|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Số: 20/2024/HNGĐ-ST Ngày 03-5-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Phong Lan
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Mai
Ông Nguyễn Văn Hạnh
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân
quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Quỳnh Anh Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 185/2023/TLST- HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2023 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 218/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 276/2024/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự :
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị C; Đăng ký hộ khẩu thường trú: Số H Chợ Hàng cũ, phường Đ, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Số B Chợ H, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Đình V; nơi cư trú: Số H Chợ Hàng cũ, phường Đ, quận L, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 25 tháng 10 năm 2023 cùng các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị C trình bày: Chị và anh Nguyễn Đình V xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện và có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, quận L, thành phố Hải Phòng vào ngày 25/12/2006. Quá trình vợ chồng chung sống ngay từ thời gian đầu đã không có hạnh phúc, phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu do hai bên luôn bất đồng quan điểm về lối sống, anh V thường xuyên trong tình trạng say xỉn, rượu chè; thêm vào đó do anh V không có công ăn việc làm nên dẫn đến kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn, một mình chị C phải gánh vác toàn bộ trách nhiệm gia đình. Từ đó vợ chồng thường xuyên xảy ra xô xát, đánh cãi nhau, nhiêu lần chị đã phải đưa con về nhà ngoại sinh sống. Sau đó được sự khuyên can của gia đình và anh V cũng nhận ra khuyết điểm đã xin lỗi. Vì thương con còn nhỏ nên chị chấp nhận quay về chung sống cùng anh V. Tuy nhiên chỉ được một thời gian ngắn, vợ chồng lại phát sinh mâu thuẫn, anh V vẫn chứng nào tật đó. Ngoài ra từ sau khi anh V bị ốm tính cách cũng thay đổi, thường xuyên nổi nóng, cáu giận dẫn đến việc gây áp lực cho vợ con. Do mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng nên từ tháng 9/2023 chị và các con đã thuê nhà ở nơi khác sinh sống, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể khắc phục được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh V, tạo điều kiện cho chị sớm ổn định cuộc sống.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Thị Mỹ H, sinh ngày 12/11/2007 và Nguyễn Đình Minh L, sinh ngày 13/01/2009. Trong trường hợp vợ chồng Ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung. Về cấp dưỡng nuôi con, hai bên tự thỏa thuận, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa anh Nguyễn Đình V vắng mặt. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ, song anh Nguyễn Đình V không đến Tòa án theo giấy triệu tập; thông báo hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa của Tòa án. Vì vậy trong hồ sơ vụ án không có bản tự khai, không có quan điểm của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị C giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với anh Nguyễn Đình V cũng như những quan điểm về con chung và tài sản chung đã trình bày ở trên.
Kiểm sát viên tham gia phát biểu ý kiến tại phiên tòa:
- - Về tố tụng: Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định về trình tự thủ tục tố tụng tại phiên tòa; nguyên đơn chấp hành đúng các quy định về tố tụng dân sự; bị đơn đã không chấp hành các quy định về tố tụng dân sự.
- - Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Nguyễn Thị C được ly hôn với anh Nguyễn Đình V. Về con chung: Giao 02 con chung là Nguyễn Thị Mỹ H, sinh ngày 12/11/2007 và Nguyễn Đình Minh L, sinh ngày 13/01/2009 cho chị Nguyễn Thị C trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chị C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét. Về tài sản chung: Chị C không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- - Về tố tụng:
- [1] Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị đơn là anh Nguyễn Đình V có nơi cư trú tại: Số H Chợ Hàng cũ, phường Đ, quận L, thành phố Hải Phòng. Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án khởi kiện xin ly hôn giữa chị Nguyễn Thị C và anh Nguyễn Đình V thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
- [2] Tại phiên tòa, bị đơn là anh Nguyễn Đình V vắng mặt không có lý do, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai, cho thấy anh V đã tự từ bỏ quyền cũng như nghĩa vụ của mình trước pháp luật. Bởi vậy căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Nguyễn Đình V.
- - Về quan hệ hôn nhân:
- [3] Chị Nguyễn Thị C và anh Nguyễn Đình V kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, quận L, thành phố Hải Phòng vào ngày 25/12/2006. Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị C và anh Nguyễn Đình V là hợp pháp.
- [4] Quá trình vợ chồng chung sống theo chị C trình bày không có hạnh phúc, vợ chồng thường xuyên xảy ra đánh cãi nhau gây mất trật tự trị an xóm phố, làm ảnh hưởng đến tâm lý của các con. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình bạn bè khuyên giải nhiều lần nhưng không có kết quả.
- [5] Hội đồng xét xử nhận định: Quá trình giải quyết vụ án mặc dù anh V có mặt tại địa phương, biết việc chị C khởi kiện yêu cầu ly hôn và Tòa án đang thụ lý giải quyết vụ án thông qua những lần nhận các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng anh V đã không hợp tác, không đến Tòa án để giải quyết. Việc này thể hiện anh V thiếu thiện chí trong việc hòa giải, bỏ mặc tình trạng hôn nhân ngày càng xấu đi. Mặt khác, qua điều tra xác minh, ý kiến gia đình và địa phương thấy rằng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị C và anh V đã lâm vào tình trạng trầm trọng và khó có khả năng khắc phục. Hai bên đã nhiều lần sống ly thân nhau sau đó lại quay về chung sống nhưng chỉ được một thời gian ngắn lại phát sinh mâu thuẫn. Do mâu thuẫn trầm trọng nên từ tháng 9 năm 2023 chị C cùng các con đã thuê nhà chuyển ra nơi khác sinh sống, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Điều đó chứng tỏ quan hệ hôn nhân giữa chị C và anh V trên thực tế đã không còn tồn tại, mục đích của hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn đã trầm trọng, bởi vậy yêu cầu của chị C xin được ly hôn với anh V là hoàn toàn chính đáng, phù hợp với thực tế, phù hợp với quy định tại các Điều 51, 56 Luật Hôn và nhân gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- - Về con chung:
- [6] Chị C và anh V có 02 con chung là Nguyễn Thị Mỹ H, sinh ngày 12/11/2007 và Nguyễn Đình Minh L, sinh ngày 13/01/2009. Trong trường hợp vợ chồng ly hôn chị C có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung.
- [7] Do anh V không đến Tòa án để giải quyết vụ án, nên không có quan điểm về việc nuôi dưỡng con chung.
- [8] Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện cả 02 con chung (cháu Nguyễn Thị Mỹ H và cháu Nguyễn Đình Minh L) đang sinh sống cùng chị C tại số B Chợ H, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng, do chị C trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Đồng thời qua xem xét nguyện vọng của các con chung đều có nguyện vọng được ở với mẹ (chị C). Bởi vậy yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung của chị C là chính đáng, phù hợp với thực tế và phù hợp với quy định tại các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con chị C không yêu cầu Tòa án xem xét nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- - Về tài sản chung:
- [9] Chị C không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét việc phân chia tài sản giữa hai bên.
- - Về án phí: Chị C phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- - Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị C được ly hôn anh Nguyễn Đình V.
- - Về con chung: Giao 02 con chung là Nguyễn Thị Mỹ H, sinh ngày 12/11/2007 và Nguyễn Đình Minh L, sinh ngày 13/01/2009 cho chị Nguyễn Thị C trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con, chị C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- - Về án phí: Chị Nguyễn Thị C phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được tình trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng theo biên lai thu tiền số 0005722 ngày 21 tháng 11 năm 2023. Chị C đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- - Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị C có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Đình V có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
- - Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Phong Lan |
Bản án số 20/2024/HNGĐ-ST ngày 03/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 20/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chinh - Việt
