|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 20/2025/HSST Ngày 17/6/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG - TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Vi Thị Tú.
2. Ông Nguyễn Ngọc Thành.
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Khiết - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Sơn Động.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động tham gia phiên toà: Ông Hoàng Minh Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Động xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2025/HSST ngày 16 tháng 05 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐXXST - HS ngày 29 tháng 05 năm 2025; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số: 120/TB-TA ngày 09/6/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đằng Văn T, sinh năm 1985; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn L, xã L, huyện S, tỉnh Bắc Giang; Dân tộc: Sán Chí; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: Không đi học; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông: Lý Văn S, sinh năm 1952 và bà: Đặng Thị L, sinh năm 1957; Có vợ: Đằng Thị C, sinh năm 1990 (Đã ly hôn năm 2024); Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2012; nhỏ sinh năm 2015; Anh chị em ruột: Có 07 anh em, bị cáo là thứ hai trong gia đình.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/4/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (Có mặt tại phiên tòa).
* Người bào chữa cho bị cáo Đằng Văn T: Bà Nguyễn Hải L1 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. (Có mặt tại phiên tòa)
- Bị hại: Trần Văn Q, sinh năm 1999. (Có mặt).
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn C, xã L, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Trần Văn B, sinh năm 1998. (Có mặt).
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn C, xã L, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
- Người làm chứng:
- Nguyễn Văn T1, sinh năm 1995. (Vắng mặt).
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn M, xã V, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
- Triệu Văn T2, sinh năm 2009.(Vắng mặt).
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn C, xã V, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
- Ninh Văn L2, sinh năm 1992.(Vắng mặt).
- Đặng Văn S1, sinh năm 1995.(Vắng mặt).
Đều ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn L, xã L, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Buổi tối ngày 16/11/2024, Đằng Văn T, sinh năm 1985, trú tại thôn L, xã L, huyện S, tỉnh Bắc Giang, mời anh Triệu Văn T2, sinh năm 2009, trú tại thôn L, xã V, huyện S đến nhà ăn cơm, uống rượu. Khi đi anh T2 rủ theo anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1995, trú tại thôn M, xã V, huyện S cùng T2 đến nhà T ăn cơm, uống rượu. Khoảng 19 giờ cùng ngày, T, anh T2 và anh T1 bắt đầu ngồi ăn lẩu, uống rượu tại nhà T. Đến 21 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi ăn uống xong, T, anh T2 và anh T1 rủ nhau đi uống bia, sau đó mỗi người điều khiển một xe mô tô đến quán “Tiệm T3" ở thôn L, xã L, huyện S của gia đình chị Đặng Thị S2, sinh năm 1995, trú tại thôn L, xã L, huyện S để uống bia, nghe hát. Khi đến quán, T thấy có anh Trần Văn Q, sinh năm 1999 và anh Nịnh Văn L3, sinh năm 1992, cùng trú tại thôn C, xã L, huyện S đang ngồi uống bia ở một bàn trong quán. Tiếp, anh T2 và anh T1 vào ngồi uống bia tại bàn bên cạnh. Ngồi uống bia được một lúc thì anh T2 đi về trước, còn T và anh T1 vẫn tiếp tục ngồi uống bia. Trong lúc T và anh T1 ngồi uống bia thì anh Q và anh L3 đi sang bàn của T giao lưu, mời T và anh T1 uống bia. Trong lúc ngồi uống bia cùng nhau, anh Q có nói với T là “bị vợ bỏ, gà trống nuôi con một mình”, thì T nói lại là “không nuôi thì ai nuôi”. Sau đó, anh Q tiếp tục nhắc lại việc T bị vợ bỏ nhiều lần trong quá trình ngồi uống bia. Đến khoảng 23 giờ 00 cùng ngày, T, anh T2, anh Q và anh L3 đứng dậy đi về, T và anh Q đi trước, anh T1 và anh L3 đi sau. Khi đi bộ ra chỗ để xe mô tô, T và anh Q có huých vai nhau làm T bị ngã xuống sân. Tiếp cho rằng bị anh Q đạp ngã nên đã bực tức đứng dậy rút 01 con dao bằng kim loại, đầu dao có một lưỡi sắc, tổng chiều dài 27,8cm, lưỡi dao dài 15,3cm, chuôi dao bằng gỗ dài 12,5cm cài ở yên xe mô tô của T từ trước, T cầm dao tay phải đâm một nhát theo chiều từ phải qua trái, từ trên xuống dưới trúng sườn bên trái anh Q làm anh Q bị thương tích. Thấy anh Q bị Tiếp đâm gây thương tích thì T1, anh L3 cùng T đã đưa anh Q đến Trung tâm Y tế huyện S để cấp cứu. Do vết thượng nặng nên sau đó được chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B để cấp cứu và điều trị từ ngày 17/11/2024 đến ngày 27/11/2024 thì ra viện.
Tại Giấy chứng nhận thương tích ngày 07/01/2025 của Bệnh viện đa khoa tỉnh B xác định:
- - Anh Trần Văn Q vào viện ngày 17/11/2024; ra viện ngày 27/11/2024
- - Tình trạng thương tích lúc vào viện: Bệnh nhân tỉnh, tiếp xúc tốt, da niêm mạc hồng nhợt. Vết thương khoang liên sườn X - XI đường giữa đòn trái kích thước 4x2cm đã cầm máu, băng thấm dịch. Bụng mềm chướng nhẹ, ấn đau tức nhẹ hạ sườn trái, phản ứng thành bụng;
- Chụp x quang: Hình tim không to. Phế huyết quản đậm, mờ vùng đáy phối kèm tràn dịch khoang màng phổi trái, S3 dẫn lưu màng phổi trái; Siêu âm: Hình ảnh dịch tự do ổ bụng. Dịch màng phổi trái. Tình trạng thương tích lúc ra viện: Bệnh nhân ổn định.
Ngày 13/01/2025, anh Trần Văn Q có đơn đề nghị xem xét xử lý hành vi cố ý gây thương tích của Đằng Văn T và tài liệu kèm theo gửi đến Công an huyện S. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã tiếp nhận nguồn tin để giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 15/01/2025, Đằng Văn T giao nộp 01 con dao bằng kim loại, đầu dao có một lưỡi sắc, tổng chiều dài 27,8cm, lưỡi dao dài 15,3cm, chuôi dao bằng gỗ dài 12,5cm, đã qua sử dụng, là con dao Tiếp đã dùng để đâm anh Q. Tiếp khai đây là con dao Tiếp sử dụng để cạo nhựa cây Trám, thường xuyên cất tại khu vực yên xe mô tô của T.
Ngày 22/01/2025, Cơ quan CSĐT Công an huyện S ra Quyết định trưng cầu giám định số 37/QĐ-CQĐT trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh B giám định thương tích đối với anh Trần Văn Q.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 2956/24/KLTTCT-TTPY ngày 06/02/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh B, kết luận:
- - Dấu hiệu chính qua giám định:
- + Thương tích vết sẹo ngực trái khoang liên sườn X-XI đường giữa đòn kích thước lớn + Vết sẹo dẫn lưu ngực trái đường nách giữa kích thước trung bình + Chụp cắt lớp vi tính lồng ngực (hiện tại): Hình ảnh cấu trúc giả khối do đụng dập nhu mô phổi cũ phân thùy IX-X trái, có dày-xơ hóa mô kẽ xung quanh. Dày dính màng phổi vùng đáy phổi trái + Vết sẹo mổ đường trắng giữa trên và dưới rốn kích thước lớn + 02 vết sẹo dẫn lưu thành bụng phải kích thước trung bình + Vết sẹo dẫn lưu thành bụng trái kích thước nhỏ + Phiếu phẫu thuật/thủ thuật: Vết thương sắc gọn tại thành ngực khoang liên sườn X-XI trái dài 42mm, hướng đi chếch từ trên xuống dưới, từ ngoài vào trong thấu ngực bụng. Rạch ra đường trắng giữa trên và dưới rốn dài 30cm qua các lớp vào ổ bụng. Vết thương thành ngực khoang liên sườn trái xuyên qua cơ hoành trái ba vị trí vào ổ bụng làm thủng ba lỗ mặt trước dạ dày. Tiến hành lau rửa ổ bụng, khâu các vết rách tổn thương cơ hoành và dạ dày. Đặt dẫn lưu Douglas, dưới gan, hố lách. Đặt dẫn lưu khoang màng phổi trái: 62%.
- - Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Trần Văn Q tại thời điểm giám định là 62% (Sáu mươi hai phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- - Kết luận khác: Cơ chế, vật, chiều hướng gây thương tích: Các thương tích do vật sắc gây nên, chiều hướng từ trên xuống dưới, từ trái sang phải.
Ngày 27/3/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã tiến hành thực nghiệm điều tra theo lời khai của Đằng Văn T về việc T dùng dao đâm gây thương tích tại vùng sườn trái của anh Q. Kết quả, T thực hiện mô phỏng hành vi đúng như đã khai tại Cơ quan điều tra.
Ngày 03/4/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 3869/QĐ-VPCQCSĐT, trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh B giám định bổ sung giám định tình huống gây thương tích, vật gây thương tích. Tại Bản kết luận giám định pháp y số 3081/25/KLBSHS-PY ngày 16 tháng 4 năm 2025 của Trung tâm pháp y tỉnh B, kết luận:
Theo tình huống khi Đằng Văn T đứng đối diện với anh Trần Văn Q. Mũi chân bên trái của T cách mũi chân bên phải của anh Q 20cm, mũi chân bên phải của T cách mũi chân bên trái của anh Q 32cm. Tại vị trí này, T cầm con dao bằng kim loại, đầu dao có một lưỡi sắc, tổng chiều dài 27,8cm, lưỡi dao dài 15,3cm, chuôi dao bằng gỗ dài 12,5cm bằng tay phải, mũi dao hướng về phía trước, đâm một phát theo hướng từ phải qua trái, từ trên xuống dưới, đâm đầu lưỡi dao trúng vào sườn trái của anh Q thì có thể gây được thương tích “Vết thương sắc gọn tại thành ngực khoang liên sườn X-XI trái dài 42mm, hướng đi chếch từ trên xuống dưới, từ ngoài vào trong thấu ngực bụng. Rạch ra đường trắng giữa trên và dưới rốn dài 30cm qua các lớp vào ổ bụng. Vết thương thành ngực khoang liên sườn trái xuyên qua cơ hoành trái ba vị trí vào ổ bụng làm thủng ba lỗ mặt trước dạ dày.
Ngày 28/3/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B ra Quyết định trưng cầu giám định số 3343/QĐ-VPCQCSĐT trưng cầu V giám định ADN trên con dao do Đằng Văn T giao nộp. Tại Bản kết luận giám định số HT147.25/PY-XNSH ngày 01/4/2025 của V, kết luận: Dấu vết trên bề mặt chuôi dao và cán dao của con dao gửi giám định có sinh phẩm của người; có AND nhiễm sắc thể thường với nồng độ rất thấp, không đủ điều kiện so sánh.
* Về trách nhiệm dân sự: Anh Trần Văn Q yêu cầu Đằng Văn T phải bồi thường số tiền 70.000.000đ, gồm: Chi phí điều trị vết thương, chi phí sinh hoạt, đi lại khi nằm viện, tiền bồi thường tổn hại sức khỏe và tổn thất về thu nhập thực tế của Q. Đến nay, Đằng Văn T chưa bồi thường được khoản tiền nào.
* Về vật chứng của vụ án: 01 con dao bằng kim loại, đầu dao có một lưỡi sắc, tổng chiều dài 27,8cm, lưỡi dao dài 15,3cm, chuôi dao bằng gỗ dài 12,5cm, đã qua sử dụng. Chuyển đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Sơn Động để xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa: Bị cáo, người bị hại đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Kết luận điều tra và Cáo trạng truy tố. Chủ tọa phiên tòa công bố lời khai của người làm chứng làm chứng vắng mặt; Giấy chứng nhận thương tích và kết luận giám định. Bị cáo và bị hại nhất trí, không có ý kiến gì.
Tại bản Cáo trạng số: 21/CT-VKS-HS ngày 15 tháng 05 năm 2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động đã truy tố bị cáo Đằng Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm d khoản 4 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích tính chất vụ án, giữ nguyên quyết định truy tố tại bản Cáo trạng đối với bị cáo và đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo Đằng Văn T như sau:
- - Áp dụng điểm d khoản 4 Điều 134; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 BLHS; Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 và Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Xử phạt bị cáo Đằng Văn T từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm. Thời hạn tu tính từ ngày tạm giam (11/4/2025).
Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 con dao bằng kim loại, đầu dao có một lưỡi sắc, tổng chiều dài 27,8cm, lưỡi dao dài 15,3cm, chuôi dao bằng gỗ dài 12,5cm.
* Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584; Điều 585; Điều 590 BLDS.
Buộc bị cáo Đằng Văn T bồi thường cho bị hại Trần Văn Q số tiền 70.000.000 đồng.
* Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo.
* Người bào chữa cho bị cáo Đằng Văn T là bà Nguyễn Hải L1 trình bày: Nhất trí tội danh, điều luật áp dụng. Đề nghị HĐXX áp dụng thêm điểm x khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo 5 năm tù giam và Buộc bị cáo Đằng Văn T bồi thường cho người bị hại Trần Văn Q số tiền: 56.700.000 đồng.
Nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giả nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo được sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện S, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như vậy hành vi, quyết định của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của người làm chứng: Người làm chứng được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy người làm chứng có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của người làm chứng không làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án.
Căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vắng mặt theo qui định của pháp luật.
[3] Về những chứng cứ xác định bị cáo có tội và áp dụng pháp luật hình sự với bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Đằng Văn T khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, kết luận giám định cùng tang vật chứng thu được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 23 giờ 00 ngày 16/11/2024, tại quán “Tiệm T” của gia đình chị Đặng Thị S2, sinh năm 1995 ở thôn L, xã L, huyện S, tỉnh Bắc Giang. Trong lúc cùng nhau ngồi uống bia và nghe hát, bị cáo Đằng Văn T có xảy ra xích mích với anh Trần Văn Q, sinh năm 1999, trú tại thôn C, xã L, huyện S. Khi bị cáo và anh Q cùng nhau đi về, khi ra đến cửa quán, bị cáo đã rút 01 con dao bằng kim loại, đầu dao có một lưỡi sắc, chiều dài 27,8cm, lưỡi dao dài 15,3cm, chuôi dao bằng gỗ dài 12,5cm cài ở yên xe mô tô của mình (là hung khí nguy hiểm), cầm bên tay phải đâm một nhát vào sườn bên trái anh Q làm anh Q bị thương tích 62% sức khỏe.
Do vậy hành vi gây thương tích nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm d, khoản 4, Điều 134- Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động và bản Luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đã truy tố bị cáo Đằng Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm d, khoản 4, Điều 134- Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
[3] Xét về tính chất vụ án, nhân thân, các các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ, bị cáo côn đồ hung hãn, coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, dùng dao nhọn là hung khí nguy hiểm đâm vào sườn trái gây thương tích cho anh Q do vậy cần có mức hình phạt thật nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, là người đang thờ cúng ông Đặng Văn L4 là liệt sỹ chống Mĩ cứu nước nên bị cáo được được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại điểm x khoản 1 Điều 51 BLHSquy định: “Người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sỹ” do vậy trợ giúp viên pháp lý đề nghị áp dụng thêm điểm x khoản 1 Điều 51 BLHS là không có căn cứ chấp nhận.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về hình phạt: Sau khi xem xét tính chất vụ án, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng Điều 38- Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù giam, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian như mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới đủ sức giáo dục răn đe và phòng ngừa.
[5] Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.
Đối với 01 con dao bằng kim loại, đầu dao có một lưỡi sắc, tổng chiều dài 27,8cm, lưỡi dao dài 15,3cm, chuôi dao bằng gỗ dài 12,5cm, đã qua sử dụng là công cụ phương tiện phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị hại Trần Văn Q đề nghị bị cáo bồi thường tổng số tiền 70.000.000 đồng. Bị cáo đề nghị giải quyết mức bồi thường theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào Điều 584 và Điều 590 BLDS năm 2015 thì anh Q sẽ được bồi thường những khoản tiền sau:
- - Tiền chi phí điều trị vết thương của Bệnh viện đa khoa tỉnh B hết 21.830.352 đồng
- - Tiền mua thuốc theo hóa đơn ngày 19/11/2024 = 3.060.000đ;
- - Tiền mua thuốc theo hóa đơn ngày 17/11/2024 = 839.999đ;
- - Tiền mua thuốc theo hóa đơn ngày 19/11/2024 = 899.999đ;
- - Tiền mua thuốc theo hóa đơn ngày 21/11/2024 = 800.000đ;
- - Tiền theo phiếu thu ngày 27/11/2024 = 406.380đ;
- - Tiền thuốc theo hóa đơn = 230.000đ;
- - Tiền thuốc theo hóa ngày 27/11/2024 = 719.998đ;
- - Tiền mất ngày công trong 10 ngày nằm viện + tiền công 01 người chăm sóc trong 10 ngày năm viện = 250.000₫ – 300.000đ/01 ngày x 2 = 5.000.000₫ - 6.000.000₫;
- - Tiền tổn thất về tinh thần từ 20 -22 tháng lương tối thiểu x 2.340.000₫ = 46.800.000₫ - 51.480.000₫;
- - Tiền bồi dưỡng sức khỏe khi ra viện từ 4-5 tháng lương tối thiểu x 2.340.000₫ = 9.360.000₫ -11.700.000₫.
- - Thuê xe đi cấp cứu từ xã L, huyện S đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B và tiền thuê xe sau khi ra viện từ Bệnh viện đa khoa tỉnh B về nhà = 3.000.000đ.
Tổng cộng bị cáo phải bồi thường cho anh Q từ 92.946.728 đồng - 100.966.728 đồng .
Tuy nhiên tại phiên tòa người bị hại anh Trần Văn Q yêu cáo bồi thường số tiền 70.000.000₫ nên cần chấp nhận ý kiến của anh Q. Buộc bị cáo Đằng Văn T phải bồi thường cho bị hại anh Trần Văn Q số tiền 70.000.000 đồng.
[6] Về án phí: Do bị cáo người dân tộc thiểu số, sống trong vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của U, miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm d khoản 4 (điểm a; i khoản 1) Điều 134; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 48 BLHS; Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 và Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 357; Điều 584; Điều 585 Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015; Điểm 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội qui định về
Xử phạt bị cáo Đằng Văn T 07 năm 08 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 11/4/2025).
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao bằng kim loại, đầu dao có một lưỡi sắc, tổng chiều dài 27,8cm, lưỡi dao dài 15,3cm, chuôi dao bằng gỗ dài 12,5cm.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Đằng Văn T phải bồi thường cho anh Trần Văn Q tổng số tiền là 70.000.000 đồng.
Án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo.
Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, đến thời hạn thanh toán, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành án hoặc thi hành án không đầy đủ thì phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tiền trên số tiền chậm trả tại thời điểm thanh toán.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Bắc Giang;
- - VKSND tỉnh Bắc Giang;
- - VKSND huyện Sơn Động;
- - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Bắc Giang;
- - Chi cục THADS huyện Sơn Động;
- - UBND xã Lệ Viễn, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang;
- - Người tham gia tố tụng;
- - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án.
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN (Ký, ghi rõ họ tên) |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Hiếu |
Bản án số 20/2025/HSST ngày 17/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG - TỈNH BẮC GIANG về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 20/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG - TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
