Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 20/2025/HSST

Ngày: 21 - 02 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thành.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thanh Thảo;
  2. Bà Trần Thị Vân Anh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trung Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: ông Lê Minh Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số: 17/2025/HSST ngày 17 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2025/QĐXXST-HS ngày 05/02/2025 đối với bị cáo:

La Thị T; sinh năm 1987, tại: Trà Vinh; Hộ khẩu thường trú: ấp Q, xã Q, huyện V, tỉnh Vĩnh Long; chổ ở hiện nay: không nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 04/12; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông La Văn M (chết) và bà Lưu Thị L, sinh năm 1951; chồng: không rõ; Con: 01 người sinh năm 2006.

- Nhân thân: ngày 01/11/2004 bị Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh xử phạt 06 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số: 30/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/01/2005.

- Tiền án, tiền sự: không.

- Bị bắt tạm giữ, tạm giam: ngày 07/11/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận T, TP . và có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Anh Nguyễn Văn R, sinh năm 1979; trú tại: 6 Â, phường P, quận T, TP . (Vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị Hương G, sinh năm 1993; trú tại: B P, phường A, quận G, TP . (Vắng mặt).
  2. Anh Nguyễn Chí T1, sinh năm: 1997; trú tại: D Â, phường A, quận T, TP . (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

La Thị T và anh Nguyễn Văn R có quan hệ tình cảm được khoảng 02 năm.

Khoảng 21 giờ 45 phút ngày 04/11/2024, anh R điều khiển xe máy hiệu Honda Click, màu xanh dương, biển số 59P2-471.02 chở T từ Bệnh viện quận T, số F Â, phường P, quận T đi ăn uống. Đến 23 giờ 00 cùng ngày, anh R cùng T thuê phòng số 204 khách sạn T3, số A L, phường P, quận T để ngủ.

Đến khoảng 04 giờ 10 phút ngày 05/11/2024, T ngủ dậy và nảy sinh ý định lấy trộm xe máy biển số 59P2-471.02 của anh R để bán lấy tiền trả nợ, nên T đi đến giá treo đồ gần cửa ra vào, nơi đang treo quần của anh R. Sau đó, Thủy lợi dụng anh R đang ngủ trên giường và không chú ý nên T lén lút dùng tay phải lấy ví của anh R đang để ở túi quần phía sau, rồi lấy giấy đăng ký xe máy biển số 59P2-471.02 của anh R bỏ vào túi quần bên phải của T và bỏ ví của anh R lại vị trí cũ. Tiếp đó, T lấy chìa khóa xe máy biển số 59P2-471.02 đang để trong túi quần phía trước của anh R, tiếp tục bỏ vào túi quần bên phải của T. Lúc này, T thấy anh R vẫn còn nằm ngủ nên nói xuống sảnh mua 02 chai nước rồi đi bộ xuống sảnh tầng trệt của khách sạn. Đến khoảng 04 giờ 15 phút cùng ngày, T sợ bị phát hiện nên T đi lại lên phòng 204 thấy Rồi đang thức nằm trên giường, T liền nói mua nước quên trả tiền nên lấy tiền xuống trả. Sau đó, T đi lại xuống sảnh khách sạn và nói với anh Trần Quang D (nhân viên lễ tân) cho lấy xe máy biển số 59P2-471.02 để đi mua đồ rồi T điều khiển xe chạy đi. Khoảng 04 giờ 52 phút cùng ngày, T điều khiển xe máy biển số 59P2-471.02 đến cửa hàng C, B P, Phường A, quận G gặp anh Cao Châu Tuấn K (nhân viên cửa hàng) hỏi cầm cố xe máy biển số 59P2-471.02 và nói xe của người nhà, anh K kiểm tra xe có số khung, số máy phù hợp với giấy đăng ký xe, ổ khóa xe còn nguyên nên đồng ý cầm xe với số tiền 20.000.000 đồng và giữ bản photo căn cước công dân của T. Sau đó, T đi xe ôm về nhà trọ Phan Thị T2 đường N14, khu dân cư N, xã L, huyện C, tỉnh Long An và dùng số tiền trên trả nợ 13.000.000 đồng cho anh Bùi Văn V, tiêu xài cá nhân 3.000.000 đồng. Đến ngày 05/11/2024, Công an phường P, quận T mời T làm việc và T thừa nhận đã trộm cắp xe máy biển số 59P2-471.02, tự nguyện giao nộp số tiền 4.000.000 đồng còn lại.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, La Thị T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ.

Kết luận định giá tài sản số 3042/KL-HĐĐGTS ngày 11/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận T, kết luận: 01 xe gắn máy nhãn hiệu Honda loại Click, màu xanh dương, biển số 59P2-471.02, số máy JF350E0339247, số khung MLHJF3507G5339247, số máy JF350E0339247, đã qua sử dụng, thời điểm định giá ngày 05/11/2024, trị giá 55.800.000 đồng.

Vật chứng thu giữ:

  • 01 xe máy hiệu Honda Click, màu xanh dương, biển số 59P2-471.02.
  • 01 quần jeans màu xanh, 01 áo thun ngắn tay màu xanh, 01 nón bảo hiểm màu đen, đều đã qua sử dụng. Đây là trang phục La Thị T sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội.
  • 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 13 Pro, số Imei 1: 863720074955062, số Imei 2: 863720074955070, đã qua sử dụng. Đây là điện thoại di động La Thị T sử dụng cá nhân.
  • Số tiền 4.000.000 đồng. Đây là số tiền còn lại mà La Thị T cầm cố xe máy biển số 59P2-471.02 có được.

Các vật chứng còn lại đang nhập kho vật chứng theo Lệnh nhập kho vật chứng số 1820/LNK-ĐTTH ngày 06/12/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T. (BL 59)

Về dân sự: Anh Nguyễn Văn R đã nhận lại xe máy biển số 59P2-471.02, không yêu cầu bồi thường dân sự (BL 110). Chị Nguyễn Thị Hương G (chủ tiệm C1) không yêu cầu bồi thường số tiền 20.000.000 đồng đã cầm cố xe máy biển số 59P2-471.02 cho La Thị T (BL 155).

Tại bản cáo trạng số: 37/CT-VKSQ.TP ngày 15 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP . đã truy tố bị cáo La Thị T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên Tòa:

- Sau khi kết thúc phần thủ tục xét hỏi, Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa, phát biểu ý kiến giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo La Thị T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý phần trách nhiệm dân sự và vật chứng.

Bị cáo La Thị T thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của người bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Nên đã có đủ cơ sở để xác định: khoảng 04 giờ 10 phút, ngày 05/11/2024, tại khách sạn T3, số A L, phường P, quận T, La Thị T đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 xe máy hiệu Honda Click, màu xanh dương, biển số 59P2-471.02, trị giá 55.800.000 đồng của anh Nguyễn Văn R, thì bị phát hiện.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP . đã truy tố bị cáo La Thị T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có cơ sở, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự ở địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt tù về hành vi trộm cắp tài sản, nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân, bị cáo lại tiếp tục phạm tội, chứng tỏ bị cáo xem thường pháp luật. Vì vậy, cần thiết phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả do bị cáo gây ra mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Tình tiết tăng nặng: không.

[5] Xét tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; tài sản đã được thu hồi và trao trả cho người bị hại, nên hành vi phạm tội gây thiệt hại không lớn là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

- Anh Nguyễn Văn R đã nhận lại xe máy biển số 59P2-471.02, không yêu cầu bồi thường dân sự (BL 110). Chị Nguyễn Thị Hương G (chủ tiệm C1) không yêu cầu bồi thường số tiền 20.000.000 đồng đã cầm cố xe máy biển số 59P2-471.02 cho La Thị T, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 xe máy hiệu Honda Click, màu xanh dương, biển số 59P2-471.02, số máy JF350E0339247, số khung MLHJF3507G5339247, số máy JF350E0339247, đã qua sử dụng, không bị đục lại số máy và số khung (BL 26). Đây là xe máy của anh Nguyễn Văn R bị La Thị T chiếm đoạt.

Qua xác minh, xe máy trên do anh Nguyễn Chí T1, địa chỉ D Â, Phường A, quận T đứng tên chủ sở hữu (BL 129). Qua làm việc, anh Nguyễn Chí T1 trình bày mua xe máy trên vào năm 2017 với giá 55.000.000 đồng, sử dụng đến năm 2020 bán lại cho anh Nguyễn Văn R (chú ruột của anh T1) với giá 40.000.000 đồng nhưng chưa làm thủ tục sang tên (BL 133), nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe máy trên cho anh Nguyễn Văn R là phù hợp.

- Đối với 01 quần jeans màu xanh, 01 áo thun ngắn tay màu xanh, 01 nón bảo hiểm màu đen, đều đã qua sử dụng. Đây là trang phục La Thị T sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội. Xét không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 13 Pro, số Imei 1: 863720074955062, số Imei 2: 863720074955070, đã qua sử dụng. Đây là điện thoại di động La Thị T sử dụng cá nhân. Xét không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần tuyên trả lại cho bị cáo.

- Đối với số tiền 4.000.000 đồng. Đây là số tiền còn lại mà La Thị T cầm cố xe máy biển số 59P2-471.02 có được. Cần tuyên trả lại cho bị cáo.

[8] Án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: bị cáo La Thị T phạm tội "Trộm cắp tài sản".
  2. Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  3. Xử phạt: bị cáo La Thị T 03 (Ba) năm tù.
  4. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam: ngày 07/11/2024.

  5. Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 quần jeans màu xanh, 01 áo thun ngắn tay màu xanh, 01 nón bảo hiểm màu đen.
    • - Trả lại cho bị cáo La Thị T: 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 13 Pro, số Imei 1: 863720074955062, số Imei 2: 863720074955070, đã qua sử dụng; số tiền 4.000.000 đồng.

    Hiện đang nhập kho theo phiếu nhập kho vật chứng số 1820/LNK-ĐTTH ngày 06/12/2024 của Cơ quan Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp Công an quận T, TP ..

  6. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
  7. - Buộc bị cáo La Thị T phải nộp: 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  8. Về quyền kháng cáo: Bị cáo La Thị T có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Q.Tân Phú;
  • - THADS quận Tân Phú;
  • - Công an Q. Tân Phú;
  • - Công an TP. Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp TP . HCM;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Đức Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HSST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 20/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger