Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 05 - 6 - 2024

V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Vượng;

2. Bà Nguyễn Thị Biên.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Huệ - Kiểm sát viên

Trong ngày 05 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 45/2024/TLST-HNGĐ, ngày 01/3/2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/5/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2024/QÐST-HNGĐ, ngày 20/5/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hà Thị T, sinh năm 1987. Hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang

Nơi ở hiện nay: Tổ dân phố C, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt, có đơn đề nghị vắng mặt)

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1986. Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Số nhà A, ngõ A, đường C, tổ dân phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt, không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ghi ngày 27 tháng 02 năm 2024, bản tự khai ghi ngày 08 tháng 3 năm 2024 và biên bản ghi lời khai ngày 19 tháng 4 năm 2024, nguyên đơn là chị Hà Thị T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh T1 kết hôn ngày 06/9/2019, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B. Trước khi kết hôn được tự do tìm hiểu, vợ chồng lấy nhau tự nguyện không bị ai ép buộc. Khi cưới được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương. Sau khi kết hôn vợ chồng chị về chung sống với gia đình chồng ở phường T, thành phố B. Cuộc sống vợ chồng không có ngày nào được hạnh phúc, do ngay sau khi cưới cả anh T1 và gia đình anh T1 đều khinh bỉ chị và gia đình chị, hắt hủi chị, không coi chị ra gì. Cứ lúc nào chị ở nhà là cả nhà chửi, nguyền rủa chị. Anh T1 thường xuyên chửi bới chị, mặc dù chị không có lỗi gì. Trong khi đó anh T1 không có công ăn việc làm, không có thu nhập và sống phụ thuộc vào chị nhưng lại coi khinh công việc của chị. Chị thấy cuộc sống rất áp lực, mệt mỏi nhưng vì sau khi cưới chị có bầu ngay nên đã cố gắng chịu đựng. Đến khi chị sinh con ở nhà không đi làm được thì gia đình chồng và anh T1 càng chửi chị nhiều hơn, ngay cả khi chị đang ăn uống cũng bị chửi. Chị sống rất khổ và mệt mỏi. Chị sinh con được 05 tháng thì gia đình chồng và anh T1 đuổi mẹ con chị đi nên chị đã phải đưa con về nhà bố mẹ ở từ cuối năm 2020. Từ đó đến nay anh T1 và gia đình anh T1 không quan tâm gì đến mẹ con chị, anh T1 không có bất kỳ trách nhiệm gì với vợ con, thậm chí anh T1 còn chưa gặp mặt con thêm lần nào. Cả anh T1 và gia đình anh T1 đều không muốn vợ chồng chị hoà giải với nhau. Tính đến nay chị và anh T1 đã sống ly thân nhau được gần 04 năm và không còn bất cứ mối quan hệ gì về tình cảm và kinh tế. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hoà giải đoàn tụ. Do vậy chị giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn anh T1.

- Về con chung: Chị và anh T1 có 01 con chung là Nguyễn Thị Thu T2, sinh ngày 03/4/2020. Cháu T2 do chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng từ khi vợ chồng sống ly thân nhau đến nay và anh T1 không có trách nhiệm gì với con. Khi ly hôn chị đề nghị Toà án giao cháu T2 cho chị tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị không yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay chị có công việc ổn định, thu nhập từ 07 đến 08 triệu đồng một tháng, có nhà ở ổn định do được bố mẹ đẻ cho và có mẹ chị trông nom, chăm sóc cháu T2 giúp chị hàng ngày. Chị khẳng định đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng tốt cho cháu.

- Về tài sản chung và công nợ chung: Chị và anh T1 không có tài sản chung, công nợ chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết

- Về công sức đóng góp: Thời gian chị và anh T1 chung sống cùng gia đình chồng không có công sức đóng góp vào khối tài sản chung của nhà chồng nên chị không yêu cầu Toà án giải quyết

* Tòa án tiến hành làm việc với bà Hà Thị N (mẹ đẻ chị Hà Thị T), bà N trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh T1 kết hôn tháng 9/2019, đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố B. Khi cưới được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương. Sau khi kết hôn vợ chồng chị T về chung sống với gia đình chồng ở phường T, thành phố B. Cuộc sống vợ chồng chị T ngay sau khi cưới đã không có hạnh phúc do anh T1 không có công ăn việc làm ổn định, không có thu nhập và sống phụ thuộc vào bố mẹ chồng. Gia đình chồng thì hắt hủi, khinh bỉ chị T và đuổi chị T đi. Anh T1 thấy như vậy nhưng cũng mặc kệ chị T, không bảo vệ hay quan tâm gì đến chị T. Tuy vậy, chị T vẫn cố gắng chịu đựng vì ngay sau khi cưới chị T có bầu nên lo lắng và suy nghĩ cho con. Đến khi chị T sinh được 05 tháng thì gia đình anh T1 và anh T1 đuổi mẹ con chị T đi, không cho ở nhà họ nữa nên chị T đã phải bế con về nhà bà ở từ cuối năm 2020. Từ đó đến nay anh T1 và gia đình anh T1 không quan tâm gì đến mẹ con chị T, anh T1 không có bất kỳ lần nào gọi điện hỏi thăm hay đến gặp mẹ con chị T, cũng không có trách nhiệm gì với vợ con. Cả anh T1 và gia đình anh T1 đều không muốn vợ chồng chị T hoà hợp về ở với nhau. Bản thân chị T và anh T1 cũng đã sống ly thân nhau từ cuối năm 2020 đến nay và không còn bất cứ mối quan hệ gì. Nay chị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, bà đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng chị T ly hôn để chấm dứt quan hệ hôn nhân về mặt pháp lý.

- Về con chung: Chị T và anh T1 có 01 con chung là Nguyễn Thị Thu T2, sinh ngày 03/4/2020. Cháu T2 do chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng từ khi vợ chồng sống ly thân nhau đến nay. Khi vợ chồng chị T ly hôn bà đề nghị Toà án giao cháu T2 cho chị T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị T hiện nay có công việc, nhà ở ổn định và có bà là người đang trông giúp cháu T2 cho chị T đi làm. Bà thấy chị T đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng con.

* Tòa án tiến hành làm việc với ông Nguyễn Văn D (bố đẻ anh Nguyễn Văn T1), ông D trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh T1 và chị T kết hôn năm 2019, đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố B. Trước khi kết hôn được tự do tìm hiểu nhau, kết hôn trên cơ sở tự nguyện, gia đình ông có tổ chức lễ cưới hỏi cho vợ chồng anh T1 theo phong tục tập quán địa phương. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh T1 về sinh sống với gia đình ông. Quá trình chung sống, vợ chồng anh T1, chị T thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn phát sinh từ vấn đề làm ăn phát triển kinh tế và nuôi dạy con cái. Anh T1 và chị T công việc bấp bênh, không có thu nhập ổn định để trang trải cuộc sống gia đình nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã. Anh T1 lại thường bỏ nhà đi qua đêm từ 01 đến 02 ngày mới về khiến hai vợ chồng mâu thuẫn càng căng thẳng. Gia đình ông đã nhiều lần khuyên giải nhưng mâu thuẫn vợ chồng anh T1 vẫn không hóa giải được trong suốt nhiều năm nay. Do mâu thuẫn kéo dài, từ năm 2020 đến nay, vợ chồng anh T1, chị T đã sống ly thân nhau. Chị T đưa con về nhà mẹ đẻ sinh sống, không còn liên lạc, không quan tâm hỏi han gì đến chồng và gia đình nhà chồng. Nay chị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh T1, ông đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng anh T1, chị T ly hôn. Theo ông được biết, bản thân anh T1 cũng xác định không còn tình cảm gì với chị T và đồng ý ly hôn nhưng vì bận nhiều công việc nên không có thời gian đến Tòa án làm việc.

- Về con chung: Chị T và anh T1 có 01 con chung là cháu Nguyễn Thị Thu T2, sinh ngày 03/4/2020. Từ khi vợ chồng anh T1 sống ly thân chị T đưa cháu T2 về nhà mẹ đẻ sinh sống. Trường hợp Tòa án giải quyết cho vợ chồng anh T1 ly hôn, ông đề nghị Tòa án xem xét giải quyết vấn đề con chung theo quy định pháp luật.

- Về công sức đóng góp: Trong thời gian vợ chồng anh T1 sinh sống cùng gia đình ông, anh chị không có công sức đóng góp gì vào tài sản chung của gia đình ông nên ông không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

* Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy báo làm việc, quyết định cung cấp tài liệu chứng cứ cho bị đơn là anh Nguyễn Văn T1. Tuy nhiên anh T1 không nộp văn bản ý kiến cho Tòa án và cũng không đến Tòa án làm việc theo giấy báo.

* Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và mở phiên hòa giải nhưng nguyên đơn, bị đơn vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Tòa án đã thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho các đương sự, không ai có ý kiến gì.

* Tại phiên tòa ngày 20/5/2024, do bị đơn vắng mặt lần thứ nhất không có lý do, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa

* Tại phiên tòa ngày 05/6/2024:

- Nguyên đơn vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt

- Bị đơn tiếp tục vắng mặt không có lý do

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

+ Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hà Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn T1
  2. Về con chung: Giao cho chị Hà Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Thị Thu T2, sinh ngày 03/4/2020. Anh Nguyễn Văn T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở anh Nguyễn Văn T1 thực hiện quyền, nghĩa vụ này. Về cấp dưỡng nuôi con do các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết.
  3. Về án phí: Chị Hà Thị T phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí chị T đã nộp.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

5. Kiến nghị, khắc phục: Không có

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp: Chị Hà Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, con chung với anh Nguyễn Văn T1. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, cụ thể là tranh chấp về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” được quy định tại Khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do bị đơn cư trú tại thành phố B, tỉnh Bắc Giang nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

[1.3] Về sự vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn: Nguyên đơn vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, quyết định xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn tại phiên tòa.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn:

- Chị Hà Thị T và anh Nguyễn Văn T1 kết hôn ngày 06/9/2019 (là thời điểm thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014), kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B và được cấp giấy chứng nhận kết hôn, là hôn nhân hợp pháp đúng với quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

- Quá trình chung sống, Hội đồng xét xử thấy chị T và anh T1 đã phát sinh nhiều mâu thuẫn ngay sau khi về chung sống và mâu thuẫn đã trở lên trầm trọng nhiều năm nay, không thể hòa giải được. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến mâu thuẫn là do chị T, anh T1 không có việc làm ổn định, không có thu nhập để trang trải cuộc sống gia đình dẫn tới vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau. Mặt khác, anh T1 không quan tâm, không có trách nhiệm với vợ, con. Từ cuối năm 2020 đến nay chị T đưa con về nhà bố mẹ đẻ sinh sống nhưng anh T1 cũng không có lần nào đến gặp trực tiếp hay gọi điện hỏi thăm vợ, con. Tính đến nay, chị T, anh T1 đã sống ly thân nhau gần 04 năm và không còn bất kỳ mối quan hệ gì về tình cảm, kinh tế. Chị T yêu cầu giải quyết ly hôn, anh T1 mặc dù đã nhận được thông báo thụ lý vụ án, giấy báo làm việc, quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ, thông báo hòa giải nhưng không nộp văn bản ý kiến cho Tòa án, cũng không đến Tòa án làm việc và hòa giải theo thông báo. Do vậy, có cơ sở xác định mâu thuẫn vợ chồng chị T, anh T1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 để xử cho chị T được ly hôn anh T1 là phù hợp với quy định pháp luật.

[2.2] Về yêu cầu giải quyết con chung: Chị T yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Thu T2, sinh ngày 03/4/2020 và không yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng nuôi con. Anh T1 không có ý kiến gì đối với yêu cầu nuôi con của chị T. Hội đồng xét xử thấy, kể từ khi chị T, anh T1 sống ly thân, cháu T2 do chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị T đang làm nghề tự do, có thu nhập từ 07 đến 08 triệu đồng một tháng, chị T có chỗ ở ổn định và được bà Hà Thị N (mẹ đẻ chị T) hỗ trợ trông nom cháu T2 khi chị T đi làm. Do vậy, để đảm bảo quyền, nghĩa vụ của cha mẹ trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; đảm bảo quyền lợi của con được chăm sóc, nuôi dưỡng tốt nhất sau khi bố mẹ ly hôn, cần giao cháu T2 cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Sau khi ly hôn, anh T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở anh T1 thực hiện quyền, nghĩa vụ này.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết

[2.4] Về tài sản chung, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[2.5] Về công sức đóng góp: Các đương sự không yêu cầu giải quyết về công sức đóng góp trong thời gian vợ chồng chung sống với gia đình ông Nguyễn Văn D (bố đẻ anh T1) nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[2.6] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Hà Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị T đã nộp.

[2.7] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

[2.8] Về đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang: Xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đối với việc giải quyết vụ án là có căn cứ nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn T1
  2. Về con chung: Giao cho chị Hà Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Thị Thu T2, sinh ngày 03/4/2020 đến khi cháu T2 đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật. Anh Nguyễn Văn T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung (cháu Nguyễn Thị Thu T2), không ai được cản trở anh T1 thực hiện quyền, nghĩa vụ này.
  3. Về án phí: Chị Hà Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị T đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001617 ngày 01 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị T đã thi hành xong án phí.
  4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án.
  5. Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 - Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và 9 - Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKS TP.Bắc Giang;
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường Thọ Xương, TP.Bắc Giang; (Giấy CNKH số 56/2019)
  • - Chi cục THADS TP.Bắc Giang;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2024/HNGĐ-ST ngày 05/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 20/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly honp
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger