Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ

TỈNH ĐỒNG THÁP

Bản án số: 20/2024/DS-ST

Ngày 07/6/2024

V/v “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Dung.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Bùi Minh Châu;
  2. Phạm Thiện Bửu.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Bảo Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Sóc - Kiểm sát viên.

Vào ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 199/2023/TLST-DS ngày 17/10/2023 về việc “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46A/2024/QĐST-DS ngày 17/4/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 51/2024/QĐST-DS ngày 16/5/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng C;

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết T, chức vụ: Tổng Giám đốc Ngân hàng C;

    Cùng địa chỉ: Số A, phố L, phường H, quận H, Hà Nội.

    Người đại diện theo ủy quyền: Bà Dương Thị Thùy D, chức vụ: Phó Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

    Địa chỉ: Đường L, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Chí T1, sinh năm 1986;

    Địa chỉ cư trú: Khóm T, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

  3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1978;
    2. Nguyễn Thị Thu N, sinh năm 1976;

    Cùng địa chỉ cư trú: Khóm T, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 09/10/2023, nguyên đơn Ngân hàng C (do bà Dương Thị Thùy D - Phó giám đốc Phòng C thành phố Hồng Ngựà người đại diện theo ủy quyền) trình bày:

Ngày 31/3/2021 ông Nguyễn Chí T1 có vay vốn tại Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh C - Phòng giao dịch thành phố H chương trình cho vay Hộ mới thoát nghèo với số tiền là 30.000.000đồng, hạn trả cuối cùng ngày 09/3/2026;

Ngày 09/12/2022 ông Nguyễn Chí T1 có vay vốn tại Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh C – Phòng giao dịch thành phố H chương trình cho vay Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn với số tiền là 20.000.000đồng, hạn trả cuối cùng ngày 09/11/2027;

Kể từ thời điểm nhận tiền vay vốn đến nay ông T1 không thực hiện nghĩa vụ nộp lãi và trả gốc theo hợp đồng. Ngân hàng đã đôn đốc nhắc nhở ông T1, ông H và bà N trả nợ gốc và nợ lãi tồn đọng nhưng ông T1, ông H và bà N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.

Nay Ngân hàng C - Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội thành phố C khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Chí T1, ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Thu N có trách nhiệm liên đới trả số tiền còn nợ Ngân hàng tổng cộng là 56.626.516đồng. Trong đó nợ gốc là 50.000.000đồng, nợ lãi là 6.626.516đồng. Cụ thể như sau: Món vay Hộ mới thoát nghèo, nợ gốc 30.000.000đồng, nợ lãi 5.450.628đồng (tính đến ngày 09/10/2023) và tiếp tục tính lãi theo Khế ước số 6600000720026016. Món vay Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, nợ gốc 20.000.000đồng, nợ lãi 1.175.888đồng (tính đến ngày 09/10/2023) và tiếp tục tính lãi theo Khế ước số 6600000724498218.

- Bị đơn ông Nguyễn Chí T1 trình bày tại đơn xin gia hạn như sau:

Ngày 31/3/2021, anh có vay chương trình hộ thoát nghèo với số tiền là 30.000.000đồng, đến hạn trả cuối cùng ngày 09/3/2026. Nhưng bên Ngân hàng C có nói rằng phần vay này hiện giờ không đúng đối tượng nên cho anh vay lại 20.000.000đồng chương trình Nước sạch môi trường để anh trả qua chương trình Hộ mới thoát nghèo. Nhưng vì hoàn cảnh quá khó khăn số tiền 20.000.000đồng anh vay được đã dùng để trang trải (D) lo lúc trước ba của anh bệnh, anh có mượn tiền bên ngoài, chủ nợ bên ngoài đòi lại và làm khó khăn và có hứa tháng sau sẽ cho mượn lại để trả cho Ngân hàng nhưng vì nhà chủ nợ gặp sự cố nên không cho anh mượn lại nên cho đến nay anh chưa trả lại số tiền vay 20.000.000đồng cho Ngân hàng). Nay anh làm đơn gửi đến Tòa án xem xét cho anh xin gia hạn thêm và sẽ trả hàng tháng là 3.000.000đồng bằng tiền lương của anh, vì hiện nay anh không vay được ai ở bên ngoài nữa.

- Trong quá trình thụ lý, giải quyết, Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự đã tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng đầy đủ cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Thu N (do anh Nguyễn Chí T1 cùng hộ, nhận thay) nhưng ông H và bà N không có văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu của Ngân hàng, đồng thời ông H và bà N cũng không đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật.

- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự đề nghị: Căn cứ vào Điều 91, Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116, Điều 117, Điều 463, Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Nguyễn Chí T1, ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Thu N có nghĩa vụ liên đới trả số tiền vay cho Ngân hàng C – Chi nhánh thành phố H, tỉnh Đồng Tháp như đã ký kết với tổng số tiền là 56.626.516đồng (trong đó nợ gốc là 50.000.000đồng và tiền lãi tính đến ngày 09/10/2023 là 6.626.516đồng), cụ thể 02 khoản nợ như sau:

  • + Khoản nợ vay của chương trình “Hộ mới thoát nghèo” tổng số tiền là 35.450.628đồng (trong đó nợ gốc là 30.000.000đồng và lãi tính đến ngày 09/10/2023 là 5.450.628đồng) và tiếp tục tính lãi phát sinh theo khế ước số 6600000720026016.
  • + Khoản nợ vay của chương trình “Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn” tổng số tiền là 21.175.888đồng (trong đó nợ gốc là 20.000.000đồng, lãi tính đến ngày 09/10/2023 là 1.175.888đồng) và tiếp tục tính lãi phát sinh theo khế ước số 6600000724498218.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Tòa án nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ kiện tranh chấp về hợp đồng tín dụng nên thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 và khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về sự vắng mặt của các đượng sự: Tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, nhưng nguyên đơn đã có đơn xin vắng mặt còn bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần 2, nhưng vẫn vắng mặt không lý do, do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là đúng quy định theo Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C. Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ các Khế ước Món vay hộ mới thoát nghèo, nợ gốc 30.000.000đồng theo Khế ước số 6600000720026016. Món vay Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, nợ gốc 20.000.000đồng theo Khế ước số 6600000724498218, do bị đơn, đồng thời là đại diện cho hộ gia đình theo giấy ủy quyền ngày 01/3/2021 ký kết với Ngân hàng. Tuy nhiên, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không thực hiện đúng theo hợp đồng ký kết nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, do đó phía Ngân hàng yêu cầu yêu cầu ông Nguyễn Chí T1, ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Thu N có nghĩa vụ liên đới trả dứt số tiền còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 56.626.516đồng. Trong đó nợ gốc là 50.000.000đồng, nợ lãi là 6.626.516đồng. Cụ thể như sau: Món vay Hộ mới thoát nghèo, nợ gốc 30.000.000đồng, nợ lãi 5.450.628đồng (tính đến ngày 09/10/2023) và tiếp tục tính lãi theo Khế ước số 6600000720026016. Món vay Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, nợ gốc 20.000.000đồng, nợ lãi 1.175.888đồng (tính đến ngày 09/10/2023) và tiếp tục tính lãi theo khế ước số 6600000724498218 là có căn cứ chấp nhận.

[3] Xét việc bị đơn Nguyễn Chí T1 thừa nhận ngày 31/3/2021 anh có vay chương trình Hộ mới thoát nghèo với số tiền là 30.000.000đồng, đến hạn trả cuối cùng ngày 09/3/2026. Nhưng bên Ngân hàng C có nói rằng phần vay này hiện giờ không đúng đối tượng nên cho anh vay lại 20.000.000đồng chương trình Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn để anh trả qua chương trình Hộ mới thoát nghèo. Nhưng vì hoàn cảnh quá khó khăn số tiền 20.000.000đồng anh vay được đã trả tiền trị bệnh cha của anh do anh có mượn tiền bên ngoài, chủ nợ bên ngoài đòi lại và làm khó khăn, chủ nợ có hứa tháng sau sẽ cho mượn lại để trả cho Ngân hàng nhưng do nhà chủ nợ gặp sự cố nên không cho anh mượn lại nên cho đến nay anh chưa trả lại số tiền vay 20.000.000đồng cho Ngân hàng. Nay anh làm đơn gửi đến Tòa án xem xét cho anh xin gia hạn thêm và sẽ trả hàng tháng là 3.000.000đồng bằng tiền lương của anh, vì hiện nay anh không vay được ai ở bên ngoài nữa. Hội đồng xét xử xét thấy anh đã vi phạm hợp đồng trả nợ theo các Khế ước đã ký kết nêu trên; đồng thời, Tòa án đã tiến hành tống đạt cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Thu N (do anh Nguyễn Chí T1 cùng hộ, nhận thay) các văn bản tố tụng như: Thông báo thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải,... nhưng ông H, bà N vẫn không đến Tòa án, không có ý kiến phản đối với yêu cầu của Ngân hàng. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”.

[4] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của Ngân hàng C là có chứng cứ, nên chấp nhận, do đó anh Nguyễn Chí T1 cùng với ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Thu N phải có nghĩa vụ liên đới trách nhiệm trả hết số tiến gốc 50.000.000đồng, nợ lãi là 6.626.516đồng, tổng số tiền là 56.626.516đồng và tiếp tục tính lãi theo Khế ước số 6600000720026016 và K ước số 6600000724498218 cho Ngân hàng.

[5] Xét về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2, 9 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C được chấp nhận nên Ngân hàng C không phải chịu án phí, bị đơn anh Nguyễn Chí T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Thu N phải liên đới chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 91, Điều 92, Điều 147, Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 116, Điều 117, Điều 463, Điều 466 và Điều 468, Điều 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Buộc anh Nguyễn Chí T1, ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Thu N có nghĩa vụ liên đới trả số tiền vay còn thiếu gốc là 50.000.000đồng (năm mươi triệu đồng), nợ lãi là 6.626.516đồng, tổng số tiền là 56.626.516đồng (năm mươi sáu triệu sáu trăm hai mươi sáu nghìn, năm trăm mười sáu đồng) cụ thể như sau:

  • + Khoản nợ vay của chương trình “Hộ mới thoát nghèo” tổng số tiền là 35.450.628đồng (trong đó nợ gốc là 30.000.000đồng và lãi tính đến ngày 09/10/2023 là 5.450.628đồng) và tiếp tục tính lãi phát sinh theo Khế ước số 6600000720026016 kể từ ngày 10/10/2023.
  • + Khoản nợ vay của chương trình “Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn” tổng số tiền là 21.175.888đồng (trong đó nợ gốc là 20.000.000đồng và lãi tính đến ngày 09/10/2023 là 1.175.888đồng) và tiếp tục tính lãi phát sinh theo Khế ước số 6600000724498218 kể từ ngày 10/10/2023.

2. Về án phí:

- Ngân hàng C không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, thuộc trường hợp không phải nộp tiền tạm ứng án phí nên không xem xét, giải quyết.

- Buộc anh Nguyễn Chí T1, ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Thu N có nghĩa vụ liên đới nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm là 2.831.235 đồng, làm tròn là 2.831.000đồng (hai triệu tám trăm ba mươi mốt nghìn đồng).

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP. Hồng Ngự;
  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Mỹ Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2024/DS-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 20/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng C với anh T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger