Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ CHƠN THÀNH

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 20/2025/HSST

Ngày: 11/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thành Đức

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Minh Sơn

2. Ông Phạm Minh Tuấn

- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Hồng Huế – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Bồ Đức Trọng – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 01/2025/HSST ngày 06 tháng 01 năm 2025, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/HSST-QĐ ngày 08/01/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Công K; Tên gọi khác: không; Sinh năm: 1982, tại tỉnh Nghệ An; Nơi thường trú: tổ A, ấp D, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương; Nơi ở hiện tại: tổ A, ấp D, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: tự do; Chức vụ: Không; Văn hóa: 12/12; Cha: Nguyễn Công P, sinh năm 1958 (đã chết); Mẹ: Nguyễn Thị N, sinh năm: 1960;Vợ: Nguyễn Thị Diệu T, sinh năm 1983; Con: 03 người, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2023;Tiền sự: không; Tiền án: ngày 11/8/2008 bị Tòa án nhân dân huyện (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương xử 01 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích cho người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” tại Bản án số 117/HSST ngày 11/8/2008. Tổng hợp với hình phạt còn lại 1 tháng 26 ngày tù của bản án số 27 ngày 11/9/2006 của Tòa án huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, buộc Nguyễn Công K phải chấp hành hình phạt 13 tháng 26 ngày tù tại bản án số 177/2008/HSST. Nhân thân: Ngày 23/7/2004, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại Bản án số 63/HSPT.

Ngày 15 tháng 9 năm 2024, có hành vi Cố ý gây thương tích, bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp. Ngày 21/9/2024 bị khởi tố và áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1975 (có mặt).

Nơi ở: Khu phố B, phường T, thị xã C, tỉnh Bình Phước.

Nơi thường trú: tổ D, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương

Người làm chứng:

  • + Ông Bùi Văn V, sinh năm: 1993, nơi thường trú: Khu phố B, phường T, thị xã C, tỉnh Bình Phước (Vắng mặt ).
  • + Ông Lê Quang H, sinh năm 1985, nơi thường trú: khu phố T, phường T, thị xã C, tỉnh Bình Phước (Vắng mặt ).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Công K có mối quan hệ quen biết với chị Nguyễn Thị N và chồng của chị N là anh Bùi Văn H1. Năm 2021, anh H1 và chị N vay số tiền 3,3 tỷ của K để làm ăn. Đến cuối năm 2023, K nhiều lần đòi lại tiền thì anh H1 và chị N đã trả cho K được số tiền hơn 2 tỷ đồng còn nợ số tiền 730.000.000đ. Đến tháng 7/2024, K đã nộp đơn khởi kiện anh H1 và chị N đến Toà án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương để giải quyết. Tuy nhiên, anh H1 và chị N không hợp tác đến Toà án nhân dân huyện Bàu Bàng để làm việc.

Khoảng 17 giờ ngày 15/9/2024, sau khi đi nhậu về, K thấy tin nhắn phải đóng tiền lãi ngân hàng nên bực tức việc anh H1 và chị N nợ tiền không trả, K xuống bếp lấy 01 con Dao bầu dài 39,3cm (cán dao bằng gỗ dài 13cm, lưỡi dao dài 16,3cm) bỏ vào một ba lô màu đỏ rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đen, biển số 61K1-179.38 đến nhà anh H1 và chị N mục đích để hù doạ đòi lại tiền để đóng lãi ngân hàng. Khi K đến nhà anh H1 và chị N tại địa chỉ: Khu phố B, phường T, thị xã C, K vào ngồi nói chuyện với chị N để đòi lại tiền. Tại đây có anh Bùi Văn V và anh Lê Quang H (cháu chị N) đến chơi. K hỏi chị N về việc anh H1 đâu rồi sao không trả nợ cho K thì chị N trả lời anh H1 đã về quê có gì thì chờ anh H1 vào rồi giải quyết. Nghe vậy, K bực tức dùng tay kéo khoá ba lô màu đỏ ra rồi dùng tay trái lấy con Dao bầu chém vùng vai phải chị N để gây thương tích. Thấy K đưa dao lên để chém mình thì chị N né tránh về sau nên trúng vào vùng dưới cổ gây nên trầy xước ngoài da. K tiếp tục chém nhát thứ hai hướng vào vùng vai phải của chị N thì chị N đưa hai tay lên đỡ nên bị dao chém trúng vào mu bàn tay trái, K tiếp tục chém thêm một nhát nữa thì trúng vào mu bàn tay phải của chị N và bị rớt dao xuống đất, thấy K dùng dao chém chị N gây thương tích, anh V và anh H đang đứng gần đó đến can ngăn đẩy K ra đường. Sau đó, K điều khiển xe mô tô về nhà, còn chị N được anh V đưa đến Bệnh viện P1, phường T, thị xã C để điều trị thương tích, đồng thời trình báo Công an phường T.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Công K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại Giấy chứng nhận thương tích số 237 ngày 18/9/2024 của Bệnh viện P1 xác định thương tích của chị Nguyễn Thị N như sau:

  • - Vết thương phần mềm trầy da vùng cổ dài 10cm.
  • - Vết thương mu bàn tay trái khoảng 6cm, đứt gân duỗi ngón II, III, IV. Gãy chỏm xương bàn tay trái
  • - Vết thương mu bàn tay phải khoảng 4cm, đứt gân duỗi ngón III.

Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 573/2024/TTPY ngày 21/9/2024, của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích hiện tại gây nên đối với chị Nguyễn Thị N là 06%. (Bút lục 22-26)

Cáo trạng số 07/CT-VKSCT ngày 31/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước truy tố Nguyễn Công K phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm d, khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, xét bị cáo thành khẩn khai báo, thỏa thuận bồi thường thêm cho bị hại và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, 50, 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 18 tháng đến 21 tháng tù. Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định, ghi nhận sự thỏa thuận bồi thường 40.000.000 đồng của bị cáo và bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã C, tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ ngày 15/9/2024, sau khi đi nhậu về, K thấy tin nhắn phải đóng tiền lãi ngân hàng nên bực tức việc anh H1 và chị N nợ tiền không trả, K xuống bếp lấy 01 con dao bầu dài 39,3cm (cán dao bằng gỗ dài 13cm, lưỡi dao dài 16,3cm) bỏ vào một ba lô màu đỏ rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đen, biển số 61K1-179.38 đến nhà anh H1 và chị N để đòi tiền. Khi đến nhà chị N thì chị N nói anh H1 đã về quê có gì thì chờ anh H1 vào rồi giải quyết. Nghe vậy, K dùng tay kéo khoá ba lô màu đỏ ra rồi dùng tay trái lấy con dao bầu chém trúng vùng vai phải, vùng dưới cổ, mu bàn tay trái và mu bàn tay phải của chị N. Kết luận giám định pháp y của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích hiện tại gây nên đối với chị Nguyễn Thị N là 06%. Hành vi dùng 01 con dao bầu dài 39,3cm là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho chị N. Bị hại có đơn yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với K, do đó hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điều 134 của Bộ luật hình sự. Do năm 2008, bị cáo đã bị kết án về tội “Cố ý gây thương tích cho người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng”, với tình tiết tái phạm chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc tình tiết định khung “tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khoẻ của người khác được pháp luật bảo vệ, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[3.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có

[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã nộp số tiền 10 triệu đồng để bồi thường thiệt hại, khắc phục một phần hậu quả, tại Tòa tự nguyện bồi thường tiếp cho bị hại 40.000.000 đồng, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo được Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện B tặng giấy khen nhiều lần đã có thành tích hiến máu tình nguyện, bản thân là người tạo ra thu nhập để nuôi con nhỏ nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên căn cứ Điều 54 của Bộ luật hình sự, xử dưới mức khung hình phạt của Điều luật quy định nhưng phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4]. Về vật chứng vụ án:

  • - 01 dấu vết màu nâu đỏ (nghi máu); Thu giữ 01 dấu vết màu nâu đỏ (nghi máu) tại vị trí số 2, được niêm phong vào túi niêm phong mã số NS4. 1907645, không còn giá trị sử dụng, tịch thu tiêu huỷ.
  • - 01 con dao bầu dài 39,3cm, trong đó có cán bằng gỗ dài 13 cm, đường kính 3,7cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 26,3cm, loại lưỡi dao có sống dao và lưỡi dao, có mũi nhọn, lưỡi dao bầu rộng nhất 5,2cm là hung khí không còn giá trị sử dụng, tịch thu tiêu huỷ.
  • - 01 ba lô màu đỏ không còn giá trị sử dụng, tịch thu tiêu huỷ.
  • - 01 USB (đã được niêm phong) lưu trữ hình ảnh được trích xuất từ camera ghi lại hình ảnh Nguyễn Công K thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 15/09/2024, lưu giữ theo hồ sơ vụ án.

[5] Vấn đề liên quan: Xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đen, biển số 61K1-179.38 là phương tiện do K sử dụng đi thực hiện hành vi phạm tội. Xe mô tô biển số 61K1-179.38 đứng tên chị Nguyễn Thị Diệu T, sinh năm 1983, nơi thường trú: Ấp D, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương, là vợ của Nguyễn Công K. Khi K lấy xe mô tô đi gây thương tích cho chị N thì chị T không biết, Cơ quan cảnh sát điều tra không tạm giữ xe, Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 10.000.000 đồng, tại tòa bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường thêm số tiền 40.000.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường nên ghi nhận sự thỏa thuận của bị hại và bị cáo, bị hại không còn yêu cầu gì thêm.

[7] Đề nghị của kiểm sát viên về hình phạt, xử lý vật chứng, bồi thường dân sự là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[8] Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Công K phạm tội Cố ý gây thương tích.

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Điều 38, 50, 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

2/ Xử phạt bị cáo Nguyễn Công K 01 năm 06 tháng tù, tính từ ngày chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày (15 đến 21/9/2024 ).

3/ Trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 246 Bộ Luật Tố tụng dân sự

Ghi nhận bị cáo Nguyễn Công K bồi thường thêm cho bị hại Nguyễn Thị N số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng)

4/ Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 dấu vết màu nâu đỏ (nghi máu); Thu giữ 01 dấu vết màu nâu đỏ (nghi máu) tại vị trí số 2, được niêm phong vào túi niêm phong mã số NS4. 1907645; 01 con dao bầu dài 39,3cm, trong đó có cán bằng gỗ dài 13 cm, đường kính 3,7cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 26,3cm, loại lưỡi dao có sống dao và lưỡi dao, có mũi nhọn, lưỡi dao bầu rộng nhất 5,2cm; 01 ba lô màu đỏ.

5/ Án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

6/ Quyền kháng cáo: Bị cáo, Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - Phòng PV27-Công an tỉnh BP
  • - VKSND TX. Chơn Thành;
  • - VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - CQ.CSĐT CA tỉnh Bình Phước;
  • - Chi cục THADS TX. Chơn Thành;
  • - Bị cáo
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thành Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HSST ngày 11/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự sơ thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 20/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Công Kiên - Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger