuê cho người khác. Khoảng 19 giờ 05 phút ngày 06/3/2023, L điều khiển xe 04 bánh tự chế nêu trên chở rơm xuống kênh B thuộc khu dân cư G thuộc ấp B, xã T, huyện H thì xe bị hỏng nên L tự lấy xe máy cày hiệu KUBOTA 7000 của anh Nguyễn Văn P (anh ruột L) để kéo xe 04 bánh tự chế dưới kênh B lên bằng cách giữa 02 xe được nối bằng sợi dây thừng bằng nhựa dài 18,8 mét, đường kính 02 cm căng ngang qua đường tuần tra biên giới để kéo xe bốn bánh tự chế dưới kênh lên. Trong quá trình kéo, L có phân công Trịnh Văn C điều khiển xe rơm, Nguyễn Minh N2, Nguyễn Duy K1, Lê Văn N1, Phạm Văn T2 đứng cảnh giới cách 10 mét ở 02 đầu và cầm đèn pin báo hiệu cho các phương tiện giảm tốc độ. Khoảng 19 giờ 15 phút cùng ngày, trong lúc L đang kéo xe tự chế lên thì Nin N4 sinh năm 1998, ngụ tại: ấp O, xã K, huyện P, tỉnh Prey Veng, Vương quốc Camphuchia điều khiển xe môtô biển số 66G1 – 633.83 chở phía sau Bùi Huỳnh Đ chạy hướng xã T đi xã T với tốc độ cao không phát hiện T2, K1, N1, N2 báo hiệu nên cả 02 va chạm vào sợi dây thừng đang căng ngang đường làm cả 02 té ngã xuống mặt đường. Hậu quả: Nin Narit và Đ tử vong tại chỗ.
Kết quả khám nghiện hiện trường: Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn giao thông là đoạn đường thẳng, bằng phẳng, tầm nhìn không hạn chế, mặt đường trải nhựa rộng 6m60, không có vạch phân chia phần đường, có ánh sáng đèn đường.
Bản kết luận giám định tử thi số: 296/KLGĐTT-KTHS, ngày 14/3/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh Đ, kết luận Bùi Huỳnh Đ bị vết thương đứt tách rời vùng cổ và đốt sống cổ gây sốc mất máu cấp là nguyên nhân tử vong.
Bản kết luận giám định tử thi số: 297/KLGĐTT-KTHS, ngày 14/3/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh Đ, Kết luận Nin Narit bị vết thương đứt tách rời hoàn toàn vùng đầu – cổ gây mất máu cấp là nguyên nhân tử vong.
Kết luận giám định số: 298/KL-KTHS, ngày 15/3/2023 của Phòng K2 - Công an tỉnh Đ kết luận, trong máu của Bùi Huỳnh Đ có chứa thành phần cồn (E), nồng độ 156,5mg/100ml.
Kết luận giám định số: 299/KL-KTHS, ngày 15/3/2023 của Phòng K2 - Công an tỉnh Đ kết luận, trong máu của Nin N4 có chứa thành phần cồn (E), nồng độ 175,6mg/100ml.
Tài liệu, đồ vật tạm giữ và trao trả gồm:
- 01 (một) sợi dây luộc (dây thừng) dài 18,8 mét, đường kính 0,2cm.
- 01 (một) xe tự chế 04 bánh hiệu Jiang Dong đã qua sử dụng.
- 01 (một) xe mô tô biển số 66G1 – 633.83. Đã trao trả cho ông Bùi Văn T là cha bị hại Đ xong.
- 01 (một) xe máy cày nhãn hiệu Kubota 7000 màu cam được lắp động cơ máy dầu hiệu Kubota đã qua sử dụng. Hiện đã trả cho ông Nguyễn Văn P là chủ sở hữu xong.
Trách nhiệm dân sự:
Đại diện bị hại Bùi Huỳnh Đ là ông Bùi Văn T và bà Võ Thị K yêu cầu bị cáo L bồi thường tất cả chi phí là 170.000.000 đồng. Hiện bị cáo Nguyễn Văn L đã bồi thường 80.000.000 đồng, ông T và bà K đã làm đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện bị hại N6 là ông Ninh B1 Tha yêu cầu bị cáo L bồi thường tất cả chi phí là 220.000.000 đồng. Hiện gia đình bị cáo Nguyễn Văn L đã bồi thường 70.000.000 đồng, ông Ninh Buôl T1 đã làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị can L.
Tại Cáo trạng số 11/CT-VKS-P2 ngày 31 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Cản trở giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 261 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố, phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Cản trở giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 261; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, đề nghị xem xét theo phần Quyết định của Cáo trạng đã nêu.
Bị cáo không tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo chỉ xin giảm hình phạt.
Người đại diện hợp pháp của bị hại Đ là ông Bùi Văn T và bà Võ Thị K xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, các cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của các cơ quan, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về tố tụng: Đối với người đại diện hợp pháp của bị hại Nin N4 là Ninh Buôl T1, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Xét thấy những người này đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Trong quá trình điều tra đã có lời khai rõ ràng và sự vắng mặt của người này không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, căn cứ các Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
[3] Xét nội dung vụ án: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn L đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo khẳng định hành vi phạm tội được nêu trong bản cáo trạng số 11/CT-VKS-P2 ngày 31 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp là đúng với hành vi của bị cáo. Vào khoảng 19 giờ 15 ngày 06/3/2023, L đang điều khiển xe máy cày hiệu KUBOTA kéo xe 04 bánh tự chế qua ngang đường tuần tra biên giới, giữa 02 xe được nối bằng sợi dây thừng bằng nhựa dài 18,8 mét, đường kính 02 cm. Lúc này, Nin N4 điều khiển xe môtô biển số 66G1 – 633.83 chở phía sau Bùi Huỳnh Đ chạy hướng xã T đi xã T với tốc độ cao không phát hiện nên cả 02 va chạm vào sợi dây thừng đang căng ngang đường; hậu quả: Nin Narit và Đ ngã xuống mặt đường tử vong tại chỗ.
Lời khai nhận của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, người làm chứng, vật chứng cùng với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cản trở giao thông đường bộ”, thuộc trường hợp làm chết 02 người, phạm vào điểm b khoản 2 Điều 261 của Bộ luật Hình sự.
Tại Điều 261 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào đào, khoan, xẻ, san lấp trái phép công trình giao thông đường bộ; đặt, để, đổ trái phép vật liệu, phế thải, rác thải, vật sắc nhọn, chất gây trơn hoặc chướng ngại vật khác gây cản trở giao thông đường bộ; tháo dỡ, di chuyển trái phép, làm sai lệch, che khuất hoặc phá hủy biển báo hiệu, đèn tín hiệu cọc tiêu, gương cầu, dải phân cách hoặc thiết bị an toàn giao thông đường bộ khác; mở đường giao thông cắt trái phép qua đường bộ, đường có dải phân cách;sử dụng trái phép lề đường, hè phố, phần đường xe chạy, hành lang an toàn đường bộ hoặc vi phạm quy định về đảm bảo an toàn giao thông khi thi công trên đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) ....;
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) .......;
b) Làm chết 02 người;.
[4] Bị cáo Nguyễn Văn L là người đã trưởng thành, đều có thể chất, tinh thần phát triển bình thường, có khả năng điều khiển hành vi, nhận thức được pháp luật, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Bị cáo thừa biết tuyến đường tuần tra biên giới luôn có nhiều người qua lại. Với ý thức chủ quan bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu trên, gây hậu quả chết 02 người.
[5] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến tính mạng của 02 bị hại mà còn làm mất trật tự trên tuyến giao thông đường bộ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Bản thân bị cáo là người có nhận thức pháp luật ở mức độ nhất định nhưng chưa có ý thức trong việc làm nên đã phạm tội. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và có tác dụng phòng ngừa chung cho xã hội.
[6] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; khắc phục 01 phần hậu quả cho các bị hại, được người đại diện hợp pháp của các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần về hình phạt.
[7] Xét lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, đại diện bị hại Đ là ông Bùi Văn T và bà Võ Thị K yêu cầu bị cáo L bồi thường tất cả chi phí là 170.000.000 đồng, đại diện bị hại Nin N là ông Ninh B1 Tha yêu cầu bị cáo L bồi thường tất cả chi phí là 220.000.000 đồng; tổng cộng là 390.000.000 đồng. Bị cáo thống nhất bồi thường theo yêu cầu của phía bị hại và đã bồi thường cho ông T 80.000.000 đồng, tác động gia đình bồi thường cho ông N5 Buôl Tha 70.000.000 đồng, tổng cộng là 150.000.000 đồng. Như vậy, bị cáo còn phải bồi thường tiếp số tiền 240.000.000 đồng. Tại phiên toà, ông Bùi Văn T và bà Võ Thị K yêu cầu bị cáo L tiếp tục bồi thường số tiền còn lại. Xét yêu cầu của người đại diện hợp pháp cho bị hại là có căn cứ. Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất bồi thường theo yêu cầu của phía người bị hại nên ghi nhận sự tự nguyện này của bị cáo. Theo đó, bị cáo Nguyễn Văn L phải bồi thường tiếp cho người đại diện hợp pháp của bị hại Bùi Huỳnh Đ là ông Bùi Văn T và bà Võ Thị K số tiền 90.000.000 đồng; bồi thường tiếp cho người đại diện hợp pháp của bị hại Nin N4 là ông Ninh B1 Tha số tiền 150.000.000 đồng.
[9] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) xe tự chế 04 bánh hiệu Jiang Dong, xét thấy cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 (một) sợi dây luộc (dây thừng) dài 18,8 mét, đường kính 0,2cm, xét thấy cần phải tịch thu tiêu huỷ.
[10] Về án phí, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Cản trở giao thông đường bộ".
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 261; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 468; Điều 586; Điều 591 Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải bồi thường tiếp cho người đại diện hợp pháp của bị hại Bùi Huỳnh Đ là ông Bùi Văn T và bà Võ Thị K số tiền 90.000.000 đồng; bồi thường tiếp cho người đại diện hợp pháp của bị hại Nin N4 là ông Ninh B1 Tha số tiền 150.000.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án mà người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền nêu trên, thì hàng tháng còn phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự đối với số tiền chưa thi hành án cho đến khi thi hành xong.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) xe tự chế 04 bánh hiệu Jiang Dong.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) sợi dây luộc (dây thừng) dài 18,8 mét, đường kính 0,2cm.
Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 12.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đối với người đại diện hợp pháp của người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án văn hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Khắc Thịnh |
Bản án số 20/2024/HS-ST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về cản trở giao thông đường bộ
- Số bản án: 20/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cản trở giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: CẢN TRỞ GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
