|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 20/2025/HS-ST Ngày: 17/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Duy Phượng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Phương Ngà; Bà Trần Thị Lan Hương.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hà Linh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Ông Trần Công Luật - Kiểm sát viên.
Ngày 17/02/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 18/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXXST-HS ngày 03/02/2025 đối với bị cáo:
-
Lê Minh K, sinh năm 1978; giới tính: Nam; HKTT: Thôn H, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Lê Hải Â; con bà Phạm Khánh V; có vợ là Hà Thị V1; có 02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 19/11/2008 bị Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xử phạt 25 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy";
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/10/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh H; có mặt.
-
Triệu Văn M, sinh năm 1993; giới tính: Nam; HKTT: Xóm L, xã H, huyện Q, tỉnh Cao Bằng; chỗ ở: Thôn N, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Nùng; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 02/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Triệu Văn T (đã chết) và con bà Phan Thị C; chưa có vợ, con; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 17/12/2020 bị Công an xã H, huyện Q, tỉnh Cao Bằng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; ngày 23/9/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng xử phạt 13 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy";
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/10/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh H; có mặt.
Người làm chứng:
- - Ông Tạ Văn N, sinh năm 1966; trú tại: Thôn L, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên; vắng mặt.
- - Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1958; trú tại: Thôn N, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 45 phút ngày 26/10/2024, tại khu vực đường bê tông thuộc địa phận thôn N, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh H phát hiện, bắt quả tang Triệu Văn M, sinh năm 1993, hộ khẩu thường trú: Xóm L, xã H, huyện Q, tỉnh Cao Bằng đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: 01 túi nilon màu hồng bên trong có 10 gói giấy màu trắng có dòng kẻ ngang, kích thước (01x02) cm, trong các gói giấy đều chứa các cục chất bột màu trắng (niêm phong ký hiệu MT1); 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO; số tiền 500.000 đồng.
Tại bản kết luận giám định số 669/KL-KTHS(MT) ngày 29/10/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh H kết luận:
- - Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ký hiệu MT1 có tổng khối lượng 0,553 gam là ma túy, loại Heroine.
- - Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ký hiệu MT2 có tổng khối lượng 0,034 gam là ma túy, loại Heroine.
Hoàn lại mẫu vật gồm 0,538 gam ma túy, loại Heroine trong niêm phong MT1; 0,028 gam ma túy, loại Heroine trong niêm phong MT2 cùng với 01 mảnh nilon màu hồng; các mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ ngang gói ma túy và 02 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định. Mẫu hoàn lại được niêm phong trong một niêm phong ghi số 669/KL-KTHS(MT) và bàn giao cho Phòng Cảnh sát Điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh H quản lý.
Quá trình điều tra, Triệu Văn M khai nhận: Khoảng 12 giờ 35 phút ngày 26/10/2024, tại khu vực đường bê tông thuộc thôn N, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên, M mua 05 gói ma túy loại Heroine của Lê Minh K, sinh năm 1978, hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên với giá 1.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, M chia 05 gói Heroine trên thành 10 gói nhỏ trong giấy kẻ ngang màu trắng với mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh H ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và Lệnh khám xét khẩn cấp đối với Lê Minh K. Quá trình khám xét, lực lượng chức năng thu giữ tại túi quần phía trước bên trái của K 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi; tại giường ngủ của K thu giữ 01 gói giấy kẻ ngang màu trắng bên trong chứa các cục và bột màu trắng (niêm phong ký hiệu MT2).
Tại Cơ quan điều tra, Lê Minh K khai nhận: Khoảng sáng ngày 26/10/2024, K đi xe ôm đến khu vực huyện Đ, tỉnh Bắc Ninh, mua 1.000.000 đồng ma túy loại Heroine của một người đàn ông (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) để sử dụng và bán kiếm lời. Sau khi mua được ma túy, K chia nhỏ thành 06 gói, bọc bằng giấy kẻ ngang màu trắng. Đến khoảng 12 giờ 35 phút cùng ngày, K bán cho Triệu Văn M 05 gói Heroine với giá 1.000.000 đồng, số ma túy còn lại Khải cất giữ tại giường ngủ thì bị cơ quan chức năng phát hiện, thu giữ.
Đối với đối tượng bán ma túy cho Lê Minh K, do K không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra chưa có căn cứ xác minh, làm rõ.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng:
Số tiền 1.500.000 đồng thu giữ được gửi vào tài khoản tạm thu chờ xử lý tại Kho bạc Nhà nước tỉnh H.
Các vật chứng, đồ vật hiện đang bảo quản tại kho vật chứng Công an tỉnh H gồm: 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định số 669/KL-KTHS(MT) của Phòng K1 bàn giao; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi.
Cáo trạng số 26/CT-VKS-P1 ngày 21/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Lê Minh K về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; Triệu Văn M về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên trình bày luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lê Minh K từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 26/10/2024.
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Triệu Văn M từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 26/10/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp và án phí theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo nhất trí, không tranh luận với nội dung bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm quay lại với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh H, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên, cùng Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đầy đủ, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, bị cáo khai báo tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình, đồng thời không có khiếu nại hay ý kiến phản đối về hành vi, quyết định của các cơ quan và người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án được xác định là hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Lời khai của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trước Cơ quan điều tra và phù hợp khách quan với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Kết luận giám định; Lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 35 phút ngày 26/10/2024 tại đoạn đường bê tông thuộc thôn N, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Triệu Văn M mua của Lê Minh K 0,553 gam Heroine với mục đích để sử dụng đã bị phát hiện bắt giữ. Ngoài ra Lê Minh K còn tàng trữ 0,034 gam Heroine nhằm bán trái phép cho người khác. Tổng khối lượng ma túy Lê Minh K phải chịu trách nhiệm hình sự là 0,587 gam Heroine; Triệu Văn M phải chịu trách nhiệm hình sự là 0,553 gam Heroine.
Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được ma túy (heroine) là chất gây nghiện, mọi hành vi mua bán, vận chuyển, tàng trữ sử dụng đều bị pháp luật cấm, nhưng vì động cơ lợi nhuận từ việc mua bán các chất ma túy và thỏa mãn nhu cầu của bản thân, các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo Lê Minh K tàng trữ 0,587 gam ma túy loại Heroine nhằm mục đích để bán trái phép cho người khác, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Triệu Văn M tàng trữ 0,553 gam ma túy, loại Heroine nhằm mục đích sử dụng, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố Lê Minh K về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự và Triệu Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với các chất ma túy, đồng thời gây mất trật tự, an toàn xã hội. Hơn nữa, việc mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy còn là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác, gây ảnh hưởng xấu đến cộng đồng. Do đó, cần phải xử lý nghiêm minh, áp dụng một mức hình phạt tương xứng để răn đe, giáo dục các bị cáo và góp phần phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội..
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo Triệu Văn M là người thuộc hộ nghèo, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật hạn chế; bị cáo Lê Minh K có bố và mẹ được Nhà nước tặng thưởng H, Huy chương, mẹ đẻ là bà Phạm Khánh V hiện là thương binh nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- - Về đặc điểm nhân thân: Các bị cáo có nhân thân xấu, đều đã bị kết án về các tội danh liên quan đến ma túy.
[5] Về hình phạt: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 (một) Phong bì hoàn mẫu vật gửi giám định số 669/KL-KTHS (MT) của Phòng K1 - Công an tỉnh H, phong bì có 03 chữ ký và 02 hình dấu là vật chứng của vụ án không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
- - Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh thu giữ của Lê Minh K và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen thu giữ của Triệu Văn M, đây là công cụ bị cáo dùng để liên lạc mua bán ma túy nên cần tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước.
- - Đối với số tiền 1.500.000 đồng bị thu giữ, trong đó có 500.000 đồng thu giữ của Triệu Văn M, đây là số tiền do bị cáo lao động mà có nên trả lại cho bị cáo; Số tiền 1.000.000 đồng là tiền các bị cáo mua bán ma túy nên cần tịch thu, sung ngân sách Nhà nước.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
-
Về tội danh và hình phạt
Tuyên bố: Bị cáo Lê Minh K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo Triệu Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Minh K 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 26/10/2024.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Triệu Văn M 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 26/10/2024.
-
Về vật chứng và biện pháp tư pháp
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) Phong bì hoàn mẫu vật gửi giám định số 669/KL-KTHS (MT) của Phòng K1 - Công an tỉnh H, phong bì có 03 chữ ký và 02 hình dấu.
- - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: Số tiền 1.000.000 đồng; 01 phong bì niêm phong ký hiệu “ĐT1” niêm phong 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh, phong bì được dán kín có 01 chữ ký và 02 hình dấu; 01 phong bì niêm phong ký hiệu “ĐT2” niêm phong 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen, phong bì được dán kín có 01 chữ ký và 02 hình dấu.
- - Trả lại bị cáo Triệu Văn M số tiền 500.000 đồng.
(Số lượng, chủng loại, đặc điểm, tình trạng các vật chứng nêu trên được mô tả theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 22/01/2025 giữa Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H).
- Về án phí: Bị cáo Lê Minh K và Triệu Văn M, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Phượng |
Bản án số 20/2025/HS-ST ngày 17/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 20/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo mua bán và tàng trữ ma túy trái phép
