|
TÒA ÁN ND HUYỆN NGA SƠN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 20/2025/HSST Ngày: 19-6-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Văn Hạnh; bà Trịnh Thị Yến.
Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đình Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 19/6/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2025/TLST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-HS ngày 06/6/2025 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn N - sinh năm 1990, tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; CCCD số: [...]; KHTT: Thôn K, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị T; chưa có vợ con; tiền sự: Không; tiền án:
- + Tại bản án số 52/2014/HSST ngày 28/4/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, TP . xử phạt 40 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong án phạt tù ngày 24/01/2017.
- + Tại bản án số 02/2019/HSST ngày 22/01/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 12/01/2020.
- + Tại bản án số 43/2020/HSST ngày 23/7/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, hấp hành xong án phạt tù ngày 12/05/2023.
Nhân thân: Ngày 30/08/2018, Công an huyện H xử phạt vi phạm hành chính (hình thức phạt tiền 1.500.000đ) về hành vi “Trộm cắp tài sản", đã nộp phạt xong ngày 14/9/2018.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/3/2025 đến ngày 22/3/2025, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T - Có mặt.
2. Đồng Văn D - Sinh năm 1996, tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; CCCD số: [...]; KHTT: Thôn K, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đồng Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2; có vợ là Nguyễn Thị T3 và có 02 con; tiền án: Không;
Tiền sự: Năm 2022, đi cai nghiện bắt buộc 02 năm tại Trung tâm C, tỉnh Thanh Hoá. Chấp hành xong ngày 30/5/2024.
Nhân thân: Tại bản án số 45/2019/HSST ngày 21/06/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Hà Trung xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong bản án ngày 19/09/2020.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/3/2025 đến ngày 22/3/2025, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T - Có mặt.
- Bị hại:
1/ Ông Nguyễn Tùng D1 – sinh năm 1942; địa chỉ: Thôn X, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Chị Nguyễn Thị V - Sinh năm 1976 - Địa chỉ: Thôn X, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (ông Nguyễn Tùng D1 ủy quyền trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử). Vắng mặt.
2/ Bà Mai Thị L - Sinh năm 1956 - Địa chỉ: Thôn D, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
- Người tham gia tố tụng khác: Người làm chứng: Chị Hoàng Thị H1 - Sinh năm 1977 - Địa chỉ: Thôn B, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền nên ngày 14/3/2025, Nguyễn Văn N sinh năm 1990 ở thôn K, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản. Khoảng 09h00′ cùng ngày, N đến nhà chị Nguyễn Thị L1 (chị gái) ở cùng thôn hỏi mượn chiếc xe máy HALIM màu trắng bạc, biển kiểm soát 36AA-22477 để đi có việc. Mượn được xe, N đi đến các xã, khu vực huyện L tìm nhà dân sơ hở, không có người ở nhà trông coi để trộm cắp. Đến khoảng 14h00' cùng ngày, N đi qua nhà ông Nguyễn Tùng D1 ở thôn X, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa thì nhìn thấy cửa cổng khoá, tường rào thấp, N dựng xe ngoài đường rồi trèo tường vào lấy 01 thanh sắt dài khoảng 40cm màu đen ở hè, cậy phá khoá cửa chính rồi đi vào trong nhà lấy 01 (một) tivi LG màu đen, loại 43 inch; 01 (một) bình ắc quy nhãn hiệu Enimac - N100, loại 12V – 100AH và 01 bình ắc quy nhãn hiệu XUPAI, loại 12V - 20AН kèm một bộ sạc ắc quy nhãn hiệu Hưng Thịnh Phát để cạnh kệ ti vi; 01 (một) cuộn dây điện nhãn hiệu TACHI màu vàng, dài 30 mét; 01 (một) bếp từ nhãn hiệu SHARP màu đen; 01 (một) phong bì để trong túi nilong, bên trong có 01 tờ tiền 100.000₫ để trên bàn thờ.
Lấy được tài sản, N đưa ra qua tường, bọc chiếc ti vi vào túi nilong màu đen, còn các tài sản khác N cho vào bì xác rắn chuẩn bị trước rồi buộc lên xe đi tìm nơi tiêu thụ. Khi đi qua nhà chị Hoàng Thị H1 thu mua phế liệu ở thôn B, xã N, huyện N, N vào nhà hỏi chị H1 “có mua tivi, bình ắc quy, bếp từ, dây điện cũ không”, chị H1 hỏi đồ này ở đâu mà có, N trả lời “đồ cũ trong nhà, do chuyển nhà nên đem bán”. Chị H1 đồng ý mua với giá 1.150.000đ. Đến ngày 15/3/2025, chị H1 bán chiếc tivi LG màu đen, loại 43 inch cho một người phụ nữ thu mua đồng nát không rõ lai lịch với giá 300.000đ. Số tiền có được do trộm cắp là 1.250.000đ Ngọ chi tiêu cá nhân hết.
Đến khoảng 12h00' ngày 17/3/2025, Nguyễn Văn N gọi điện rủ bạn là Đồng Văn D, sinh năm 1996 ở cùng thôn đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền chi tiêu. D đồng ý điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu xám biển kiểm soát 36AK-00715 đến đón N, rồi cả hai đi sang khu vực huyện N tìm các nhà dân đi vắng để đột nhập vào trong trộm cắp tài sản. Khi đi đến nhà bà Mai Thị L ở thôn D, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, D phát hiện cửa cổng khoá, không có ai ở nhà, xung quanh không có người nên D dừng xe lại để đứng ngoài cảnh giới, còn N trèo tường vào trong thấy cửa nhà chỉ chốt mà không có khoá, nên N mở chốt vào trong nhà lấy 01 tivi Samsung màu đen, loại 43 inch để phòng khách, đưa qua tường ra ngoài cho D đỡ, rồi trèo tường ra ngoài, lên xe đi đến nhà chị Hoàng Thị H1 thu mua phế liệu ở thôn B, xã N, N. Ngọ mang ti vi vào bán, chị H1 xem và hỏi “ti vi ở đâu sao lại đem bán”, N nói “ti vi này là của nhà thằng bạn cháu đi cùng, do đợt này thời tiết ẩm, ti vi không lên hình, nên mới đem bán”. Chị H1 đồng ý mua chiếc ti vi với giá 1.200.000đ. Số tiền bán được ti vi N và D cùng nhau chi tiêu hết.
Sau khi chị L về nhà, phát hiện chiếc ti vi bị mất nên đã làm đơn báo cáo Công an xã N.
Đến ngày 18/3/2025, Nguyễn Văn N và Đồng Văn D đến Công an tỉnh T đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội.
Cùng ngày, chị Hoàng Thị H1 đã tự nguyện giao nộp tài sản chị đã mua của N và D gồm: 01 (một) ti vi nhãn hiệu Samsung màu den, Model UA3RU7200K, kích thước 43 inch đã qua sử dụng; 01 (một) bình ắc quy nhãn hiệu Enimac - N100, loại 12V-100AH đã qua sử dụng; 01 (một) bình ắc quy nhãn hiệu XUPAI, loại 12V – 20AH đã qua sử dụng; 01 (một) bộ sạc ác quy nhãn hiệu Hưng Thịnh P đã qua sử dụng; 01 (một) cuộn dây điện nhãn hiệu TACHI màu vàng, dài 30 mét đã qua sử dụng; 01 (một) bếp từ (bếp điện) nhãn hiệu SHARP màu đen, số Model KS-390D đã qua sử dụng. Đối với chiếc ti vi LG màu đen của gia đình ông D1, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã truy tìm nhưng không thấy.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của chị H1, N và D nhưng không thu giữ được vật gì liên quan đến tội phạm.
Ngày 19/3/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã ban hành yêu cầu định giá tài sản số 2496/YC-CSHS yêu cầu Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện N định giá số tài sản mà N và D đã trộm cắp nhà ông Nguyễn Tùng D1 và nhà bà Mai Thị L.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 21/3/2025 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện N kết luận: 01 (một) ti vi LG màu đen, Seri 43UN70, kích thước 43 inch đã qua sử dụng trị giá 1.800.000đ; 01 (một) bình ắc quy nhãn hiệu Enimac - N100, loại 12V-100AH đã qua sử dụng trị giá 800.000đ; 01 (một) bình ắc quy nhãn hiệu XUPAI, loại 12V – 20AH đã qua sử dụng trị giá 420,000đ; 01 (một) bộ sạc ắc quy nhãn hiệu Hưng Thịnh P đã qua sử dụng trị giá 100.000đ; 01 (một) cuộn dây điện nhãn hiệu TACHI màu vàng, dài 30 mét đã qua sử dụng trị giá 150.000đ; 01 (một) bếp từ (bếp điện) nhãn hiệu SHARP màu đen, số Model KS- 390D đã qua sử dụng trị giá 280.000đ; 01 (một) ti vi nhãn hiệu Samsung màu den, Model UA3RU7200K, kích thước 43 inch đã qua sử dụng trị giá 2.500.000đ. Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 6.050.000đ (sáu triệu không trăm năm mươi nghìn đồng), gồm tài sản Ngọ trộm cắp của gia đình ông Nguyễn Tùng D1 là 3.550.000đ; tài sản N và D trộm cắp của gia đình bà Mai Thị L là 2.500.000₫.
Sau khi phục vụ cho việc định giá tài sản, ngày 15/5/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đã trả lại cho chị Nguyễn Thị V (là con gái được ông D2 uỷ quyền): 01 (một) bình ắc quy nhãn hiệu Enimac - N100, loại 12V-100AH đã qua sử dụng; 01 (một) bình ắc quy nhãn hiệu XUPAI, loại 12V – 20AH đã qua sử dụng; 01 (một) bộ sạc ắc quy nhãn hiệu Hưng Thịnh P đã qua sử dụng; 01 (một) cuộn dây điện nhãn hiệu TACHI màu vàng, dài 30 mét đã qua sử dụng; 01 (một) bếp từ nhãn hiệu SHARP màu đen, số Model KS-390D đã qua sử dụng. Sau khi nhận lại tài sản, chị V yêu cầu N phải bồi thường chiếc ti vi trị giá 1.800.000₫ và số tiền 100.000đ; trả lại cho bà Mai Thị L 01 (một) ti vi nhãn hiệu Samsung màu den, Model UA3RU7200K, kích thước 43 inch đã qua sử dụng. Sau khi nhận lại tài sản bà L không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
Từ những hành vi trên, Cáo trạng số 17/CT-VKSNS ngày 29/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Nguyễn Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của BLHS; Đồng Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của BLHS.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX áp dụng:
- - Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 BLHS để xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 36 tháng đến 40 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 19/3/2025.
- - Điểm khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 BLHS để xử phạt bị cáo Đồng Văn D từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 19/3/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 48 BLHS: Buộc bị cáo Nguyễn Văn N bồi thường giá trị chiếc ti vi là 1.800.000₫ và số tiền 100.000đ, tổng cộng là 1.900.000đ cho ông Nguyễn Tùng D1. Còn đối với bà L đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm, nên miễn xét.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của KSV, của các bị cáo và những người tham gia tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thu thập đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, Điều tra viên cũng như Kiểm sát viên đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ mà pháp luật quy định. Các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố là hợp pháp được chấp nhận để làm cơ sở giải quyết vụ án.
[2] Về tội danh:
Khoảng 14h00” ngày 14/3/2025, lợi dụng lúc gia đình ông Nguyễn Tùng D1 ở thôn X, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vắng nhà, Nguyễn Văn N đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp 01 (một) ti vi LG màu đen; 01 (một) bình ắc quy nhãn hiệu Enimac - N100; 01 (một) bình ắc quy nhãn hiệu XUPAI; 01 (một) bộ sạc ắc quy nhãn hiệu Hưng Thịnh Phát; 01 (một) cuộn dây điện nhãn hiệu TACHI màu vàng, dài 30 mét; 01 (một) bếp từ (bếp điện) nhãn hiệu SHARP màu đen đã qua sử dụng, có giá trị 3.550.000₫ và tiền mặt là 100.000đ. Tổng số tiền N trộm cắp được là 3.650.000đ (ba triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng).
Đến ngày 17/3/2025, N rủ Đồng Văn D đến nhà bà Mai Thị L ở thôn D, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa trộm cắp 01 (một) ti vi nhãn hiệu Samsung màu den, Model UA3RU7200K, kích thước 43 inch đã qua sử dụng, có giá trị 2.500.000₫ (hai triệu năm trăm nghìn đồng).
HĐXX xét thấy, bị cáo Nguyễn Văn N trộm cắp 02 lần tổng giá trị là 6.150.000đ (đều dưới 50.000.000₫) nhưng thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm” chưa được xoá án tích mà lại tiếp tục phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này của N thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm”. Do đó, Nguyễn Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của BLHS; Đồng Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của BLHS. Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa truy tố các bị cáo là đúng người, đúng pháp luật.
[2] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo:
Bị cáo Nguyễn Văn N một mình thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của nhà ông Nguyễn Tùng D1 nên phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi này. Còn hành vi trộm cắp tài sản của gia đình bà Mai Thị L, các bị cáo cùng thực hiện nhưng không có sự bàn bạc, câu kết chặt chẽ nên chỉ là đồng phạm giản đơn, trong đó, Nguyễn Văn N là người khởi xướng và thực hành tích cực, còn Đồng Văn D là người giúp sức.
Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu của công dân, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây tâm lý hoang mang và dư luận xấu trong quần chúng nhân dân địa phương. Để pháp luật được tôn trọng, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm và duy trì, để giáo dục người phạm tội, đấu tranh phòng ngừa tội phạm, nhất là loại tội phạm trộm cắp nên hành vi phạm tội của các bị cáo cần được xử lý nghiêm theo quy định của Bộ luật hình sự.
[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS):
Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân xấu.
Về tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS đó là "phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo Đồng Văn D phạm tội không có tình tiết tăng nặng TNHS.
Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đầu thú được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Về hình phạt:
Đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, xem xét yếu tố nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ TNHS như đã phân tích, HĐXX xét thấy cần lên cho các bị cáo mức án tương xứng với vai trò, tính chất, mức độ phạm tội mà các bị cáo phạm phải. Các bị cáo đều có nhân thân xấu. Bị cáo N là người khởi xướng và thực hành tích cực, phạm tội 02 lần, bị cáo phạm tội chưa được xóa án tích và lần phạm tội này của N thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm” nên bị cáo N phải chịu mức hình phạt theo khoản 2 Điều 173 BLHS, còn bị cáo D phải chịu mức hình phạt theo khoản 1 Điều 173 BLHS. Do vậy, cần xử phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên, cần cân nhắc đến các tình tiết giảm nhẹ nêu trên để quyết định mức hình phạt đối với các bị cáo cho phù hợp với quy định của pháp luật để thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội.
Hình phạt bổ sung: Các bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Cơ quan CSĐT đã trả lại cho ông Nguyễn Tùng D1 (người đại diện theo ủy quyền là chị Nguyễn Thị V) các tài sản sau: 01 (một) bình ắc quy nhãn hiệu Enimac - N100, loại 12V-100AH đã qua sử dụng; 01 (một) bình ắc quy nhãn hiệu XUPAI, loại 12V – 20AH đã qua sử dụng; 01 (một) bộ sạc ắc quy nhãn hiệu Hưng Thịnh P đã qua sử dụng; 01 (một) cuộn dây điện nhãn hiệu TACHI màu vàng, dài 30 mét đã qua sử dụng; 01 (một) bếp từ nhãn hiệu SHARP màu đen, số Model KS-390D đã qua sử dụng. Còn 01 (một) ti vi LG màu đen, Seri 43UN70, kích thước 43 inch đã qua sử dụng trị giá 1.800.000đ, không truy tìm được và số tiền 100.000đ, ông D1 yêu cầu bị cáo N phải bồi thường. Do đó, cần buộc bị cáo N phải bồi thường tổng số tiền cho ông D1 là 1.900.000đ (một triệu chín trăm nghìn đồng).
Cơ quan CSĐT đã trả lại cho bà Mai Thị L 01 (một) ti vi nhãn hiệu Samsung màu den, Model UA3RU7200K, kích thước 43 inch đã qua sử dụng. Sau khi nhận lại tài sản bà L không có yêu cầu bồi thường gì thêm, nên miễn xét.
Số tiền chị Hoàng Thị H1 mua tài sản của bị cáo N và bị cáo D, chị H1 không yêu cầu các bị cáo phải hoàn trả lại, nên miễn xét.
[6] Về tình tiết khác có liên quan đến vụ án:
Đối với chị Hoàng Thị H1 không biết số tài sản chị mua là do N và D trộm cắp. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T không xử lý là phù hợp.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HALIM, biển kiểm soát 36AA-22477 Nguyễn Văn N sử dụng để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Quá trình điều tra xác định, chủ sở hữu hợp pháp là chị Nguyễn Thị L1 (chị gái của N). Sáng ngày 14/3/2025, N hỏi mượn xe của chị L1 và nói đi có việc, chị L1 không biết việc N sử dụng để đi trộm cắp tài sản, nên Cơ quan điều tra không thu giữ là phù hợp.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển kiểm soát 36AK-00715, Đồng Văn D sử dụng chở N đi trộm cắp tài sản, chủ sở hữu là anh Đồng Văn S, trú tại thôn K, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa (em trai D), hiện anh S đang cai nghiện tại Trung tâm C, tỉnh Thanh Hóa. Quá trình điều tra xác định, chiếc xe trên do ông Đồng Văn T1 (bố đẻ của N) quản lý, sử dụng. Trưa ngày 17/3/2025, D mượn ông T1 để đi chơi, ông T1 không biết D sử dụng xe để đi trộm cắp tài sản, nên Cơ quan điều tra không thu giữ xe và xử lý trả lại cho ông T1 là đúng quy định.
[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 BLHS đối với bị cáo Nguyễn Văn N;
- - Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 BLHS đối với bị cáo Đồng Văn D.
- Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn N và Đồng Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản".
- Xử phạt:
- - Bị cáo Nguyễn Văn N 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 19/3/2025.
- - Bị cáo Đồng Văn D 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 19/3/2025.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 BLHS; Điều 357, Điều 468, Điều 584, Điều 585, khoản 1 Điều 586, Điều 589 BLDS: Buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải bồi thường cho ông Nguyễn Tùng D1 tổng số tiền là 1.900.000₫ (một triệu chín trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, ông D1 có đơn thi hành án, nếu bị cáo N chưa thi hành án thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất suất quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS.
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 21; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo Nguyễn Văn N và Đồng Văn D mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí HSST; bị cáo Nguyễn Văn N phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí DSST.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 BLTTHS: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; các bị hại, người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Tùng D1 có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật THADS thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật THADS; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật THDS.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Thị Thủy |
Bản án số 20/2025/HSST ngày 19/06/2025 của Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 20/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn N xử phạt 36 tháng tù theo điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS; Đồng Văn D xử phạt 12 tháng từ theo khoản 1 Điều 173 BLHS
