Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ P

TỈNH G

Bản án số: 20/2025/HS-ST

Ngày: 22-01-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH G

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thơ.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy và bà Nguyễn Thị Bắc.

Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Đại Bình - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh G.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh G tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Hoài Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 01 năm 2025 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh G xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 06/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Huỳnh Công T, tên gọi khác: D; sinh năm 1988 tại tỉnh G; CCCD: [...]; nơi ĐKHKTT: Tổ A, phường Y, thành phố P, tỉnh G; chỗ ở trước khi bị bắt: 190 Đ, phường D, thành phố P, tỉnh G; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Công H và bà Nguyễn Thị H1; vợ là chị Nguyễn Thị Thu N (đã ly hôn), chưa có con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 01/2012/HSST ngày 03/01/2012 của Tòa án nhân dân thành phố P tuyên phạt 05 năm tù về tội: “Cướp tài sản” (theo khoản 2 Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009), đã được xóa án tích; ngày 19/12/2022, bị Công an T4 xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền (mức phạt 1.500.000 đồng) về hành vi Đánh bạc, chưa dừng tiền. Ngày 05/11/2024 bị Công an T4 ra Quyết định xử phạt hành chính số 000136 bằng hình thức phạt tiền (mức phạt 1.500.000 đồng) về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, chưa dừng tiền.

Bị cáo Huỳnh Công T bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/10/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T4. Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Nguyễn Thị Tuyết S, sinh năm 1993. Địa chỉ: A T, phường Y, thành phố P, tỉnh G. Vắng mặt.

- Người chứng kiến: Ông Huỳnh Văn T1, sinh năm 1955. Địa chỉ: Tổ C, phường Y, thành phố P, tỉnh G. Vắng mặt.

- Người tham gia tố tụng khác: Không.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Huỳnh Công T sử dụng ma túy từ khoảng thời gian cuối năm 2023. Chiều ngày 03/10/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên T đi bộ đến đường N, phường H, TP . Gặp một người nam thanh niên tên T2 (không rõ họ tên, nhân thân, lai lịch) và đã mua 01 (một) gói ma túy (loại Methamphetamine) với giá 300.000 đồng, rồi T đi bộ đến nhà nghỉ V1, phường Y, TP . và đã sử dụng hết số ma túy này. Đến khoảng 09 giờ ngày 05/10/2024, do tiếp tục có nhu cầu sử dụng ma túy nhưng không biết chỗ mua nên T đã gọi điện thoại cho đối tượng tên T3 (không rõ nhân thân, lai lịch) là người Thái quen ngoài xã hội nhờ mua giúp 400.000 đồng ma túy (loại Methamphetamine) và nói T3 giao ma túy cho T ở gần khu vực may N, thị trấn T3 đồng ý. Một lúc sau, T3 gọi điện thoại cho T nói T đến đầu hẻm S đường L, Tổ A, phường Y, TP . để lấy ma túy. Lúc này, T đã mượn xe máy (chưa xác định được biển số) của bạn tên V (không rõ nhân thân, lai lịch) rồi điều khiển xe chạy đến chỗ hẹn; T3 đưa cho T 01 gói ma túy đã và T đã đưa cho T3 số tiền 400.000 đồng; T để gói ma túy này vào vỏ gói thuốc lá hiệu Eagle rồi cất giấu trong túi quần bên phải mặc trên người với mục đích để sử dụng và điều khiển xe về đầu hẻm A đường T, phường Y, thành phố P trả cho V. Sau đó, T đi bộ đến phòng trọ thuộc hẻm A đường T, phường Y, thành phố P để chơi với bạn là Nguyễn Thị Tuyết S. Đến 01 giờ 45 phút ngày 06/10/2024, khi T đi ra khỏi phòng trọ và đang đứng trước hẻm A đường T, phường Y, thành phố P, chờ bạn tên P (chưa xác định được họ tên, địa chỉ) để chở đi chơi thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy - Công an thành phố P phối hợp với lực lượng Công an phường Y phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng, gồm: 01 gói ma túy đã thu giữ của T, gồm: 01 gói thuốc lá hiệu Eagle (còn ô) bên trong có 01 nilon chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (đã niêm phong theo quy định); 01 điện thoại di động hiệu Huawei màu xanh, cùng sim số đã qua sử dụng, kèm thẻ sim (mặt sim có dãy số 8984-0480-0091-4601-955).

Qua xét nghiệm, xác định: Huỳnh Công Thái dương tính với ma túy loại Methamphetamine.

Tại Bản Kết luận giám định số 915/KL-KTHS ngày 15/10/2024 của Phòng K - Công an tỉnh G, kết luận: “Chất màu trắng dạng tinh thể trong 01 (một) gói nilon được niêm phong trong bì công văn (mô tả tại mục Mẫu cần giám định) là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,1915 gam”.

Chiếc điện thoại di động hiệu Huawei (kèm thẻ sim) đã thu giữ là của bị cáo T và bị cáo đã sử dụng chiếc điện thoại này liên lạc với đối tượng T3 để mua ma túy.

* Vật chứng của vụ án, gồm:

  • + Chất ma túy còn lại sau giám định trong 01 bì công văn dán kín ghi số 915/PC09, ngày 15 tháng 10 năm 2024 có dấu niêm phong của phòng K - Công an tỉnh G;
  • + 01 vỏ gói thuốc lá hiệu Eagle
  • + 01 chiếc điện thoại di động hiệu Huawei màu xanh, cùng sim số đã qua sử dụng, kèm thẻ sim (mặt sim có dãy số 8984-0480-0091-4601-955).

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như trên và không có ý kiến gì khác.

Tại bản Cáo trạng số 28/CT-VKS ngày 05 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh G truy tố bị cáo Huỳnh Công T, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Huỳnh Công T từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/10/2024.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy chất ma túy còn lại sau giám định trong 01 bì công văn dán kín ghi số 915/PC09, ngày 15 tháng 10 năm 2024 có dấu niêm phong của phòng K - Công an tỉnh G; 01 vỏ gói thuốc lá hiệu Eagle và 01 thẻ sim (mặt sim có dãy số 8984-0480-0091-4601-955). Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động hiệu Huawei màu xanh.

Về án phí: Buộc bị cáo Huỳnh Công T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đồng ý với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án.

Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

Căn cứ vào các tình tiết, chứng cứ nêu trên,

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T4, Điều tra viên thành phố P, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, Kiểm sát viên thành phố P trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:

Huỳnh Công T sử dụng ma túy từ khoảng thời gian cuối năm 2023. Khoảng 09 giờ ngày 05/10/2024, T đã gọi điện thoại cho T3 nhờ mua giúp ma túy (loại Methamphetamine) cho T với số tiền 400.000 đồng. Đến khoảng 09 giờ 15 phút cùng ngày, tại khu vực đầu hẻm S đường L, Tổ A, phường Y, TP ., tỉnh G, T3 đưa cho T 01 gói ma túy và T đã đưa cho T3 số tiền 400.000 đồng; T cầm gói ma túy này bỏ vào vỏ gói thuốc lá hiệu Eagle rồi cất giấu trong người với mục đích để sử dụng. Đến 01 giờ 45 phút ngày 06/10/2024, khi T đang đứng trước hẻm A đường T, phường Y, thành phố P, tỉnh G, chờ bạn để chở đi chơi thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy - Công an thành phố P phối hợp với lực lượng Công an phường Y phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng, gồm: 01 gói thuốc lá hiệu Eagle (còn ô) bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng và 01 điện thoại di động hiệu Huawei màu xanh (kèm thẻ sim) mà T đã dùng để liên lạc mua ma túy.

Qua giám định, xác định: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong 01 gói nilon mà Huỳnh Công T tàng trữ với mục đích để sử dụng là Methamphetamine, có khối lượng 0,1915 gam.

Hành vi tàng trữ 0,1915 gam ma tuý loại Methamphetamine, với mục đích để sử dụng, do bị cáo Huỳnh Công T thực hiện như đã nêu trên là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự trị an xã hội. Hành vi đó của Huỳnh Công T đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân thành phố P đã truy tố là đủ người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và các yếu tố khác có liên quan nhằm xác định tội phạm và hình phạt:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, cụ thể: Tại Bản án số 01/2012/HSST ngày 03/01/2012 của Tòa án nhân dân thành phố P xét xử tuyên phạt 05 năm tù về tội: “Cướp tài sản” (theo khoản 2 Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009), đã được xóa án tích; Ngày 19/12/2022, bị Công an T4 xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền (mức phạt 1.500.000 đồng) về hành vi Đánh bạc, bị cáo T chưa đóng tiền. Ngày 05/11/2024 bị Công an T4 ra Quyết định xử phạt hành chính số 000136 bằng hình thức phạt tiền (mức phạt 1.500.000 đồng) về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo T chưa đóng tiền.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Công T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền quản lý sử dụng độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo Huỳnh Công T là người có sức khỏe nhưng bị cáo đã đi vào con đường nghiện ngập sử dụng ma túy. Bản thân bị cáo nhận thức được tính nguy hiểm của việc sử dụng trái phép chất ma túy, nó không chỉ là tác nhân gây nguy hại lớn cho sức khỏe của con người khi sử dụng, người dùng sẽ gặp ảo giác, hủy hoại trí óc và cơ thể nếu ai nghiện ngập nó mà còn là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn và tội phạm xã hội khác.

Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa chung đối với tội phạm.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 03/10/2024 tại nhà nghỉ V1, thuộc phường Y, TP ., tỉnh G của Huỳnh Công T đã vi phạm vào khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP, ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực phòng, chống tệ nạn xã hội. Ngày 05/11/2024, Công an T4 đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bằng hình thức phạt tiền (1.500.000 đồng) là có cơ sở.

Đối với đối tượng tên T3 mà bị cáo T khai đã mua giúp ma túy cho T: Do bị cáo T không biết được nhân thân, lai lịch của T3; Cơ quan điều tra đã mở danh bạ, nhật ký cuộc gọi, tin nhắn trong chiếc điện thoại đã thu giữ của bị cáo, nhưng không xác định được số điện thoại của T3 và nội dung có liên quan đến việc mua bán chất ma túy; do sau khi liên lạc xong, T đã xóa nhật ký. Đối với đối tượng T2 bán ma túy cho bị cáo vào ngày 03/10/2024 tại đường N, phường H, TP ., tỉnh G: Do bị cáo khai không biết nhân thân lai lịch; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T4, đã tiến hành các biện pháp điều tra nhưng chưa xác định được T2 là ai ở đâu nên chưa có căn cứ xử lý. Đối với đối tượng V cho bị cáo mượn xe máy đi mua ma túy: Do bị cáo T không biết nhân thân lai lịch của V, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để xác minh, xử lý. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T4 tiếp tục xác minh, làm rõ đối với các đối tượng trên và xử lý sau là có cơ sở.

Đối với chị Nguyễn Thị Tuyết S không biết bị cáo T cất giấu ma túy trong người khi đến phòng trọ của chị S chơi, nên không có căn cứ xử lý chị S là có cơ sở.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Huỳnh Công T không có tài sản riêng, không đảm bảo thi hành án đối với hình phạt bổ sung là phạt tiền. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.

[5] Về xử lý vật chứng:

Đối với chất ma túy còn lại sau giám định trong 01 bì công văn dán kín ghi số 915/PC09, ngày 15 tháng 10 năm 2024 có dấu niêm phong của phòng K - Công an tỉnh G; 01 vỏ gói thuốc lá hiệu Eagle và 01 thẻ sim (mặt sim có dãy số 8984-0480-0091-4601-955). Xét vật chứng không có giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.

01 chiếc điện thoại di động hiệu Huawei màu xanh thuộc sở hữu của Huỳnh Công T. Xét vật chứng là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung Ngân sách nhà nước.

[6] Về án phí: Buộc bị cáo Huỳnh Công T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự.

- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự;

- Căn cứ Điều 106; 135; 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Công T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Công T 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/10/2024.
  3. Về vật chứng: Tuyên:
    • Tịch thu sung Ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Huawei màu xanh.
    • Tịch thu tiêu hủy: 01 bì công văn dán kín ghi số 915/PC09, ngày 15 tháng 10 năm 2024 có dấu niêm phong của phòng K - Công an tỉnh G; 01 thẻ sim (mặt sim có dãy số 8984-0480-0091-4601-955); 01 vỏ gói thuốc lá hiệu Eagle.

    Theo Biên bản V/v giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22/01/2025 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P, tỉnh G với Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T4, tỉnh G.

  4. Về án phí: Buộc bị cáo Huỳnh Công T phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
  5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 22/01/2025), bị cáo và người có quyền, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh G xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh G;
  • - Sở tư pháp tỉnh G;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh G;
  • - Cơ quan Thi hành án tỉnh G;
  • - Cơ quan điều tra - Công an thành phố P;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự - Công an thành phố Pleiku:P
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố P;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ/VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hoài Thơ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HS-ST ngày 22/01/2025 của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh G về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 20/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh G
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Công T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger