Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN THỦY

TỈNH HOÀ BÌNH

Bản án số: 20/2025/HSST

Ngày: 17/6/2025.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THỦY, TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hảo

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Đào và bà Bùi Thị Phi

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Lê Hiệp Thương - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 12 tháng 6 năm và 17 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2025/TLST - HS ngày 23 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 17/2025/QĐXXST - HS ngày 30 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Xuân H

(tên gọi khác Nguyễn Thiện H1), sinh ngày 12/6/1974, tại huyện G, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Số nhà A, phố M, thị trấn T, huyện G, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân L, sinh năm 1945 (đã chết) và bà Phạm Thị L1, sinh năm 1948; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị T, sinh năm 1992 và có 01 con Nguyễn Ánh N, sinh năm 2023;

Tiền án: Ngày 15/12/1999, Nguyễn Xuân H bị Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xử phạt 04 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, phạt bổ sung 15.000.000 đồng tại bản án số 108/HSST ngày 15/12/1999. Tính đến ngày 25/12/2024 bị cáo chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung và chưa nộp án phí.

Tiền sự: Không

Nhân thân của bị cáo:

- Ngày 16/9/2005, bị xử phạt 42 tháng tù về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy, tại bản án số 16/2005/HSST của Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam;

- Ngày 10/11/2009 bị xử phạt 06 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tại Bản án số 40/2009/HSST của Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình;

- Ngày 27/8/2014 bị xử 02 năm tù về tội Chống người thi hành công vụ, tại bản án số 34/2014/HSST của Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa;

- Ngày 29/9/2014 bị xử phạt 26 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, tại bản án số 38/2014/HSST của Tòa án nhân dân thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình;

+ Ngày 15/9/1992 bị xử phạt vi phạm hành chính số tiền 200.000 đồng về hành vi Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tại Quyết định số 30/QĐ-XLVPHC của Công an huyện G, tỉnh Ninh Bình.

+ Ngày 09/10/2013 bị xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.000.000 đồng về hành vi Xâm hại đến sức khỏe của người khác, tại Quyết định số 185/QĐ-XLVPHC của Công an huyện G, tỉnh Ninh Bình;

+ Ngày 19/4/2022 bị xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.000.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, tại Quyết định số 1200002/QĐ-XPHC của Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh N.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 29/12/2024, chuyển tạm giam ngày 04/01/2025. Có mặt.

2. Bùi Văn K

sinh ngày 10/8/1995, tại huyện Y, tỉnh Hòa Bình; nơi cư trú: Khu phố T, thị trấn H, huyện Y, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn T1, sinh năm 1964 (đã chết) và bà Bùi Thị T2, sinh năm 1965; bị cáo có vợ là Bùi Thị Đ, sinh năm 2000 và có 01 con Bùi Thị Ngọc H2, sinh năm 2018;

Tiền án, tiền sự: Không

Về nhân thân của bị cáo: Ngày 20/4/2021 bị xử phạt 12 tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc, tại Bản án số 08/2021/HSST của Tòa án nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình;

Bị cáo bị tạm giữ ngày 26/12/2024, chuyển tạm giam ngày 04/01/2025. Có mặt.

3. Lã Thanh H3

sinh ngày 11/01/1984, tại thành phố P, tỉnh Hà Nam; nơi thường trú: Thôn D, xã P, thành phố P, tỉnh Hà Nam; nơi ở hiện tại: Khu phố T, thị trấn H, huyện Y, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lã Văn Q (đã chết) và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1959; bị cáo có vợ là Đinh Thị T3, sinh năm 1994 và có 01 con Lã Hải Đ1, sinh năm 2017;

Tiền án: Ngày 30/11/2015 bị xử phạt 18 tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc, truy thu số tiền 400.000 đồng, phạt bổ sung số tiền 8.000.000 đồng, tại Bản án số 69/2015/HSST của Tòa án nhân dân huyện Nho quan, tỉnh Ninh Bình;

Tiền sự: Không

Về nhân thân của bị cáo: ngày 25/8/2006 bị xử phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, tại Bản án số 223/2006/HSST của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 26/12/2024, chuyển tạm giam ngày 04/01/2025. Có mặt.

4. H

sinh ngày 27/6/1985, tại huyện N, tỉnh Ninh Bình; nơi thường trú: Phố T, thị trấn N, huyện N, tỉnh Ninh Bình; nơi ở hiện tại: Phố B, thị trấn N, huyện N, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Quang V, sinh năm 1952 và bà Nguyễn Thị H4, sinh năm 1957;

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ ngày 28/12/2024, chuyển tạm giam ngày 03/01/2025. Có mặt.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Anh Bùi Minh Đ2, sinh ngày 15/10/2003; địa chỉ: Xóm N, xã L, huyện Y, tỉnh Hòa Bình;
  • - Anh Bùi Hồng S, sinh năm 2002; địa chỉ: Xóm B, xã B, huyện Y, tỉnh Hòa Bình;
  • - Chị Nguyễn Thị T, sinh ngày 02/5/1992; địa chỉ: Thôn Đ, xã L, huyện N, tỉnh Ninh Bình
  • - Ông Hà Quang V, sinh năm 1952; địa chỉ: Phố T, TT N, huyện N, tỉnh Ninh Bình;
  • - Anh Trần Văn T4, sinh năm 1976; địa chỉ: Khu phố H, TT H, huyện Y, tỉnh Hòa Bình;
  • - Anh Bùi Văn T5, sinh năm 1985; địa chỉ: Số nhà A, đường T, khu phố T, TT H, huyện Y, tỉnh Hòa Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 25/12/2024 Bùi Văn K (sinh năm 1995 trú tại Khu phố T, TT H, huyện Y, tỉnh Hòa Bình) đang ở nhà Bùi Văn T5, sinh năm 1985, trú tại số nhà A, đường T, khu phố T, TT H, huyện Y, tỉnh Hòa Bình cùng với Lã Thanh H3 (sinh năm 1984, trú tại Thôn D, xã P, thành phố P, tỉnh Hà Nam) thì có Bùi Minh Đ2 (sinh năm 2003, trú tại xóm N, xã L, huyện Y, tỉnh Hòa Bình) gọi điện qua ứng dụng messenger cho K để hỏi mua ma túy đá với số tiền 400.000 đồng. Sau khi nghe vậy thì K đồng ý và bảo Đ2 chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng T6 (số A, mang tên Bùi Hồng S) và hẹn Đ2 tới nhà Bùi Văn T5 lấy ma túy. Bùi Minh Đ2 sau đó đã sử dụng điện thoại iphone 11 màu xanh của Đ2 và dùng số tài khoản ngân hàng V2 (số I) chuyển tiền vào tài khoản mà K yêu cầu.

Do K lúc này không biết chỗ mua ma túy nên đã hỏi Lã Thanh H3 là “anh biết chỗ nào có đồ không” (ý muốn hỏi H3 có biết chỗ nào bán ma túy đá không) thì H3 trả lời “có” và hỏi K lấy bao nhiêu thì K nói lấy 1.900.000 đồng (tuy K không nói mục đích mua ma túy để bán nhưng H3 biết mục đích K mua ma túy để bán) sau đó H3 bảo K chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng V3 (số C) của H3.

Khải sau đó sử dụng điện thoại của mình nhãn hiệu ViVo đăng nhập vào tài khoản ngân hàng T6 (tài khoản số 12268458888, mang tên Bùi Hồng S) chuyển tiền cho H3.

K gọi điện cho Trần Văn T4 (Sinh năm 1976, trú tại khu phố H, TT H, huyện Y, Hòa Bình) là lái xe taxi đến chở H3 đi mua ma túy.

Lã Thanh H3 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu ViVo Y3s, gắn sim số 0396.181.187 gọi điện tới số điện thoại 0962.226.xxx của Hà Q1 (sinh năm 1985, trú tại phố T, TT N, huyện N, tỉnh Ninh Bình), nói “Lấy đá chỗ anh H3 hộ cho anh” với số tiền 1.900.000 đồng (tuy Lã Thanh H3 không nói mục đích mua ma túy để bán nhưng Q1 nghĩ Lã Thanh H3 mua ma túy để bán) thì Q1 đồng ý. Sau đó Q1 sử dụng điện thoại nhãn hiệu VoS 4.0, kiểu máy Star 5 màu đen, gắn sim số 0962.226.353 gọi tới số điện thoại 0911.183.xxx của Nguyễn Xuân H (sinh năm 1974, trú tại Phố M, TT T, huyện G, tỉnh Ninh Bình) hỏi mua ma túy đá với số tiền 1.900.000 đồng, Xuân H đồng ý và bảo Q1 chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng V2 (số tài khoản 9968967135 mang tên Nguyễn Thị T là vợ H), sau khi nhận được tiền thì Xuân H hẹn Q1 một lúc nữa đi đến khu vực đường vành đai của T7 để lấy ma túy và bảo Q1 là để ma túy gói trong giấy vệ sinh màu trắng gần chân cột điện. Nguyễn Xuân H đi bộ một mình đến khu vực ngã ba thuộc địa phận Phố M, TT T, huyện G, tỉnh Ninh Bình để tìm mua ma túy mang về bán cho Q1. Khi đến nơi H nhìn thấy có một người đàn ông khoản 40 tuổi dáng người gầy và mặc quần áo tối màu (H không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ của người này ở đâu) đang đứng ở mép đường nên H đã đi đến gần hỏi “có đồ không để anh 1.500.000 đá và 100.000 cỏ” (ý H hỏi mua ma túy đá với số tiền 1.500.000 đồng và mua ma túy cỏ với số tiền 100.000 đồng) thì người này trả lời “có, đưa tiền đây”, rồi H đưa cho người này số tiền 1.600.000 đồng tiền mặt, người này cầm tiền rồi đưa cho H 01 gói giấy màu trắng bên trong có 03 gói giấy bạc, mở 03 gói giấy bạc ra bên trong có chứa ma túy đá; 01 hộp hình vuông bằng kim loại, một mặt có chữ “THĂNG LONG” bên trong có ma túy dạng cỏ. Sau khi mua được ma túy thì Nguyễn Xuân H đi đến khu vực chân cột điện thuộc đường vành đai của TT T, huyện G, tỉnh Ninh Bình và lấy một gói giấy bạc cứa ma túy đá gói lại bên trong túi giấy màu trắng (giấy vệ sinh) và đặt ở chân cột điện để cho Q1 đến lấy, số ma túy còn lại H cất lại vào túi quần và đi về nhà.

Hà Quang một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 35N1 – 071.58, nhãn hiệu Elegant, màu sơn đen bạc đến chân cột điện đã hẹn trước với Xuân H thì thấy có một gói giấy vệ sinh màu trắng nên đã dừng xe lại và nhặt lên rồi Q1 cầm trên tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà. Sau khi về đến nhà thì Q1 gọi điện thoại cho Lã Thanh H3 nói “ra đê lấy”. Khoảng 20 phút sau thì Hà Q1 đi bộ một mình ra đê (thuộc khu vực phố B, TT N, huyện N, tỉnh Ninh Bình) đứng đợi H3. Ít phút sau Lã Thanh H3 đi xe ô tô đến và dừng lại, H3 ngồi ghế sau (ghế ở hàng ghế sau ghế lái xe) hạ kính xuống rồi Q1 cầm số ma túy đưa cho H3. H3 sau khi cầm số ma túy trên thì đã bảo lái xe quay về nhà Bùi Văn T5.

Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày thì Lã Thanh H3 mang ma túy về đến nhà Trường rồi đi vào phòng ngủ ở tầng một đưa cho K 01 túi nilon trong suốt bên trong chứa ma túy đá, K cầm ma túy lên phòng ngủ tầng 2 lấy kéo và ống hút nhựa, bật lửa ga có sẵn trong phòng ngủ của nhà Bùi Văn T5, sau đó dùng kéo cắt ống hút nhựa ra thành 02 đoạn nhỏ rồi dùng bật lửa đốt hàn gắn một đầu của đoạn ống hút rồi lấy ma túy ra đổ vào 02 đoạn ống hút nhựa trên rồi dùng bật lửa đốt gắn đầu còn lại của 02 đoạn ống nhựa còn lại. 01 đoạn ống nhựa có chứa ma túy K bán cho Đ2 thì K để ở trong túi quần bên trái phía trước của mình rồi đi xuống tầng 01 đưa cho Đ2, đoạn ống nhựa còn lại thì K cất giấu vào trong túi quần phía trước bên phải, sau đó K đi vào trong phòng nghỉ ngơi.

Đến khoảng 23 giờ 40 phút cùng ngày, khi Bùi Văn K, Lã Thanh H3 đang ở nhà tại số nhà A, đường T, khu phố T, TT H, huyện Y thì bị Công an huyện Y đến kiểm tra phát hiện bắt quả tang Bùi Văn K đang có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ tại túi quần phía trước bên phải của K 01 đoạn ống nhựa màu trắng có kẻ xọc màu đỏ, một đầu được hàn kín, một đầu có lỗ hở, tổ công tác đã tiến hành mở một đầu của đoạn ống nhựa trên và tiến hành đổ vào trong 01 túi nilon trong suốt thì phát hiện chất ở bên trong đoạn ống nhựa trên có dạng tinh thể màu trắng. Bùi Văn K khai nhận đó là ma túy đá mua của Lã Thanh H3.

Ngày 28/12/24 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y tiến hành vận động đối tượng Hà Q1 ra đầu thú, cùng ngày Nguyễn Xuân H ra đầu thú và giao nộp ma túy trong vụ án.

Tại bản kết luận giám định chất ma túy số 50/KL-KTHS ngày 31/12/2024; bản kết luận giám định số 60/KL-KTHS ngày 04/01/2025 của Phòng K1 - Công an tỉnh H kết luận:

- Chất tinh thể màu trắng trong phong bì K01 “Vật chứng nghi là ma túy thu giữ của Bùi Văn K ngày 25/12/2024”, gửi giám định có khối lượng 0,19 gam, là ma túy lại Methamphetamine

- Chất tinh thể màu trắng ký hiệu A1 và A2 trong phong bì ký hiệu H1 “Vật chứng nghi là ma túy của Nguyễn Xuân H giao nộp ngày 28/12/2024”, gửi giám định có tổng khối lượng 0,92, là ma túy loại Methamphetamine;

Tại bản kết luận số 63/KL-KTHS ngày 10/01/2025 và số 2234/KL-KTHS ngày 12/3/2025 của V4 Bộ C kết luận:

- Tìm thấy chất ma túy MDMB-INACA và MDMB-4en-PINACA trong mẫu ký hiệu H2 gồm các mảnh vụn thực vật màu xanh gửi giám định, khối lượng mẫu là 0,634 gam

- Hàm lượng chất ma túy MDMB-4en-PINACA có trong mẫu gửi giám định là 0,25%;

- Khối lượng chất ma túy MDMB-4en-PINACA có trong 0,634 gam mẫu gửi giám định là 0,001 gam.

Tại bản cáo trạng số 16/CT-VKS-YT ngày 22/5/2025 truy tố các bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thủy luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh, hình phạt: Đề nghị tuyên bố các bị cáo Nguyễn Xuân H, Lã Thanh H3, Bùi Văn K, Hà Q1 phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân H từ 28 tháng đến 34 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Văn K từ 26 tháng đến 30 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lã Thanh H3 26 tháng đến 30 tháng tù

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 5; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Hà Q1 từ 24 tháng đến 28 tháng tù.

Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo

V1 xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

- Truy thu số tiền 1.900.000 đồng của bị cáo Nguyễn Xuân H, đây là số tiền bị cáo thu lời bất chính từ hành vi phạm tội, số tiền này được đối trừ trong số tiền bị cáo giao nộp 4.265.000 đồng hiện đang được bảo quản tại Phòng G – Kho bạc Nhà nước khu vực IX. Trả lại cho bị cáo số tiền còn lại 2.365.000 đồng;

- Tịch thu, tiêu hủy khối lượng ma túy trong vụ án còn lại sau giám định; 01 chiếc kéo, bật lửa

- Tịch thu, phát mại sung công quỹ nhà nước đối với các điện thoại của các bị cáo thu giữ trong vụ án;

- Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bùi Minh Đ2 01 chiếc điện thoại thu giữ của Bùi Minh Đ2.

Các vật chứng được mô tả chi tiết tại biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thủy.

Về các vấn đề khác: Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hà Quang V đã nhận lại được xe mô tô, ông V không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo Hà Q1.

Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Bùi Minh Đ2 đối với việc mua ma túy của bị cáo Bùi Văn K, đã bị xử lý hành chính, chưa đủ căn cứ để xử lý hình sự; đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác Bùi Hồng S, Nguyễn Thị T, Trần Văn T4, Bùi Văn T5, quá trình điều tra xác định những người này không biết hành vi phạm tội của các bị cáo nên không xử lý hình sự là có căn cứ.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận bổ sung, nói lời sau cùng các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không có ý kiến gì tranh luận, đồng ý với nội dung bản cáo trạng và bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng

của cơ quan điều tra Công an huyện Y, tỉnh Hòa Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Hành vi của các bị cáo qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và tranh luận công khai tại phiên tòa xác định: Vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 25/12/2024 Bùi Văn K nhận được điện thoại của Bùi Minh Đ2 hỏi mua ma túy đá và nhận được số tiền 400.000 đồng mua ma túy Đ2 chuyển khoản theo yêu cầu. Bùi Văn K đã hỏi Lã Thanh H3 về chỗ mua ma túy và chuyển tiền mua ma túy theo hướng dẫn của H3. Sau đó Lã Thanh H3 trực tiếp gọi điện và đi mua ma túy của H tại huyện N, tỉnh Ninh Bình với số tiền 1.900.000 đồng.

Hà Q1 sau khi nhận được điện thoại hỏi mua ma túy từ Lã Thanh H3 đã gọi điện thoại hỏi mua ma túy từ Nguyễn Xuân H với số tiền 1.900.000 đồng, cả hai thống nhất hẹn chỗ nhận ma túy tại đường vành đai của thị trấn T, ma túy gói trong giấy vệ sinh màu trắng gần chân cột điện.

Nguyễn Xuân H do trong nhà chưa có ma túy nên đã đi mua ma túy của một người đàn ông không quen biết tại khu vực ngã 3 thuộc địa phận Phố M, thị trấn T với số tiền 1.500.000 ma túy đá và 100.000 đồng ma túy cỏ, mua được 03 gói giấy bạc bên trong chứa ma túy đá và 01 hộp hình vuông bằng kim loại bên trong có chứa ma túy dạng cỏ. Nguyễn Xuân H đã lấy 01 gói giấy bạc chứa ma túy đá gói lại đặt ở chân cột đèn nơi chỉ điểm cho Hà Q1 tới lấy, số ma túy còn lại Nguyễn Xuân H cất mang về nhà mục đích để bán cho các con nghiện.

Hà Quang sau khi nhận được ma túy đã gọi điện thoại cho Lã Thanh H3 hẹn ra đê (thuộc khu vực Phố B, thị trấn N, huyện N) để giao ma túy cho H3, sau khi nhận được ma túy đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày 25/12/2024 Lã Thanh H3 giao ma túy cho Bùi Văn K, sau đó K lên khu vực phòng ngủ tầng 2 chia ma túy và đựng trọng 02 đoạn ống nhựa, đoạn bán cho Đ2 cất ở túi quần bên trái phía trước rồi xuống tầng 1 đưa cho Đ2. Đoạn ống nhựa còn lại K giấu trong túi quần phía trước bên phải

Đến khoảng 23 giờ 40 phút cùng ngày thì K và Lã Thanh H3 bị Công an huyện Y đến kiểm tra phát hiện bắt quả tang; ngày 28/12/2024 Hà Q1 và Nguyễn Xuân H ra đầu thú và giao nộp vật chứng và ma túy trong vụ án.

Lời khai nhận tội của các bị cáo nêu trên phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ, niêm phong đồ vật, tài liệu, kết luận giám định, lời khai của những người làm chứng cùng toàn bộ chứng cứ thu thập trong quá trình điều tra có trong hồ sơ vụ án. Nên có đủ cơ sở xác định các bị cáo Nguyễn Xuân H, Lã Thanh H3, Bùi Văn K, Hà Q1 phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình nghị án Hội đồng xét xử cũng xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Xuân H, Lã Thanh H3 tại lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm, là căn cứ để áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan Điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo Bùi Văn K là người dân tộc thiểu số; bị cáo Hà Q1 có bố đẻ và thân nhân là người có công với cách mạng được tặng thưởng huân chương, huy chương kháng chiến, bị cáo Hà Q1 đã đầu thú về hành vi phạm tội của mình. Đây là cơ sở để Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Nguyễn Xuân H đã nhiều lần cung cấp tin báo giúp cơ quan Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh N đấu tranh, bắt giữ các đối tượng trong các vụ án khác trên địa bàn tỉnh Ninh Bình (Công văn số 495/CV-PC04 ngày 07/5/2025 của Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh N), bị cáo đầu thú về hành vi phạm tội của mình, là căn cứ để áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với các bị cáo là phù hợp nên được chấp nhận

[4] Về hình phạt:

Xét các bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mua bán trái phép các chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội và là nguyên nhân nảy sinh các loại tội phạm khác. Nhưng để phục vụ lối sống buông thả của bản thân các bị cáo đều là các đối tượng nghiện ma túy, để có tiền tiếp tục sử dụng ma túy đã bất chấp hậu quả, lao vào con đường phạm tội.

Nên cần có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi mà các bị cáo đã thực hiện, cách li các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để trừng trị, giáo dục đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

Về cá thể hóa hình phạt đối với các bị cáo:

Đối với bị cáo Nguyễn Xuân H: Phải chịu trách nhiệm chung cho tổng số ma túy trong vụ án với khối lượng 1,111 gam

Đối với các bị cáo Bùi Văn K, Lã Thanh H3, H: Các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với khối lượng ma túy đã mua của Nguyễn Xuân H với khối lượng 0,19 gam methamphetamine

[5] Về xử lý vật chứng:

Đối với các vật chứng của vụ án khối lượng ma túy còn lại sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao gói, được niêm phong trong phong bì. Đây là vật Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu xuất hủy theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với vật chứng là các điện thoại di động có gắn sim điện thoại mà các bị cáo sử dụng để mua bán ma túy, cần tịch thu phát mại xung quỹ nhà nước.

Đối với 01 chiếc kéo và 01 bật lửa gas do bị cáo Bùi Văn K sử dụng để chia ma túy, xét thấy không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 4.265.000 đồng do bị cáo Nguyễn Xuân H giao nộp, xét thấy đây là số tiền do bị cáo lao động mà có được, sau khi đối trừ số tiền 1.900.000 đồng bị cáo mua bán ma túy tịch thu, xung quỹ nhà nước. Còn lại 2.365.000 đồng trả lại cho bị cáo

[6] Về các vấn đề khác:

Đối với người đã bán ma túy cho bị cáo Nguyễn Xuân H do bị can không biết rõ nhân thân, lai lịch của người này nên Cơ quan điều tra Công an huyện Y đang tiếp tục xác minh làm rõ khi có kết quả sẽ xử lý sau

Đối với Bùi Minh Đ2 gọi mua ma túy của Bùi Văn K, tuy nhiên đã sử dụng hết, không xác định được khối lượng ma túy nên không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự. UBND xã L đã áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với Đ2 là đúng quy định của pháp luật.

Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị T, anh Bùi Hồng S là chủ các số tài khoản các bị cáo chuyển tiền để thực hiện mua bán ma túy, quá trình điều tra làm rõ những người này không biết và không trực tiếp sử dụng tài khoản. Nên không đề cập xử lý là phù hợp;

Đối với ông Hà Quang V cho bị cáo Hà Quang M1 xe mô tô làm phương tiện và anh Bùi Văn T5 là chủ nhà nơi các bị cáo thực hiện mua bán ma túy, ông V, anh T5 không biết các bị cáo mua bán ma túy, không được hưởng lợi gì. Nên không đề cập xử lý là phù hợp

Đối với anh Trần Văn T4 là lái xe taxi chở Lã Thanh H3 đi nhận ma túy từ H, anh T4 không biết. Nên không đề cập xử lý là phù hợp.

[7] Về án phí:

Các bị cáo phải nộp án phí theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[8] Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh, hình phạt:

Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Xuân H, Bùi Văn K, Lã Thanh H3, Hà Q1 phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân H 28 (hai mươi tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 29/12/2024.

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo Bùi Văn K 26 (hai mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 26/12/2024.

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38, 58 Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo Lã Thanh H3 26 (hai mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 26/12/2024;

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự

- Xử phạt bị cáo Hà Q1 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 28/12/2024.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên:

Truy thu xung quỹ nhà nước đối với số tiền 1.900.000 đồng; hoàn trả lại cho bị cáo Nguyễn Xuân H số tiền 2.365.000 đồng, hiện được niêm phong trong 01 (một) phong bì niêm phong dán kín, một mặt có ghi: “Số tiền: 4.265.000 đồng của Nguyễn Xuân H giao nộp ngày 28/12/2024”. Trên mép dán có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và dấu tròn đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y, tỉnh Hòa Bình.

(Vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Phòng G – Kho bạc Nhà nước khu vực IX, tình trạng, đặc điểm cụ thể được ghi trong Biên bản giao nhận tài sản số 05/2025/BBBG-PGD24, ngày 22/5/2025 giữa bên giao Công an huyện Y, bên nhận Chi cục Thi hành án dân sự huyện Y, tỉnh Hòa Bình).

Tịch thu tiêu hủy:

  • + 01 phong bì niêm phong của Bùi Văn K, một mặt có ghi “Mẫu vật còn lại sau giám định. Vụ Bùi Văn K, sinh năm 1995 – Có hành vi phạm tội về ma túy, xảy ra ngày 25/12/2024 tại thị trấn H, huyện Y, tỉnh Hòa Bình”. Của phòng KTHS-CA tỉnh H.
  • + 01 phong bì niêm phong dán kín một mặt có ghi: “Mẫu vật còn lại sau khi giám định”. Vụ: xảy ra ngày 25/12/2024 tại thị trấn H, huyện Y, tỉnh Hòa Bình (Chất nghi là ma túy thu giữ của Nguyễn Xuân H giao nộp ngày 28/12/2024 tại thị trấn M, huyện G, Ninh Bình). Trên mép dán có dấu niêm phong của Phòng K1 - Công an tỉnh H và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong
  • + 01 phong bì niêm phong số 2235/KL-KTHS ghi “Mẫu vật hoàn lại sau giám định”. Trên mép dán có dấu hiệu niêm phong của V4 - Bộ C và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong.
  • + 01 chiếc kéo bằng kim loại, bề mặt ghi chữ WEILA cũ đã qua sử dụng;
  • + 01 bật lửa ga màu xah đen cũ đã qua sử dụng;

Tịch thu phát mại, xung quỹ nhà nước đối với:

  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, có gắn sim điện thoại cũ đã qua sử dụng của Nguyễn Xuân H;
  • + 01 điện thoại di động, nhãn hiệu VOS 4.0, khung viền và mặt sau của điện thoại bị trầy xước, dạn vỡ gắn một sim, điện thoại cũ đã qua sử dụng của Hà Q1;
  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màn hình cảm ứng bị vỡ, có gắn sim, điện thoại cũ đã qua sử dụng của Lã Thanh H3;
  • + 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Vivo, màn hình cảm ứng bị vỡ gắn sim, điện thoại cũ đã qua sử dụng của Bùi Văn K.

Trả lại cho Bùi Minh Đ2, sinh năm 2003; trú tại: Xóm N, xã L, huyện Y, tỉnh Hòa Bình: 01 điện thaoij di động nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh. Đây là tài sản hợp pháp của Bùi Minh Đ2, là vật có giá trị chứng minh, không phải vật chứng của vụ án.

(Các vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thủy, tình trạng, đặc điểm cụ thể của các vật chứng được ghi trong Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số A, ngày 26/5/2025 giữa bên giao Công an huyện Y, bên nhận Chi cục Thi hành án dân sự huyện Y, tỉnh Hòa Bình).

3. Về án phí:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Các bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Áp dụng Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh HB;
  • - STP tỉnh HB;
  • - Trại tạm giam; Phòng Hồ sơ CAT;
  • - VKSND huyện YT;
  • - Cơ quan ĐT;
  • - Chi cục THA dân sự;
  • - Hồ sơ THAHS;
  • - Người TGTT;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Lê Thị Hảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HSST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THỦY, TỈNH HÒA BÌNH về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 20/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THỦY, TỈNH HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Xuân Hải cùng đồng phạm Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger