|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - TUYÊN QUANG Bản án số: 20/2026/HNGĐ-ST Ngày 07/01/2026 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc _________________________ |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Thanh Sơn.
Các Hội đồng thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Ninh và bà Hà Thị Vinh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 01 năm 2026, tại Cơ sở 1 Toà án nhân dân khu vực 1 - Tuyên Quang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 229/2025/TLST- HNGĐ, ngày 24/10/2025, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2025/QĐXXST-HS ngày 08/12/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 73/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 23/12/2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Hà Thị X, sinh năm 1983; Địa chỉ: Tổ dân phố M, phường M, tỉnh Tuyên Quang (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- - Bị đơn: Anh Trương Văn K, sinh năm 1984; Địa chỉ: Thôn H, xã B, tỉnh Tuyên Quang (Vắng mặt, đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai nguyên đơn chị Hà Thị X trình bày:
Chị và anh K1 khi kết hôn được tự do tìm hiểu và được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương. Anh chị có làm thủ tục đăng ký kết hôn ngày 28/11/2014 tại Ủy ban nhân dân xã M (nay là phường M), tỉnh Tuyên Quang theo quy định pháp luật. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chị chuyển về nhà anh K sinh sống, thời gian đầu chung sống hạnh phúc, sau đó mấy năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng không hợp nhau, anh K không có trách nhiệm với các con, hai vợ chồng đã ly thân từ đầu năm 2023. Hiện nay chị cùng các con đang sống cùng nhau tại tỉnh Bắc Ninh.
Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị X1 nguyên quán điểm như đã trình bày, chị xác định mâu thuẫn giữa chị và anh Trương Văn K đến nay đã trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trương Văn K theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Chị và anh Trương Văn K có 02 con chung là cháu Trương Gia B ngày 28/10/2014 và cháu Trương Tiến Đ ngày 18/11/2017. Chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu, không đề nghị anh K cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Chị và anh K không có tài sản chung nên không đề nghị Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Chị và anh K không có nợ chung, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo, triệu tập anh Trương Văn K đến Tòa án để giải quyết vụ án nhưng anh K không có mặt; qua xác minh tại địa phương, hiện nay anh Trương Văn K có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn H, xã B, tỉnh Tuyên Quang. Theo cung cấp của đại diện thôn H thì anh Trương Văn K2 chị Hà Thị X2 đăng ký kết hôn tại UBND xã M (nay là UBND phường M gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống cùng gia đình nhà chồng tại thôn H một thời gian thì chị X3 đi, quá trình chung sống có xảy ra mâu thuẫn. Anh K7 nay đi làm ăn xa, thi thoảng có về nhà nhưng không rõ nơi cư trú và làm việc ở đâu. Đại diện thôn xác nhận có nhận được thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác của Tòa án và đã thông báo cho anh K biết việc Tòa án đang giải quyết vụ án. Về con chung: Quá trình chung sống, chị Hà Thị X4 anh Trương Văn K3 02 con chung là cháu Trương Gia B ngày 28/10/2014 và cháu Trương Tiến Đ ngày 18/11/2017, hiện nay cả hai cháu B1 cháu Đ1 không đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa phương và không chung sống cùng anh K.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Tuyên Quang phát biểu quan điểm:
- - Về tố tụng: Thẩm phán thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về: xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách của người tham gia tố tụng, tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự, gửi văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát sát đúng thời hạn quy định; nguyên đơn chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự như: Không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án; vắng mặt tại phiên tòa. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Về hướng giải quyết vụ án:
- + Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị X5 Xử cho chị Hà Thị X được ly hôn với anh Trương Văn K.
- + Về con chung: Căn cứ các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, giao con chung là cháu Trương Gia B ngày 28/10/2014 và cháu Trương Tiến Đ ngày 18/11/2017 cho chị Hà Thị X trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục, anh Trương Văn K không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- + Về tài sản chung: Chị Hà Thị X6 định không có tài sản chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
- + Về nợ chung: Chị Hà Thị X xác định không có, không đề nghị Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- + Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc chị Hà Thị X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Trương Văn K4 mặt không có lý do. Vì vậy, Toà án tiến hành xác minh tại thôn H, xã B tỉnh Tuyên Quang nơi anh K5 trú để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Chị Hà Thị X và anh Trương Văn K kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện Y (nay là UBND phường M, tỉnh Tuyên Quang là hôn nhân hợp pháp; chị X khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn và giao nuôi con chung nên xác định đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”; bị đơn anh Trương Văn K có đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại xã B, tỉnh Tuyên Quang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Tuyên Quang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân khu vực 1 - Tuyên Quang đã tiến hành xác minh thu thập chứng cứ, gửi, tống đạt văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, tuy nhiên bị đơn anh Trương Văn K đều vắng mặt tại các buổi làm việc; chị Hà Thị X có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy, Tòa án nhân dân khu vực 1 - Tuyên Quang quyết định xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại các Điều 227, 228 và 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Căn cứ lời trình bày, bản tự khai của nguyên đơn; kết quả xác minh, thu thập chứng cứ có cơ sở xác định: Chị Hà Thị X và anh Trương Văn K kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn ngày 28/11/2014 tại UBND xã M, huyện Y (nay là là UBND phường M, tỉnh Tuyên Quang là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa hai vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, hai vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2023, giữa hai vợ chồng không còn quan hệ gì về tình cảm cũng như kinh tế, chị X đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh K theo quy định của pháp luật.
Tại biên bản làm việc, biên bản xác minh, xác định chị X anh K3 đăng ký kết hôn vào năm 2014 nhưng quá trình chung sống được vài năm thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, hai vợ chồng đã ly thân từ đầu năm 2023 đến nay.
Hội đồng xét xử thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị X và anh K là đúng thực tế, hiện nay đã sống ly thân, chị X7 hai con đang ký hộ khẩu thường trú tại phường M, tỉnh Tuyên Quang giữa hai vợ chồng từ lâu đã không còn quan hệ gì về tình cảm cũng như kinh tế; cả hai cũng không có biện pháp gì để khắc phục được mâu thuẫn vợ chồng; giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt, trên thực tế cuộc sống hôn nhân không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị X5 Căn cứ các Điều 51, 56, 57 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Hà Thị X được ly hôn với anh Trương Văn K6 phù hợp pháp luật.
[2.2] Về con chung:
Quá trình chung sống, giữa chị X4 anh K3 02 con chung là cháu Trương Gia B ngày 28/10/2014 và cháu Trương Tiến Đ ngày 18/11/2017. Chị X đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cả hai cháu, không đề nghị anh K cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét đề nghị yêu cầu được nuôi con của chị X Hội đồng xét xử thấy: Theo kết quả làm việc tại thôn H, xã B, tỉnh Tuyên Quang và các tài liệu chứng cứ khác thể hiện cháu Trương Gia B1 cháu Trương Tiến Đ2 hộ khẩu thường trú tại tổ dân phố M, phường M, tỉnh Tuyên Quang hiện đang tạm trú tại phường N, tỉnh Bắc Ninh Các cháu đang theo học tại tỉnh Bắc Ninh và được chị Hà Thị X chăm S, nuôi dưỡng từ nhỏ đến nay, chị X2 việc làm và thu nhập ổn định, hơn nữa các cháu đều đã ở cùng chị X8 nhỏ và quen môi trường sống. Đối với anh Trương Văn K7 nay đi làm ăn xa, thi thoảng có về nhà, không rõ nơi cư trú và làm việc. Quá trình giải quyết vụ án Toà án triệu tập anh K8 lần nhưng anh K10 hợp tác đến Toà án làm việc nên không ghi được lời khai của anh K9 việc nuôi con chung. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu B1 cháu Đ3 xét nguyện vọng được nuôi con của chị X9 có căn cứ, vì vậy cần giao cháu B1 cháu Đ4 chị X10 tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp pháp luật.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị Hà Thị X không yêu cầu anh Trương Văn K cấp dưỡng, nên anh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Trường hợp có sự thay đổi về điều kiện trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục ảnh hưởng đến quyền lợi về mọi mặt của con thì các đương sự có quyền yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết việc thay đổi người nuôi con bằng một vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.
[2.3] Về tài sản chung: Chị X6 định không có tài sản chung, nên không xem xét giải quyết.
[2.4] Về nợ chung: Chị X xác định chị và anh K không có nợ chung, không đề nghị Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Hà Thị X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định, anh Trương Văn K không phải chịu án phí; các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, các Điều 35, 39, 143, 144, 147, 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự (theo Luật số 85/2025/QH15 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XV, K1 họp thứ 9 thông qua ngày 25/6/2025).
- Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Toà án nhân dân.
- Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” của chị Hà Thị X với anh Trương Văn K.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hà Thị X được ly hôn với anh Trương Văn K (Giấy chứng nhận kết hôn số 119, quyển số 01/2014, ngày 28/11/2014 tại UBND xã M, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang - nay là UBND phường M, tỉnh Tuyên Quang). Quan hệ hôn nhân giữa chị X và anh K chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Trương Gia B ngày 28/10/2014 và cháu Trương Tiến Đ ngày 18/11/2017 cho chị Hà Thị X trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Trương Văn K10 phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Các đương sự được quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn.
3. Về án phí: Chị Hà Thị X phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0000974 ngày 23/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang, chị X đã nộp đủ tiền án phí. Anh Trương Văn K không phải chịu án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Hồ Thanh Sơn |
Bản án số 20/2026/HNGĐ-ST ngày 07/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Tuyên Quang về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 20/2026/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/01/2026
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 1 - Tuyên Quang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
