Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH THUỶ

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 20/2025/HSST

Ngày 15-04-2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH THUỶ, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Tấn

Các hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Hồng Canh

Ông Nguyễn Thành Lâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Quỳnh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Hán Công Nguyên - Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 và ngày 15 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXXST- HS ngày 17 tháng 3 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số 06/2025/QÐST-HS ngày 28/3/2025 và Thông báo mở lại phiên toà số: 06/TB-TA ngày 01/4/2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Đức T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 12/6/1986; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Nơi ĐKHKTT và Chỗ ở hiện nay: khu A, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Bố đẻ: Nguyễn Trường S; Mẹ đẻ: Vũ Thị T1; Vợ: Đinh Thị Thu L; Có 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2015; Cùng trú tại khu A, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Có 04 anh, chị, em, bị cáo là thứ ba;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ 10 giờ 20 phút ngày 16/01/2025 đến 13 giờ 45phút ngày 20/01/2025. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

2. Họ và tên: Bùi Văn H;Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 28/02/1989; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Nơi ĐKHKTT và C ở hiện nay: khu C, xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Bố đẻ: Bùi Văn H1; Mẹ đẻ: Dương Thị N; Vợ: Đinh Thị H2; Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2023; Cùng trú tại xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Có 04 anh, chị, em, bị cáo là thứ ba; Tiền án: Không.

Tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 62/QĐ-XPHC ngày 15/03/2024 của Công an huyện T xử phạt 350.000đ về hành vi mua số lô, số đề. Ngày 19/3/2024, bị cáo đã chấp hành xong Quyết định.

1

Nhân thân: Bản án số 16/2019/HS-ST ngày 24/4/2019 của Toà án nhân dân huyện Thanh Sơn, t. P xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự (đã được xoá án tích).

Bị cáo không bị bắt, tạm giữ, tạm giam. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

3. Họ và tên: Nguyễn Văn K2; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 10/6/1980; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 05/12; Nơi ĐKHKTT và Chỗ ở hiện nay: khu H, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Bố đẻ: Nguyễn Văn T2; Mẹ đẻ: Đinh Thị H3 (đã chết); Vợ: Đinh Thị Thanh Y; Có 02 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2009; Cùng trú tại xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Có 02 anh, em, bị cáo là thứ nhất;

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Bản án số 16/2019/HS-ST ngày 24/4/2019 của Toà án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự (đã được xoá án tích).

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ 10 giờ 20 phút ngày 16/01/2025 đến 15 giờ 45 phút ngày 20/01/2025. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

4. Họ và tên: Nguyễn Văn T3; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 20/10/1984; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Nơi ĐKHKTT và Chỗ ở hiện nay: khu I, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Bố đẻ: Nguyễn Quang T4; Mẹ đẻ: Đặng Thị H4; Vợ: Nguyễn Thị T5; Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2018;Cùng trú tại xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Có 02 anh, em, bị cáo là thứ nhất;

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Bản án số 16/2012/HS-ST ngày 24/5/2012 của Toà án nhân dân huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ xử phạt 6.000.000đ về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự (đã được xoá án tích).

Bị cáo không bị bắt, tạm giữ, tạm giam. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

5. Họ và tên: Nguyễn Anh T6; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 27/11/1977; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Nơi ĐKHKTT và C ở hiện nay: khu C, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Bố đẻ: Nguyễn Công L1; Mẹ đẻ: Trần Thị D (đã chết);Vợ: Đinh Thị D1; Có 03 con, lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2022; Cùng trú tại xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Có 06 anh, em, bị cáo là thứ hai;

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Bản án số 19/2010/HS-ST ngày 29/7/2010 của Toà án nhân dân huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự (đã được xoá án tích).

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ 10 giờ 20 phút ngày 16/01/2025 đến 16 giờ 05 phút ngày 20/01/2025. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

6. Họ và tên: Trần Quang S1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 29/9/1983; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Nơi ĐKHKTT và Chỗ ở hiện nay: khu Q, xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Bố đẻ: Trần Văn T7; Mẹ đẻ: Bùi Thị N1; Vợ: Phan Thúy N2; Có 04 con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2017; Cùng trú tại xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Có 02 anh, em, bị cáo là thứ nhất;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ 10 giờ 20 phút ngày 16/01/2025 đến 14 giờ 45 phút ngày 20/01/2025. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

7. Họ và tên: Nguyễn Văn H5; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 04/6/1988; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Nơi ĐKHKTT và C ở hiện nay: khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Bố đẻ: Nguyễn Văn N3; Mẹ đẻ: Trần Thị Y1; Vợ: Nguyễn Thị K; Có 04 con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2023; Cùng trú tại xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Có 05 anh, em, bị cáo là thứ tư;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ 10 giờ 20 phút ngày 16/01/2025 đến 15 giờ 05 phút ngày 20/01/2025. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

8. Họ và tên: Phùng Văn T8; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 02/10/1992; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Nơi ĐKHKTT và Chỗ ở hiện nay: khu G, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Bố đẻ: Phùng Thái T9; Mẹ đẻ: Lại Thị T10; Vợ: Hoàng Thanh T11; Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2019, nhỏ nhất sinh năm 2024; Cùng trú tại xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Có 05 anh, em, bị cáo là thứ tư;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ 10 giờ 20 phút ngày 16/01/2025 đến 15 giờ 25 phút ngày 20/01/2025. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

9. Họ và tên: Hà Văn T12; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 07/8/1988; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Nơi ĐKHKTT và Chỗ ở hiện nay: khu E, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Bố đẻ: Hà Văn K1; Mẹ đẻ: Trần Thị L2; Vợ: Phạm Thị H6; Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2023; Cùng trú tại xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Có 05 anh, em, bị cáo là thứ ba; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo không bị bắt, tạm giữ, tạm giam. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

(Các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 20 phút ngày 16/01/2025, tại nhà ở của Phạm Thanh T13, sinh năm 1974, ở khu G, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ, tổ công tác Công an huyện T phát hiện bắt quả tang 06 đối tượng đang đánh bạc dưới hình thức chơi Liêng được thua bằng tiền gồm: Nguyễn Đức T, Phùng Văn T8, Trần Quang S1, Nguyễn Văn H5, Nguyễn Văn K2 và Nguyễn Anh T6. Lợi dụng sơ hở trong quá trình bắt giữ 03 đối tượng Bùi Văn H, Hà Văn T12 và Nguyễn Văn T3 đã bỏ chạy. Thu giữ tại nơi các đối tượng đang ngồi đánh bạc: 52 quân bài tú lơ khơ từ A đến K; số tiền 8.750.000 đồng. Ngoài ra còn thu giữ của Nguyễn Đức T số tiền 3.600.000 đồng, 01 điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A5 2020 màu trắng, bên trong lắp sim số: 0975.480.465; thu giữ của Phùng Văn T8: số tiền 63.500.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung galaxy A13 màu đen, bên trong lắp sim số: 0389.402.183; thu giữ của Trần Quang S1 số tiền 35.320.000 đồng, 01 ví giả da màu nâu, 01 điện thoại di động, nhãn hiệu SamSung Galaxy A14 màu đen, bên trong lắp sim số: 0978.300.416; thu giữ của Nguyễn Văn H5 số tiền 25.160.000 đồng, 01 điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A58, màu xanh đã, bên trong lắp sim số: 0388.708.969; thu giữ của Nguyễn Văn K2 số tiền 40.000 đồng, 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu trắng, bên trong lắp sim số: 0979.445.234; thu giữ của Nguyễn Anh T6 01 điện thoại di động, nhãn hiệu SamSung A14 màu tím, bên trong lắp sim số: 0969.250.858 và 0966.357.396. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong đồ vật, tài sản liên quan và đưa các đối tượng về trụ sở Cơ quan điều tra để tiếp tục điều tra làm rõ theo quy định của pháp luật.

Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Thanh T13 tạm giữ: 01 xe ô tô tải có mui, nhãn hiệu THACO, màu trắng, BKS: 19C-232.01; 01 xe ô tô tải có mui, nhãn hiệu HUYNDAI, màu xanh, BKS: 19C-225.03; 01 xe ô tô tải có mui, nhãn hiệu THACO, màu xanh, BKS: 196 225.24; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Dream, màu sơn nâu; BKS: 19L1- 091.85; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave, màu xanh đen bạc, BKS: 19L1-165.20; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave, màu sơn đen bạc, BKS: 19L1-218.42; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe Sirius, màu sơn đen bạc, BKS: 19C1-363.97; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave, màu sơn đen bạc, BKS: 19L1-338.03.

Tại Cơ quan điều tra, các đối tượng đã khai nhận hành vi phạm tội như sau: Nguyễn Đức T, Nguyễn Anh T6, Phùng Văn T8, Nguyễn Văn H5, Hà Văn T12, Nguyễn Văn T3, Trần Quang S1, Bùi Văn H, Nguyễn Văn K2 và Phạm Thanh T13 (chủ nhà) đều là những người làm nghề buôn bán lợn có quen biết nhau từ trước. Hàng ngày vào buổi sáng, các bị cáo thường đến nhà ở của Phạm Thanh T13 để trao đổi công việc và mua bán lợn với nhau. Khoảng hơn 9 giờ ngày 16/01/2025, Phùng Văn T8, Nguyễn Đức T, Nguyễn Văn T3, Hà Văn T12, Nguyễn Anh T6 đến nhà ở của Phạm Thanh T13 ngồi uống nước tại bàn uống nước kê trước hiên nhà, tiếp giáp với bếp. Đến khoảng 9 giờ 30 phút cùng ngày, Phạm Thanh T13 đi sang nhà anh trai là Phạm Hồng T14, sinh năm 1970, ở khu G, xã Đ, huyện T để bàn bạc việc tảo mộ cho bố đẻ và các cụ trong gia đình. Nguyễn Đức T rủ Phùng Văn T8, Nguyễn Văn T3, Hà Văn T12, Nguyễn Anh T6 đánh bạc dưới hình thức chơi Liêng được thua bằng tiền thì T8, T3, T12, T6 đồng ý. T lấy bộ bài tú lơ khơ 52 quân từ A đến K sẵn có dưới gầm bàn uống nước làm dụng cụ đánh bạc.

Các đối tượng thống nhất đánh bạc dưới hình thức chơi Liêng được thua thanh toán bằng tiền, cách thức chơi và tỷ lệ cá cược như sau: Sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 quân từ A đến K làm dụng cụ đánh bạc. Bắt đầu ván chơi, mỗi người chơi đặt cược số tiền 50.000 đồng “tiền gà”, người cầm cái chia kín cho mỗi người chơi 03 quân bài. Sau đó, người chơi xem các quân bài trên tay, nếu thấy bài cao thì tham gia “tố” (thấp nhất là 50.000 đồng, cao nhất là 200.000 đồng), nếu bài thấp thì có thể “úp bài”, không tham gia tố và phải chịu mất số tiền cược. Người cầm cái được tố trước, sau đó lần lượt những người chơi còn lại “theo” hoặc “tố” thêm theo chiều ngược chiều kim đồng hồ đến hết vòng khi không còn ai “tố” thì ngửa bài để phân thắng thua theo thứ tự từ thấp đến cao “Sáp >Liêng > Ảnh > điểm” như sau:

  • Sáp: là có 03 quân bài trùng nhau, nhỏ nhất là sáp 2.2.2, lớn nhất là sáp A.A.A.
  • Liêng: là có 03 quân bài liền kề, lớn nhất là Q, nhỏ nhất là 2.3.4. Nếu liêng bằng nhau thì xét chất quân bài để phân thắng thua theo thứ tự từ cao xuống thấp là Rô-Cơ-Tép-B.
  • Ảnh: là có 03 quân bài hình người, lớn nhất là K, nhỏ nhất là J. Nếu ảnh bằng nhau thì xét chất của quân bài để phân thắng thua theo thứ tự từ cao xuống thấp là Rô-Cơ-Tép-B.
  • Tính điểm: Cộng điểm tổng của 03 quân bài, lấy điểm hàng đơn vị của tin tổng để so sánh cao thấp (quân A=1 điểm, quân J.Q.K=0 điểm, cao nhất là 9 điểm, thấp nhất là 0 điểm).

Người thắng sẽ được thu hết số tiền cược và tiền tố của người chơi trong ván bạc đó. Nếu người thắng được “sáp” hay “đồng hoa” (là liêng có 3 quân cùng chất) thì mỗi ngươi chơi mất thêm số tiền 50.000 đồng cho người thắng.

Đến khoảng 9 giờ 40 phút cùng ngày, Nguyễn Văn H5, Trần Quang S1 đến nhà Nguyễn Thanh T15 và cùng tham gia đánh bạc; đến khoảng gần 10 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn K2, Bùi Văn H đến nhà Phạm Thanh T13 và cùng tham gia đánh bạc. Các bị cáo đánh bạc đến 10 giờ 20 phút cùng ngày thì bị tổ công tác Công an huyện T phát hiện bắt quả tang như đã nêu trên. Lợi dụng sơ hở khi bắt giữ Bùi Văn H, Hà Văn T12 và Nguyễn Văn T3 đã bỏ chạy thoát, bỏ lại toàn bộ số tiền đánh bạc ở trên bàn, không mang theo đồ vật, tài sản gì. Đến ngày 20/01/2025, các bị cáo Bùi Văn H, Hà Văn T12, Nguyễn Văn T3 đã đến Cơ quan CSĐT Công an huyện T đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội.

Về số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc đã được chứng minh, cụ thể: Nguyễn Đức T sử dụng số tiền 4.100.000 đồng; Nguyễn Anh T6 sử dụng số tiền 500.000 đồng; Phùng Văn T8 sử dụng số tiền 4.000.000 đồng; Nguyễn Văn H5 sử dụng số tiền 5.960.000 đồng; Nguyễn Văn K2 sử dụng số tiền 2.040.000 đồng; Trần Quang S1 sử dụng số tiền 6.120.000 đồng; Bùi Văn H sử dụng số tiền 1.300.000 đồng; Hà Văn T12 sử dụng số tiền 1.250.000 đồng; Nguyễn Văn T3 sử dụng số tiền 1.100.000 đồng. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 26.370.000 đồng.

Đối với số tiền Cơ quan điều tra tạm giữ trên người của các bị cáo trong quá trình bắt giữ gồm: Phùng Văn T8 số tiền 60.000.000 đồng; Trần Quang S1 số tiền 30.000.000 đồng; Nguyễn Văn H5 số tiền 20.000.000 đồng. Quá trình điều tra xác định số tiền trên các bị cáo sử dụng để mua lợn, không sử dụng vào mục đích đánh bạc.

Tại Cơ quan điều tra, các Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nên trên.

Cơ quan CSĐT công an huyện T đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Đức T, Nguyễn Anh T6, Phùng Văn T8, Nguyễn Văn H5, Hà Văn T12, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Văn K2, Trần Quang S1 và Bùi Văn H về tội “Đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

- Vật chứng vụ án gồm: 52 quân bài tú lơ khơ; số tiền 26.370.000 đồng.

Bản Cáo trạng số: 18/CT-VKSTT ngày 11/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ đã truy tố các bị cáo Nguyễn Đức T, Nguyễn Anh T6, Phùng Văn T8, Nguyễn Văn H5, Hà Văn T12, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Văn K2, Trần Quang S1 và Bùi Văn H về tội “Đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên – Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Thủy vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • *Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Bùi Văn H.
  • *Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn K2, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Anh T6.
  • *Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Đức T, Phùng Văn T8, Nguyễn Văn H5, Trần Quang S1. (bị cáo Nguyễn Đức T được áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự)
  • *Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1, khoản 3 Điều 35 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Hà Văn T12.

1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Đức T, Bùi Văn Huấn Nguyễn Văn K2, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Anh T6, Phùng Văn T8, Nguyễn Văn H5, Trần Quang S1, Hà Văn T12 phạm tội "Đánh bạc".

2. Xử phạt:

  • Xử phạt bị cáo Bùi Văn H: từ 06 đến 09 tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T: từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ, được khấu trừ thời gian tạm giữ là 05 (năm) ngày (từ ngày 16/01/2025 đến ngày 20/01/2025) quy đổi thành 15 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành từ 11 tháng 15 ngày đến 14 tháng 15 ngày cải tạo không giam giữ.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K2: từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ, được khấu trừ thời gian tạm giữ là 05 (năm) ngày (từ ngày 16/01/2025 đến ngày 20/01/2025) quy đổi thành 15 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành từ 11 tháng 15 ngày đến 14 tháng 15 ngày cải tạo không giam giữ.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T3: từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T6: từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ, được khấu trừ thời gian tạm giữ là 05 (năm) ngày (từ ngày 16/01/2025 đến ngày 20/01/2025) quy đổi thành 15 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành từ 11 tháng 15 ngày đến 14 tháng 15 ngày cải tạo không giam giữ.
  • Xử phạt bị cáo Trần Quang S1: từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ, được khấu trừ thời gian tạm giữ là 05 (năm) ngày (từ ngày 16/01/2025 đến ngày 20/01/2025) quy đổi thành 15 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành từ 05 tháng 15 ngày đến 08 tháng 15 ngày cải tạo không giam giữ.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H5: từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ, được khấu trừ thời gian tạm giữ là 05 (năm) ngày (từ ngày 16/01/2025 đến ngày 20/01/2025) quy đổi thành 15 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành từ 05 tháng 15 ngày đến 08 tháng 15 ngày cải tạo không giam giữ.
  • Xử phạt bị cáo Phùng Văn T8: từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ, được khấu trừ thời gian tạm giữ là 05 (năm) ngày (từ ngày 16/01/2025 đến ngày 20/01/2025) quy đổi thành 15 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành từ 05 tháng 15 ngày đến 08 tháng 15 ngày cải tạo không giam giữ.

Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh P nhận được Quyết định thi hành án và bản sao Bản án. Giao bị cáo Nguyễn Đức T, Nguyễn Văn K2, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Anh T6, Phùng Văn T8, Nguyễn Văn H5, Trần Quang S1 cho UBND xã (nơi bị cáo cư trú) giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo đúng quy định về thi hành án phạt cải tạo không giam giữ của Luật thi hành án hình sự.

Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Đức T, Nguyễn Văn K2, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Anh T6, Phùng Văn T8, Nguyễn Văn H5, Trần Quang S1

Trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, Bị cáo Nguyễn Đức T, Nguyễn Văn K2, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Anh T6, Phùng Văn T8, Nguyễn Văn H5, Trần Quang S1 phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.

- Xử phạt bị cáo Hà Văn T12 số tiền 30.000.000đ - 40.000.000₫

*Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

3. Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Căn cứ Điểm a, b Khoản 1, Điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 2, Khoản 3, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

  • Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 26.370.000đ (Hai mươi sáu triệu ba trăm bảy mươi nghìn đồng) là tiền số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc.
  • Tịch thu, tiêu hủy 52 quân bài tú lơ khơ từ A đến K.
  • *Xác nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho các chủ sở hữu các tài sản không liên quan đến hành vi phạm tội là hợp pháp
  • *Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Đức T, Nguyễn Anh T6, Phùng Văn T8, Nguyễn Văn H5, Hà Văn T12, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Văn K2, Trần Quang S1 và Bùi Văn H mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt và xin được cải tạo tại địa phương.

Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu và chứng cứ được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1. Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

2. Về nội dung vụ án:

[1] Tại phiên toà, các bị cáo đều đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu, thừa nhận nội dung cáo trạng truy tố là đúng, không oan sai. Lời khai nhận của các bị cáo tại cơ quan điều tra và lời khai nhận tại phiên tòa đều thống nhất với nhau, phù hợp với nội dung vụ án và phù hợp với vật chứng thu giữ. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:

Hồi 10 giờ 20 phút ngày 16/01/2025, tại nhà ở của Phạm Thanh T13, sinh năm 1974, ở khu G, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Đức T, Nguyễn Anh T6, Phùng Văn T8, Nguyễn Văn H5, Hà Văn T12, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Văn K2, Trần Quang S1 và Bùi Văn H đã có hành vi tham gia đánh bạc dưới hình thức chơi Liêng, được thua bằng tiền với tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 26.370.000 đồng.

Số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc đã đến mức xử lý về hình sự, hành vi đó đủ căn cứ cấu thành tội phạm theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất cứ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

[2] Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của các bị cáo là cố ý và gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự, nếp sống văn minh của cộng đồng dân cư, gây mất trật tự, trị an xã hội. Các bị cáo đều là những người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có nhận thức đầy đủ về hành vi mình thực hiện là vi phạm pháp luật, nhưng chỉ vì muốn kiếm tiền nhanh chóng các bị cáo đã thực hiện hành vi sát phạt nhau trên chiếu bạc. Hành vi của các bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật với mục đích là thu lời bất chính. Do đó cần phải xử phạt các bị cáo hình phạt nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[3] Xét nhân thân, vai trò các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:

Về nhân thân:

Các bị cáo Nguyễn Đức T, Trần Quang S1, Nguyễn Văn H5, Phùng Văn T8, Hà Văn T12 không có tiền án, tiền sự là những người có nhân thân tốt. Bị cáo Nguyễn Văn K2, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Anh T6 lịch sử bản thân đã bị xử lý hình sự nhưng đã được xóa án tích. Bị cáo Bùi Văn H có 01 tiền sự về hành vi mua số lô số đề năm 2024 chưa được xoá.

Về vai trò:

Bị cáo Nguyễn Đức T là người khởi xướng, rủ các đối tượng khác thực hiện hành vi phạm tội; các bị cáo còn lại sau khi được rủ đã tích cực tham gia vào việc đánh bạc.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo Nguyễn Đức T, Nguyễn Anh T6, Phùng Văn T8, Nguyễn Văn H5, Hà Văn T12, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Văn K2, Trần Quang S1 và Bùi Văn H đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Khoản 1, Điều 52 BLHS.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

các bị cáo Nguyễn Đức T, Trần Quang S1, Nguyễn Văn H5, Phùng Văn T8, Hà Văn T12 đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đã thể hiện sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” và “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo quy định tại Điểm i, s Khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo Bùi Văn H, Hà Văn T12, Nguyễn Văn T3 sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã ra đầu thú; Bị cáo Nguyễn Đức T có bố đẻ từng tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước, là thương binh hạng ¼; trong quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo Nguyễn Văn K2 có tham gia đóng góp, ủng hộ quỹ vì người nghèo xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ; bị cáo Nguyễn Anh T6 được Chủ tịch UBND xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ tặng Giấy khen do đã có nhiều thành tích xây dựng nông thôn mới ở khu dân cư. Vì vậy, các bị cáo H, T12, T3, T, K2, T6 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt chính: Từ sự phân tích trên, xét thấy, bị cáo Bùi Văn H có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt về tội đánh bạc, năm 2024 bị cáo có 01 tiền sự là bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi mua số lô, số đề nhưng không lấy đó làm bài học, tiếp tục hành vi phạm tội. Vì vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, áp dụng hình phạt tù để có tác dụng răn đe đối với bị cáo.

Đối với các bị cáo Nguyễn Đức T, Nguyễn Văn K2, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Anh T6, Phùng Văn T8, Nguyễn Văn H5, Trần Quang S1 được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú ổn định, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo ít nghiêm trọng nên không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội. Chỉ cần áp dụng hình phạt Cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo T, K2, T3, T6, S1, H5, T8; Tuy nhiên cũng cần xét đến vai trò, nhân thân, số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc để đưa ra mức hình phạt tương xứng đối với các bị cáo. Bị cáo T mặc dù có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhưng có vai trò khởi xướng để các bị cáo khác cùng tham gia đánh bạc; các bị cáo K2, T3, T6 có nhân thân đã từng bị Toà án xử phạt về các tội đánh bạc, tàng trữ trái phép chất ma tuý. Vì vậy cần áp dụng thời gian cảo tạo không giam giữ nhiều hơn đối với các bị cáo S1, H5, T8 là những người có nhân thân tốt; giao các bị cáo cho UBND xã giám sát giáo dục; bị cáo Hà Văn T12 có nhiều tình tiết giảm nhẹ, số tiền đánh bạc ít vì vậy chỉ cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính cũng đủ để cải tạo các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội, hơn nữa thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Về hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập: Theo quy định tại Khoản 3, Điều 321BLHS: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đồng đến 50.000.000 đồng.

Đối với bị cáo Hà Văn T12: Hội đồng xét xử đã xem xét áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với T12. Còn các bị cáo khác: Qua xác minh của cơ quan Điều tra thể hiện các bị cáo đang sinh sống cùng gia đình, là lao động tự do và không có tài sản riêng có giá trị. Vì vậy, cần miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6] Đối với anh Phạm Thanh T13 là chủ nhà nơi các bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc: Quá trình điều tra xác định thời điểm các bị cáo đánh bạc thì anh T13 không có mặt ở nhà, không biết, không tham gia bàn bạc gì trước đó và không được hưởng lợi ích gì từ việc các bị cáo đánh bạc tại nhà ở của mình. Vì vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý anh Phạm Thanh T13 trong vụ án này là phù hợp.

[7]Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng:

  • Đối với số tiền 26.370.000 đồng (Hai mươi sáu triệu ba trăm bảy mươi nghìn đồng) là tiền số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc. Trong đó của bị cáo Nguyễn Đức T có 4.100.000 đồng; bị cáo Nguyễn Anh T6 có 500.000 đồng; bị cáo Phùng Văn T8 có 4.000.000 đồng; bị cáo Nguyễn Văn H5 có 5.960.000 đồng; bị cáo Nguyễn Văn K2 có 2.040.000 đồng; bị cáo Trần Quang S1 có 6.120.000 đồng; bị cáo Bùi Văn H có 1.300.000 đồng; bị cáo Hà Văn T12 có 1.250.000 đồng và bị cáo Nguyễn Văn T3 có 1.100.000 đồng; cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
  • Đối với 52 quân bài tú lơ khơ là công cụ dùng để đánh bạc, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu, tiêu hủy.
  • *Xác nhận ngày 17/2/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện T ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp, gồm:
    • - Trả lại cho bị cáo Phùng Văn T8: 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung galaxy A13 màu đen, bên trong lắp sim số: 0389.402.183;
    • - Trả lại cho Hoàng Thanh T11, sinh năm 1998, ở khu G, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ (là vợ của bị cáo Phùng Văn T8): 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe: Wave, màu sơn đen bạc; BKS: 19L1-218,42;
    • - Trả lại cho Phùng Thị L3, sinh năm 1990, ở khu G, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ (là chị gái của bị cáo Phùng Văn T8): số tiền 60.000.000 đồng;
    • - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đức T: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A5 2020 màu trắng đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số: 0975.480.465; 01 xe ô tô tải có mui, nhãn hiệu THACO, màu Xanh, BKS: 19C-225.24;
    • - Trả lại cho bị cáo Trần Quang S1: số tiền 30.000.000 đồng; 01 ví giả da màu nâu đã cũ; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu SamSung Galaxy A14 màu đen, bên trong lắp sim số: 0978.300.416; 01 xe ô tô tải có mui, nhãn hiệu THACO, màu Trắng, BKS: 19C-232.01;
    • - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H5: số tiền 20.000.000 đồng; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A58, màu xanh, bên trong lắp sim số: 0388.708.969; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave, màu sơn Xanh đen bạc; BKS: 19L1-165.20;
    • - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn K2: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu trắng, bên trong lắp sim số: 0979.445.234; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Dream, màu sơn Nâu, BKS: 19L1- 091.85;
    • - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Anh T6: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu SamSung A14 màu tím, bên trong lắp sim số: 0969.250.858 và 0966.357.396; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave, màu sơn đen; BKS: 19L1-338.03;
    • - Trả lại cho bị cáo Hà Văn T12: 01 xe ô tô tải có mui, nhãn hiệu HUYNDAI, màu: Xanh, BKS: 19C-225.03;
    • - Trả lại cho bị cáo Bùi Văn H: 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe: Sirius, màu sơn: đen; BKS: 19C1-363.97.

[8]Về án phí, Quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

[9] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • *Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Bùi Văn H.
  • *Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự; Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn K2, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Anh T6.
  • *Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự; Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Đức T, Phùng Văn T8, Nguyễn Văn H5, Trần Quang S1 (bị cáo Nguyễn Đức T được áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự).
  • *Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1, khoản 3 Điều 35 Bộ luật hình sự; Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự đối với bị cáo Hà Văn T12.

1. Tuyên bố:

Các bị cáo Nguyễn Đức T, Bùi Văn Huấn Nguyễn Văn K2, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Anh T6, Phùng Văn T8, Nguyễn Văn H5, Trần Quang S1, Hà Văn T12 phạm tội "Đánh bạc".

2. Xử phạt:

  • Xử phạt bị cáo Bùi Văn H: 07 (bảy) tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T: 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ, được khấu trừ thời gian tạm giữ là 05 (năm) ngày (từ ngày 16/01/2025 đến ngày 20/01/2025) quy đổi thành 15 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 11 (mười một) tháng 15 (mười lăm) ngày cải tạo không giam giữ.

    Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh P nhận được Quyết định thi hành án và bản sao Bản án. Giao bị cáo Nguyễn Đức T cho UBND xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo đúng quy định về thi hành án phạt cải tạo không giam giữ của Luật thi hành án hình sự.

    Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Đức T.

    Trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, Bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.

  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K2: 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ, được khấu trừ thời gian tạm giữ là 05 (năm) ngày (từ ngày 16/01/2025 đến ngày 20/01/2025) quy đổi thành 15 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 11 (mười một) tháng 15 (mười lăm) ngày cải tạo không giam giữ.

    Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh P nhận được Quyết định thi hành án và bản sao Bản án. Giao bị cáo Nguyễn Văn K2 cho UBND xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo đúng quy định về thi hành án phạt cải tạo không giam giữ của Luật thi hành án hình sự.

    Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Văn K2.

    Trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, Bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.

  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T3: 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh P nhận được Quyết định thi hành án và bản sao Bản án. Giao bị cáo Nguyễn Văn T3 cho UBND xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo đúng quy định về thi hành án phạt cải tạo không giam giữ của Luật thi hành án hình sự.

    Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Văn T3 .

    Trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, Bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.

  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T6: 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ, được khấu trừ thời gian tạm giữ là 05 (năm) ngày (từ ngày 16/01/2025 đến ngày 20/01/2025) quy đổi thành 15 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 11 (mười một) tháng 15 (mười lăm) ngày cải tạo không giam giữ.

    Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh P nhận được Quyết định thi hành án và bản sao Bản án. Giao bị cáo Nguyễn Anh T6 cho UBND xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo đúng quy định về thi hành án phạt cải tạo không giam giữ của Luật thi hành án hình sự.

    Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Anh T6.

    Trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, Bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.

  • Xử phạt bị cáo Trần Quang S1: 07 (bảy) tháng cải tạo không giam giữ, được khấu trừ thời gian tạm giữ là 05 (năm) ngày (từ ngày 16/01/2025 đến ngày 20/01/2025) quy đổi thành 15 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 06 (sáu) tháng 15 (mười lăm) ngày cải tạo không giam giữ.

    Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh P nhận được Quyết định thi hành án và bản sao Bản án. Giao bị cáo Trần Quang S1 cho UBND xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo đúng quy định về thi hành án phạt cải tạo không giam giữ của Luật thi hành án hình sự.

    Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Trần Quang S1 .

    Trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, Bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.

  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H5: 07 (bảy) tháng cải tạo không giam giữ, được khấu trừ thời gian tạm giữ là 05 (năm) ngày (từ ngày 16/01/2025 đến ngày 20/01/2025) quy đổi thành 15 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 06 (sáu) tháng 15 (mười lăm) ngày cải tạo không giam giữ.

    Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh P nhận được Quyết định thi hành án và bản sao Bản án. Giao bị cáo Nguyễn Văn H5 cho UBND xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo đúng quy định về thi hành án phạt cải tạo không giam giữ của Luật thi hành án hình sự.

    Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Văn H5 .

    Trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, Bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.

  • Xử phạt bị cáo Phùng Văn T8: 07 (bảy) tháng cải tạo không giam giữ, được khấu trừ thời gian tạm giữ là 05 (năm) ngày (từ ngày 16/01/2025 đến ngày 20/01/2025) quy đổi thành 15 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 06 (sáu) tháng 15 (mười lăm) ngày cải tạo không giam giữ.

    Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh P nhận được Quyết định thi hành án và bản sao Bản án. Giao bị cáo Phùng Văn T8 cho UBND xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo đúng quy định về thi hành án phạt cải tạo không giam giữ của Luật thi hành án hình sự.

    Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Phùng Văn T8.

    Trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, Bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.

  • Xử phạt: bị cáo Hà Văn T12 số tiền 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng).

*Về hình phạt bổ sung:

Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo Nguyễn Đức T, Bùi Văn H, Nguyễn Văn K2, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Anh T6, Phùng Văn T8, Nguyễn Văn H5, Trần Quang S1, Hà Văn T12

*Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 12, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20 /2025/HSST-LCCT ngày 13/3/2025 lần lượt đối với các bị cáo: Nguyễn Đức T, Nguyễn Văn K2, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Anh T6, Trần Quang S1, Nguyễn Văn H5, Phùng Văn T8, Hà Văn T12.

3. Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng:

Căn cứ Điểm a, b Khoản 1, Điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 2, Khoản 3, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

  • Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 26.370.000đ (Hai mươi sáu triệu ba trăm bảy mươi nghìn đồng) là tiền số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc.
  • Tịch thu, tiêu hủy 52 quân bài tú lơ khơ từ A đến K.
  • (Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ đang quản lý).
  • *Xác nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho các chủ sở hữu các tài sản không liên quan đến hành vi phạm tội là hợp pháp, gồm:
    • - Trả lại cho bị cáo Phùng Văn T8: 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung galaxy A13 màu đen, bên trong lắp sim số: 0389.402.183;
    • - Trả lại cho Hoàng Thanh T11, sinh năm 1998, ở khu G, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ (là vợ của bị cáo Phùng Văn T8): 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe: Wave, màu sơn đen bạc; BKS: 19L1-218.42;
    • - Trả lại cho Phùng Thị L3, sinh năm 1990, ở khu G, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ (là chị gái của bị cáo Phùng Văn T8): số tiền 60.000.000 đồng;
    • - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đức T: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A5 2020 màu trắng đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số: 0975.480.465; 01 xe ô tô tải có mui, nhãn hiệu THACO, màu Xanh, BKS: 19C-225.24;
    • - Trả lại cho bị cáo Trần Quang S1: số tiền 30.000.000 đồng; 01 ví giả da màu nâu đã cũ; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu SamSung Galaxy A14 màu đen, bên trong lắp sim số: 0978.300.416; 01 xe ô tô tải có mui, nhãn hiệu THACO, màu Trắng, BKS: 19C-232.01;
    • - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H5: số tiền 20.000.000 đồng; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A58, màu xanh, bên trong lắp sim số: 0388.708.969; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave, màu sơn Xanh đen bạc; BKS: 19L1-165.20;
    • - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn K2: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu trắng, bên trong lắp sim số: 0979.445.234; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Dream, màu sơn Nâu, BKS: 19L1- 091.85;
    • - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Anh T6: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu SamSung A14 màu tím, bên trong lắp sim số: 0969.250.858 và 0966.357.396; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave, màu sơn đen; BKS: 19L1-338.03;
    • - Trả lại cho bị cáo Hà Văn T12: 01 xe ô tô tải có mui, nhãn hiệu HUYNDAI, màu: Xanh, BKS: 19C-225.03;
    • - Trả lại cho bị cáo Bùi Văn H: 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe: Sirius, màu sơn: đen; BKS: 19C1-363.97.

4. Về án phí:

Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Nguyễn Đức T, Bùi Văn Huấn Nguyễn Văn K2, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Anh T6, Phùng Văn T8, Nguyễn Văn H5, Trần Quang S1, Hà Văn T12, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

*Quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo Bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - VKSND huyện Thanh Thuỷ,
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - Văn phòng CQ CSĐT Công an tỉnh Phú Thọ;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Phú Thọ;
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Chi cục THADS huyện Thanh Thuỷ;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Trọng Tấn

15

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HSST ngày 15/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH THUỶ, TỈNH PHÚ THỌ về hình sự sơ thẩm (tội đánh bạc)

  • Số bản án: 20/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH THUỶ, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức T cùng đồng phạm đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger