Hệ thống pháp luật
Bản án phúc thẩm
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THANH HÓA
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Bản án số: 20/2025/HSPT Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Ngày: 03/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Tân

Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Tố Như

Bà Trần Thị Thu Phương

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phi, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa:

Bà Nguyễn Thanh Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 13/2025/TLPT- HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 06/2025/HNGĐ - ST ngày 25 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa có kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 12/2025/QĐ - PT ngày 23 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Phùng Văn H, sinh năm: 1979 “Có mặt”

Địa chỉ: Số nhà B, đường D, khu phố F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

- Bị đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm: 1992 “Có mặt”

Nơi ĐKHKTT: Khu phố F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi ở hiện nay: Số nhà G, đường C, khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Người kháng cáo: Bị đơn, Chị Trần Thị T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn anh Phùng Văn H trình bày:

Anh và chị Trần Thị T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, tổ cức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 17/3/2016. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc bình thường, có lúc cãi nhau nhưng xong lại thôi. Đến khoảng đầu năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau về tính tình, bất đồng quan điểm sống, chị T thiếu quan tâm chăm sóc gia đình, đầu năm 2024 chị Thảo đã nộp đơn xin ly hôn, sau đó chị T đã rút đơn nên đã đình chỉ vụ án. Sau khi Tòa án đinh chỉ nhưng mâu thuẫn vợ chồng vẫn nặng nề, nên vợ chồng sống ly thân nhau từ năm 2022 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay anh H xét thấy không còn tình cảm vợ chồng với chị T, nên anh đề nghị Tòa án giải cho anh được ly hôn chị Trần Thị T.

Về con chung: Anh H trình bày vợ chồng có 01 con chung là cháu PhùngĐức T1, sinh ngày 28/7/2017. Lâu nay cháu ở với anh H, ly hôn anh H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, anh H không yêu câu chị Tháo phải câp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản và công nợ: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản biên bản lấy lời khai ngày 21/02/2025 chị Trần Thị T trình bày:

Chị T thừa nhận chị và anh Phùng Văn H kêt hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn T, huyện T, tinh T. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuân là do mâu thuẫn giữa chị và chị chồng, anh H đi làm ăn xa khi về nghe lời chị gái, anh H không có chính kiến, nên dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn. Chị T về nhà mẹ đẻ ở từ tháng 5 năm 2022 đến nay, vợ chông sông ly thân nhau từ đó đến nay không quan tâm gì đến nhau.

Nay anh H làm đơn xin ly hôn, chị T xét thấy tình cảm vợ chồng đã bị rạn nứt, nếu anh H cương quyết ly hôn thì chị T cũng đồng ý ly hôn.

Về con chung: Chị T trình bày vợ chồng có 01 con chung là cháuPhùng Đức Tài, sinh ngày 28/7/2017. Hiện nay cháu đang ở với anh H, thi thoảng cuối tuần chị T cũng đón cháu về nhà chị T. Ly hôn chị T có nguyện vọng được trực tiêp nuôi dưỡng con chung, chị T không yêu cầu anhHà câp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản và công nợ chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2025/HNGĐ-ST ngày 25 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa đã Quyết định:

Căn cứ vào Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 271, Điều 273; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự; khoản 1 Điều 56; Điều 57 và các Điều 58; 81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về hôn nhân: Xử cho anh Phùng Văn H được ly hôn chị Trần Thị T.
  2. Về con chung: Giao cháu Phùng Đức T2, sinh ngày 28/7/2017 cho anh Phùng Văn H trực tiếp nuôi dưỡng, chị Trần Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Trần Thị T được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc các bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

Ngoài ra án sơ thẩm còn quyết định về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

* Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn kháng cáo với nội dung:

Đề nghị cấp phúc thẩm giải quyết: Giao cháu Phùng Đức T2 cho chị Trần Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chị T không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Tại phiên tòa phúc thẩm Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo các đương sự không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ gì mới và không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của đương sự, tại cấp phúc thẩm đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Đề nghị HĐXX căn cứ: khoản 1 Điều 308 BLTTDS không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn giữ nguyên toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm số 06/2025/HNGĐ- ST ngày 25/3/2025 của TAND huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Bị đơn phải chịu án phí DSPT theo quy định của pháp luật.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến, tranh luận của các đương sự và quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án Hôn nhân gia đình về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn”, các đương sự đều có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa, do đó Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35 và Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm bị đơn có đơn kháng cáo trong hạn, các đương sự không thỏa thuận, hòa giải được với nhau nội dung tranh chấp, nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Về hôn nhân: Cấp sơ thẩm đã xử cho anh Phùng Văn H được ly hôn với chị Trần Thị T. Nội dung này các đương sự không kháng cáo nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét giải quyết.

[2] Xét nội dung kháng cáo của chị Trần Thị T:

- Về nuôi con chung:

Anh Phùng Văn H và chị Trần Thị T có 1 con chung là cháu Phùng Đức T2, sinh ngày 28/7/2017. Cấp sơ thẩm đã quyết định giao cháu Phùng Đức T2 cho anh Phùng Văn H trực tiếp nuôi dưỡng.

Anh H không kháng cáo nội dung này, chị T kháng cáo nội dung: Chị T đề nghị được trực tiếp nuôi con và không cần sự trợ cấp từ anh H.

HĐXX xét thấy: Cả anh H và chị T đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con, xét nguyện vọng của hai anh chị là hoàn toàn chính đáng, tuy nhiên việc xem xét giao con cho ai trực tiếp nuôi dưỡng cũng cần xem xét đến mọi mặt về đời sống của anh chị và bảo đảm cuộc sống tốt nhất cho con chưa thành niên;

- Về điều kiện của chị T: Chị T công tác tại Công ty cổ phần X, với mức lương chính 6.000.000đ, thu nhập khác 2.000.000đ, ngoài ra chị T cũng chứng minh chị có quyền sử dụng đất được tặng cho tại thửa số 185, tờ bản đồ số 51, diện tích 130,8m², địa chỉ tại Tiểu khu A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

- Về điều kiện của anh H: Anh H công tác tại Công ty cổ phần V Tư vấn – Xây dựng, với mức lương chính 17.534.000đ, ngoài ra anh H cũng chứng minh anh có quyền sử dụng đất được nhận thừa kế tại thửa số 511, tờ bản đồ số 46, diện tích 318m², địa chỉ tại thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Căn cứ tài liệu do các đương sự cung cấp, thể hiện cả hai anh chị đều xuất trình tài liệu chứng minh thu nhập, khả năng nuôi dưỡng, chăm sóc con, tuy nhiên cháu T2 đã trên 7 tuổi, nguyện vọng của cháu muốn được ở với Bố, mặt khác từ tháng 5/2022 chị T và anh H phát sinh mâu thuẫn, chị T đã về nhà mẹ đẻ sinh sống, hiện nay anh H là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu T2.

Tại cấp phúc thẩm, chị T cũng không xuất trình được tài liệu chứng cứ thể hiện việc anh H không đủ điều kiện để trực tiếp nuôi con.

Như vậy, để ổn định cuộc sống, tâm lý, phù hợp nguyện vọng của cháu T2, cấp sơ thẩm đã giao cháu T2 cho anh H nuôi dưỡng và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con là phù hợp, do đó kháng cáo của chị T không có cơ sở xem xét.

Trong quá trình nuôi dưỡng nếu anh H không còn đủ điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con thì chị T có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau ly hôn.

[3] Về án phí phúc thẩm:

Chị T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận;

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ: Khoản 1, 2 Điều 308; Điều 284 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Không chấp nhận kháng cáo của chị Trần Thị T.

Căn cứ vào Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 271, Điều 273; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự; khoản 1 Điều 56; Điều 57 và các Điều 58; 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý về án phí, lệ phí Tòa án.

Giữ nguyên bản án Dân sự sơ thẩm số 06/2025/HNGĐ - ST ngày 25 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, cụ thể:

Về con chung: Công nhận cháu Phùng Đức T2, sinh ngày 28/7/2017 là con chung của anh Phùng Văn H và chị Trần Thị T. Giao cháu Phùng Đức T2 cho anh Phùng Văn H trực tiếp nuôi dưỡng, chị Trần Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Trần Thị T được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về án phí Dân sự phúc thẩm: Chị Trần Thị T phải nộp 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng), theo biên lai thu số ký hiệu BLTU/24, số 0005211 ngày 04 tháng 4 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa (Chị T đã nộp đủ án phí phúc thẩm).

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- TAND cấp cao tại Hà Nội; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Thanh Hóa; (Đã ký)
- TAND huyện Thiệu Hóa;
- VKSND huyện Thiệu Hóa;
- Chi cục THADS huyện Thiệu Hóa;
- Đương sự; Lê Thị Tân
- Lưu hồ sơ./.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HSPT ngày 03/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 20/2025/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 03/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh Phùng Văn H khởi kiện ly hôn chị Trần Thị T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger