Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẢO LỘC

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/HS-ST

Ngày: 25-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Đình Tú.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Khắc Quế; bà Dương Thị Tố Như.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dự - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thông - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc (TP. Bảo Lộc), tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2025/HSST ngày 10 tháng 01 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đỗ Tấn H; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh năm: 1989; tại: Tỉnh Quảng Ngãi; nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Đỗ Tấn B và bà: Ngô Thị T; vợ: Nguyễn Thị Phương T1 và có 02 con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 19/10/2024 đến nay, có mặt.

Bị hại: Ông Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1965 và bà Đào Thị Thu H1, sinh năm 1970; địa chỉ: Số nhà B đường P, Phường H, TP ., Lâm Đồng, vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Ông Nguyễn Khắc Đ, sinh năm 1993; địa chỉ: Tổ A, phường L, TP ., Lâm Đồng; vắng mặt.
  • - Ông Vũ Đình T2, sinh năm 1983; địa chỉ: Số nhà I đường L, Phường A, TP ., Lâm Đồng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty Cổ phần Đ1 có trụ sở chính tại số A, đường L, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng do Đỗ Tấn H là người đại diện theo pháp luật được thành lập vào ngày 13/10/2021 với ngành nghề chính là kinh doanh, môi giới bất động sản. Năm 2021, Nguyễn Khắc Đ là Giám đốc Công ty Cổ phần Đ2, địa chỉ tại: Lô I, Trung tâm thương mại P, đường N, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng có thỏa thuận bằng miệng về việc H được quyền nhận tiền giữ chỗ của khách hàng có nhu cầu mua đất dự án X tại xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Nguồn gốc đất của dự án như sau: Vào khoảng đầu năm 2021, anh Vũ Đình T2, nơi cư trú: Số nhà I, đường L, Phường A, thành phố B mua lại khu dân cư Xavia của ông Lê Ngọc T3, nơi cư trú: Thôn C, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Thời gian này ông T3 đang tiến hành xây dựng đường đi và làm thủ tục phân lô tách thành nhiều thửa, mỗi thửa có diện tích khoảng 100 m². Ông T3 đưa cho T2 xem bản đồ quy hoạch khu dân cư X và nói khoảng 06 tháng nữa sẽ hoàn tất thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi hai bên lập hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng, anh T2 đưa bản đồ quy hoạch khu dân cư Xavia cho Nguyễn Khắc Đ để chào bán cho khách hàng. Sau đó, dựa vào bản đồ quy hoạch khu dân cư Xavia của T2 thì Đ tiến hành xây dựng bản quy hoạch phân khu X (phối cảnh công trình sau khi hoàn thiện), trong đó thể hiện vị trí của toàn bộ 147 thửa đất sẽ được tách và cấp giấy chứng nhận. Sau khi xây dựng bản quy hoạch phân khu dân cư X, Đ thỏa thuận miệng với H về việc H được quyền phân phối và giới thiệu bán đất nền trong khu dân cư trên, tức là H được quyền nhận tiền đặt giữ chỗ của người mua đất số tiền là 50.000.000 đồng, trong thời gian 24 giờ kể từ khi nhận tiền đặt giữ chỗ thì H phải thông báo và chuyển ngay số tiền này cho Công ty Đ3 biết để xác nhận. Sau đó, H in lôgô Công ty PNJ REAL vào bản quy hoạch phân khu Xavia rồi đăng tin quảng cáo chào bán đất nền trên các trang mạng xã hội như facebook, zalo ... Đến khoảng tháng 4/2022, ông Nguyễn Ngọc L cùng vợ là bà Đào Thị Thu H1 tìm hiểu trên mạng thì thấy Công ty Cổ phần Đ1 đăng tin quảng cáo bán đất nền tại dự án X nên đặt giữ chỗ một thửa đất tại khu đất có ký hiệu số 2 trong bản quy hoạch. Vào ngày 23/4/2022, bà H1 chuyển số tiền 10.000.000 đồng đến số tài khoản 0281000487570 của ngân hàng V mang tên Đỗ Tấn H. Đến ngày 26/4/2022, bà H1 tiếp tục chuyển số tiền 40.000.000 đồng cho H để hoàn tất việc đặt giữ chỗ, đồng thời hai bên thỏa thuận trong thời gian 01 tháng kể từ ngày đặt tiền giữ chỗ thì sẽ tiến hành công chứng mua bán. Tuy nhiên, sau khi nhận số tiền 50.000.000 đồng đặt giữ chỗ của vợ chồng ông L thì H không thông báo và chuyển tiền đặt giữ chỗ cho Công ty Đ3 như nội dung thỏa thuận ban đầu với Đ mà tự ý tiêu xài cá nhân hết. Khi đến hạn công chứng như hai bên đã thỏa thuận thì H lại thông báo cho vợ chồng ông L là thửa đất vợ chồng ông L mua chưa có giấy chứng nhận nên hẹn đến khi có sổ sẽ tiến hành công chứng mua bán sau. Đến ngày 21/8/2022, ông L đến gặp thì H nói với ông L, H là chủ dự án khu dân cư Xavia, đồng thời H cho biết thửa đất ông L chọn đặt giữ chỗ sẽ lâu có sổ đỏ và tư vấn cho ông L chọn một thửa đất có ký hiệu số 5 trong Bản quy hoạch phân khu. Để tạo thêm niềm tìn với ông L, H còn tự ý thỏa thuận thêm nếu ông L đồng ý mua thì sẽ chuyển số tiền đặt giữ chỗ thành tiền đặt cọc, nếu ông L không đồng ý mua thì H sẽ hoàn trả lại tiền mà ông L đã đặt giữ chỗ. Do tin tưởng H nên ông L đồng ý chọn mua thửa đất có ký hiệu A16 với diện tích 105,69 m2 trong khu dân cư Xavia, lúc này H nói cho ông L biết thửa đất có ký hiệu A16 đang trong quá trình tách thửa và giá trị chuyển nhượng là 750.000.000 đồng. Sau đó H và ông L tiến hành lập Văn bản thỏa thuận thanh toán theo tiến độ vào ngày 21/8/2022 với nội dung ông L thanh toán theo tiến độ cho Công ty Đ1 để giữ giá của thửa đất ký hiệu A16 làm 05 đợt, cụ thể:

  • Đợt 1: Ngay sau khi hai bên ký kết Văn bản thỏa thuận, ông L sẽ đặt giữ giá nền đất ký hiệu A16 cho Công ty Đ1 số tiền 100.000.000 đồng (trong đó bao gồm cả số tiền giữ chỗ ban đầu là 50.000.000 đồng).
  • Đợt 2: Từ ngày 21/8/2022 đến ngày 28/8/2022, ông L thanh toán số tiền 127.000.000 đồng cho Công ty Đ1.
  • Đợt 3: Vào ngày 27/9/2022, ông L thanh toán số tiền 190.500.000 đồng cho Công ty Đ1.
  • Đợt 4: Ngày 12/10/2022, ông L thanh toán số tiền 304.800.000 đồng cho Công ty Đ1.
  • Đợt 5: Sau khi có sổ đỏ, ông L thanh toán số tiền 12.700.000 đồng cho Công ty Đ1 và nhận sổ tại trụ sở Công ty Đ1.

Như vậy, ngày 21/8/2022, bà H1 chuyển cho H số tiền 50.000.000 đồng cùng với số tiền 50.000.000 đồng chuyển từ tiền đặt giữ chỗ sang, tổng cộng là 100.000.000 đồng để hoàn tất tiền thanh toán đợt 1 cho Công ty Đ1. Đến ngày 27/8/2022, bà H1 chuyển cho H số tiền 100.000.000 đồng và ngày 28/8/2022 bà H1 chuyển cho H số tiền 27.000.000 đồng. Ngày 26/9/2022, bà H1 chuyển cho H 02 lần với tổng số tiền là 190.000.000 đồng. Đến ngày 10/11/2022 tại trụ sở Công ty Đ1, H và ông L tiến hành lập Phụ lục hợp đồng với nội dung tổng số tiền H đã nhận của ông L là 417.000.000 đồng, trong đó 100.000.000 đồng là tiền đặt giữ giá và 317.000.000 đồng là tiền thanh toán theo tiến độ. H thỏa thuận với ông L đến ngày 20/12/2022, H sẽ thông báo cho ông L để tiến hành công chứng. Trong trường hợp không tiến hành công chứng thửa đất ký hiệu A16 cho ông L thì H sẽ hoàn trả lại gấp đôi số tiền để giữ giá là 200.000.000 đồng, hoàn trả lại số tiền 317.000.000 đồng mà ông L đã thanh toán theo tiến độ và 100.000.000 đồng tiền lãi của số tiền 317.000.000 đồng. Tuy nhiên, đến nay H vẫn chưa trả lại số tiền trên cho vợ chồng ông L. Toàn bộ số tiền đã nhận của vợ chồng ông L, H đã sử dụng cho mục đích tiêu xài cá nhân.

Tại Bản kết luận giám định số 410/KL-KTHS ngày 16/4/2024 của Phòng K - Công an tỉnh L kết luận:

  • - Chữ ký, chữ viết ghi họ tên Nguyễn Ngọc L trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1 so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Ngọc L trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1, M2, M3 là do cùng một người ký và viết ra.
  • - Chữ ký, chữ viết ghi họ tên Đỗ Tấn H trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1, A2 so với chữ ký, chữ viết của Đỗ Tấn H trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M4, M5, M6 là do cùng một người ký và viết ra.

Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố B không thu giữ vật chứng gì.

Về trách nhiệm dân sự: Vợ chồng ông Nguyễn Ngọc L yêu cầu bị cáo H hoàn trả lại số tiền 417.000.000 đồng.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã nêu, không thắc mắc khiếu nại gì đối với nội dung bản cáo trạng thấy đúng với hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.

Bản Cáo trạng số 20/CT-VKSBL ngày 06 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân TP. Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Đỗ Tấn H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo H từ 10 đến 11 năm tù và đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Buộc bị cáo H có nghĩa vụ trả lại số tiền đã nhận của bị hại là 417.000.000 đồng và phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân TP. Bảo Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về căn cứ xác định tội: Đỗ Tấn H biết rõ khu dân cư Xavia không phải là dự án khu dân cư do Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp cho cá nhân, tổ chức xây dựng mà do cá nhân tự làm thủ tục phân lô, tách thửa để bán đất nền. Để có tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân nên trong năm 2022, tại thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, Đỗ Tấn H đã thực hiện hành vi đưa ra thông tin gian dối H là chủ dự án khu dân cư Xavia tại xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng, có quyền bán các thửa đất nền trong dự án và được quyền nhận tiền thanh toán theo tiến độ của khách hàng để vợ chồng ông Nguyễn Ngọc L và bà Đào Thị Thu H1 tin tưởng chuyển tiền thanh toán các đợt qua tài khoản cho H với tổng số tiền là 417.000.000 đồng. Đối chiếu lời khai của bị cáo, bị hại, người làm chứng có đủ căn cứ khẳng định hành vi của bị cáo H đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015.
  3. Về tính chất mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác thể hiện thái độ coi thường pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần áp dụng cho bị cáo một hình phạt nghiêm khắc để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
  4. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt. Xét cần thiết cách ly bị cáo H ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tính răn đe, giáo dục.
  5. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Ông Nguyễn Ngọc L và bà Đào Thị Thu H1 yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đã nhận là 417.000.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo H chấp nhận trả số tiền 417.000.000 đồng và tự nguyện trả thêm số tiền 200.000.000 đồng bồi thường thiệt hại cho bị hại, tổng cộng là 617.000.000 đồng. Đây là sự tự nguyện của bị cáo phù hợp với quy định của pháp luật Hội đồng xét xử ghi nhận.
  6. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
  7. Về án phí: Buộc bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Tấn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Đỗ Tấn H 09 (Chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/10/2024.

  1. Phần dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 590 Bộ luật dân sự buộc bị cáo H có nghĩa vụ trả lại cho ông Nguyễn Ngọc L và bà Đào Thị Thu H1 số tiền đã chiếm đoạt là 417.000.000 đồng (Bốn trăm mười bảy triệu đồng) và 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) tiền bồi thường thiệt hại; tổng hai khoản là 617.000.000 đồng (Sáu trăm mười bảy triệu đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  1. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết số 326 của Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 28.680.000 đồng (Hai mươi tám triệu sáu trăm tám mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo, bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc ngày niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - Sở tư pháp;
  • - VKSND TP. Bảo Lộc;
  • - Công an T;
  • - Nhà tạm giữ;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Chi cục T.H.A dân sự T5;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Trịnh Đình T4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 20/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: XX
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger