Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KBANG - TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/HS-ST

Ngày: 30/6/2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG - TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Võ Thị Cảnh - Cán bộ hưu trí thị trấn Kbang, huyện Kbang;
  2. Bà Vương Thị Hội - Cán bộ hưu trí thị trấn Kbang, huyện Kbang;

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Sen - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Quốc Thành và ông Nguyễn Phỉ L - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2025, đối với các bị cáo:

  1. Phạm Văn C, sinh ngày 12/6/1986 tại thị xã B, tỉnh Thanh Hóa; Số CCCD: [...]; nơi thường trú: Tổ A, khu A, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở hiện nay: Làng V, xã K, huyện K, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T và bà Ngô Thị L1 (đều đã chết); bị cáo có vợ là Ngô Thị N (đã ly hôn năm 2022); có 01 con, sinh năm 2011. Tiền án: Ngày 25/11/2005, bị Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 28/2005/HSST (chưa thực hiện xong phần liên đới bồi thường dân sự), chưa được xoá án tích. Ngày 27/12/2006, bị Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 47/2006/HSST (chưa chấp hành xong phần liên đới bồi thường dân sự), chưa được xoá án tích; Ngày 22/01/2013, bị Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm” tại Bản án số 02/2013/HSST (chưa chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm và phần bồi thường dân sự), chưa được xoá án tích; Tiền sự: Không; nhân thân: Xấu.

Bị cáo bị tạm giữ chuyển tạm giam từ ngày 20/12/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

  1. Nguyễn Tiến D, sinh ngày 10/12/1999 tại huyện K, tỉnh Gia Lai; Số CCCD: [...]; nơi thường trú và nơi ở hiện nay: Tổ dân phố E, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Võ Thị C1; bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tốt.

Bị cáo ra đầu thú, bị tạm giữ chuyển tạm giam từ ngày 20/12/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ ngày 18/12/2024, Phạm Văn C đến nhà Nguyễn Tiến D chơi. Tại đây, C rủ D mua ma túy đá về sử dụng, D đồng ý. Để có tiền đi mua ma túy đá, C và D đã mang 02 cục gỗ H1 có khối lượng 0,078m³ mà D và C cùng nhau góp tiền mua của một người đồng bào trước đó mấy ngày với giá 400.000 đồng, đến bán cho Nguyễn Quang T1 được số tiền 650.000 đồng. Sau đó, D sử dụng xe mô tô biển kiểm soát (BKS) 81H1-275.61, nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS của D chở C đi đến thị xã A, tỉnh Gia Lai rồi D mượn điện thoại của C gọi cho một người đàn ông (chưa rõ nhân thân, lai lịch) hẹn gặp ở đường B gần khu vực chợ thị xã A. Khi gặp nhau, D hỏi mua ma túy thì người đàn ông này nói không có bán nên giới thiệu cho D một người bán ma túy đá và cho D mã QR để kết bạn, liên lạc qua Zalo. D mượn điện thoại di động của C, dùng Zalo của C có tên “Phạm Thanh T2” quét mã QR kết bạn Zalo với người có tên nick Z là “Hùng Cường” rồi nhắn tin và gọi điện hỏi mua ma túy với số tiền 700.000 đồng, thì người có nick Z “Hùng Cường” đồng ý bán ma túy và hẹn giao ma túy ở khu vực đầm B (gần chợ mới thị xã A). D chở C đến đầm B chờ khoảng 15 phút thì gặp một người đàn ông (chưa rõ nhân thân, lai lịch), D đưa 650.000 đồng tiền bán gỗ cho C, rồi C góp thêm 50.000 đồng để đủ 700.000 đồng đưa cho người đàn ông này. Sau khi nhận tiền, người đàn ông này chỉ vào gốc cây cách đó khoảng 15m, nói ma túy đá giấu ở đó rồi điều khiển xe mô tô rời đi. D và C đến vị trí gốc cây thì thấy 01 ống nhựa trong suốt được hàn kín hai đầu bên trong có chứa ma túy đá, D cầm lấy ống nhựa có chứa ma túy cất vào túi áo, rồi cả hai đi về nhà D ở thị trấn K và thống nhất với nhau để gói ma túy ngày hôm sau sẽ sử dụng.

Đến khoảng 10 giờ ngày 19/12/2024, D đi xe mô tô của D mang theo bộ D1 sử dụng ma túy đá và gói ma túy đá, còn C đi xe mô tô biển kiểm soát 81H7-5479 của C, cùng nhau đi đến rẫy cà phê của người dân ở thôn A, xã Đ, huyện K sử dụng ma túy. Tại đây, D lấy ma túy bỏ vào “nỏ thủy tinh” rồi dùng bật lửa hơ nóng, cho ma túy tan chảy có hơi bốc qua ly nước, rồi C, D thay nhau hút những hơi bay ra qua đầu ống còn lại. Sau khi sử dụng hết số ma túy đã mua, D cất bộ dụng cụ vào áo ấm màu đen của D, rồi cả hai ngồi chơi nói chuyện được một lúc thì thấy lực lượng Công an xã Đ đi tuần tra. Thấy vậy, C và D chạy, bỏ lại áo ấm của D, bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá và hai xe mô tô ở gần vị trí sử dụng ma túy.

Đến ngày 20/12/2024, Nguyễn Tiến D đến Công an huyện K, khai nhận toàn bộ hành vi D và C đã cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy vào 19/12/2024. Ngày 20/12/2024, Công an huyện K thi hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Phạm Văn C, tiến hành kiểm tra, xác định hiện trường tại nơi C và D tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, và đã thu giữ được một số đồ vật, tài liệu có liên quan.

Ngày 20/12/2024, tiến hành xét nghiệm nước tiểu của Phạm Văn C, Nguyễn Tiến D, xác định C và D đều dương tính với ma túy loại Methamphetamine.

Căn cứ các Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Trung tâm Y tế huyện K ngày 23/12/2024, xác định: Phạm Văn C, Nguyễn Tiến D đều không phải là người nghiện ma túy.

Ngày 23/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K Quyết định trưng cầu giám định số: 06/QĐ gửi Phòng K Công an tỉnh G để trưng cầu giám định đối với: Chất tinh thể màu trắng bám dính bên trong đoạn ống nhựa trong suốt và chất màu trắng nâu bám dính bên trong ống thủy tinh có một đầu phình to đã thu giữ và được niêm phong theo quy định có phải là chất ma túy không, loại ma túy gì, trọng lượng của mẫu gửi giám định là bao nhiêu?

Tại Kết luận giám định số: 50/KL-KTHS ngày 29/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh G, kết luận:

  • “1. Chất rắn màu trắng bám dính trong 01 (một) đoạn ống nhựa, được niêm phong trong bì thư, ghi “A1” gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, không cân được khối lượng chất bám dính do lượng mẫu ít.
  • 2. Chất rắn màu trắng, nâu bám dính trong 01 (một) ống thủy tinh phình to, được niêm phong trong bì thư ghi “A2” gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, không cân được khối lượng chất bám dính do lượng mẫu ít”.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về bản kết luận giám định nêu trên.

Ngày 29/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Phạm Văn C và Nguyễn Tiến D về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

* Vật chứng liên quan đến vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K tạm giữ một số vật chứng, gồm:

  • 01 (một) đoạn ống nhựa, một đầu hàn kín, một đầu hở và vỏ bao gói được niêm phong trong 01 bì thư ghi “A1”.
  • 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng uốn cong, một đầu gắn ống thủy tinh, phình to và vỏ bao gói được niêm phong trong 01 bì thư ghi “A2”.
  • 01 (một) hộp đựng kính màu xám và 01 (một) áo khoác màu đen của Nguyễn Tiến D sử dụng cất giấu bộ dụng cụ để sử dụng trái phép chất ma túy sau khi C và D sử dụng ma túy.
  • 01 (một) chiếc ly thủy tinh được gắn 01 phần đầu của chai nhựa có nắp màu đỏ, nắp đã bị đục hai lỗ để gắn với 02 ống nhựa; 01 (một) bật lửa màu đỏ và 01 (một) ống hút màu xanh dài 6,7cm là dụng cụ mà Nguyễn Tiến D và Phạm Văn C dùng để sử dụng ma túy, được thu giữ trong quá trình kiểm tra, xác định hiện trường.
  • 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, có vỏ màu đỏ, nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A03, gắn sim số 0389217113, số IMEI1: 350538280445292/01; số IMEI2: 359923670445295/01, Phạm Văn C sử dụng để liên lạc mua ma túy (không kiểm tra tình trạng bên trong), được thu giữ trong quá trình thi hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với C.
  • 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 81H1-275.61, nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, màu xanh - xám, qua điều tra xác minh xác định đây là tài sản hợp pháp của Nguyễn Tiến D, xe mô tô này D và C sử dụng vào việc đi mua ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
  • 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 81H7-5479, nhãn hiệu YAMAHA, loại JUPITER, màu đen (đã bị độ chế, thay đổi kiểu dáng, kết cấu xe), qua điều tra xác minh xác định đây là tài sản hợp pháp của Phạm Văn C, xe mô tô này C sử dụng vào việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Tại bản Cáo trạng số: 11/CT-VKS ngày 23/5/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kbang đã truy tố bị cáo Phạm Văn C về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Truy tố bị cáo Nguyễn Tiến D về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo Phạm Văn C và Nguyễn Tiến D đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kbang vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Phạm Văn C và Nguyễn Tiến D phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy";

Đề nghị áp dụng điểm h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Văn C từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến D từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo đều không có việc làm và thu nhập ổn định nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy đối với các vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội không còn giá trị sử dụng:

  • 01 (một) đoạn ống nhựa, một đầu hàn kín, một đầu hở và vỏ bao gói được niêm phong trong 01 bì thư ghi “A1”.
  • 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng uốn cong, một đầu gắn ống thủy tinh, phình to và vỏ bao gói được niêm phong trong 01 bì thư ghi “A2”.
  • 01 (một) hộp đựng kính màu xám và 01 (một) áo khoác màu đen của Nguyễn Tiến D.
  • 01 (một) chiếc ly thủy tinh được gắn 01 phần đầu của chai nhựa có nắp màu đỏ, nắp đã bị đục hai lỗ để gắn với 02 ống nhựa; 01 (một) bật lửa màu đỏ và 01 (một) ống hút màu xanh dài 6,7cm.

Đề nghị tịch thu bán sung vào Ngân sách nhà nước gồm:

  • 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, có vỏ màu đỏ, nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A03, gắn sim số 0389217113, số IMEI1: 350538280445292/01; số IMEI2: 359923670445295/01 (Tại thời điểm nhận vật chứng máy đã bị khóa hoàn toàn, không kiểm tra được tình trạng bên trong máy).
  • 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, gắn biển số 81H1 - 275.61, số loại SIRIUS, Loại xe: Hai bánh từ 50-175cm³, màu xám bạc đen, dung tích xi lanh 110cm³, số máy: E32VE-651377, số khung: RLCUE3740NY162915, xe đã qua sử dụng.
  • 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, gắn biển số 81H7-5479, số loại C110, màu sơn xanh, dung tích xi lanh 108cm³, Loại xe: Hai bánh từ 50-175cm³, số máy: 5VT2105155, số khung: RLCJSVT20-5Y105155 (đã bị độ chế, thay đổi kiểu dáng, kết cấu xe và hư hỏng nặng).

Về án phí: Các bị cáo Phạm Văn C và Nguyễn Tiến D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo biết việc làm của các bị cáo là sai, vi phạm pháp luật nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kbang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G, với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kbang và với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào kết quả xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ cơ sở để khẳng định:

Phạm Văn C và Nguyễn Tiến D là những người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, hiểu rõ tác hại của ma túy. Tuy nhiên, vì ham chơi, đua đòi muốn thoả mãn nhu cầu của bản thân nên bất chấp pháp luật. Vào ngày 18/12/2024, C rủ D cùng nhau góp tiền mua trái phép chất ma tuý của một đối tượng (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) tại thị xã A, tỉnh Gia Lai để đến ngày 19/12/2024 cùng nhau vào khu vực rẫy cà phê của người dân thuộc thôn A, xã Đ, huyện K sử dụng.

Hành vi mua ma túy, chuẩn bị địa điểm, dụng cụ sử dụng ma túy và cùng nhau sử dụng ma túy của các bị cáo Phạm Văn C và Nguyễn Tiến D đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại Điều 255 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Phạm Văn C có 03 tiền án, đều chưa được xoá án tích nên lần phạm tội này của bị cáo đã phạm tình tiết định khung tăng nặng là “Tái phạm nguy hiểm” được quy định tại điểm h khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Tiến D phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai truy tố các bị cáo về các tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.

[3] Xét vai trò của từng bị cáo trong vụ án được xác định như sau:

Đây là vụ án đồng phạm với tính chất giản đơn, khi thực hiện tội phạm giữa các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công vai trò cụ thể cho từng người. Trong đó Phạm Văn C là người rủ rê, khởi xướng, cùng góp tiền và cùng đi mua ma tuý để sử dụng; Nguyễn Tiến D là người thực hiện hành vi tích cực, khi nghe C rủ thì D đồng ý ngay, chủ động điện thoại liên lạc tìm người bán ma tuý và chuẩn bị dụng cụ để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo thấy rằng:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà Hội đồng xét xử xem xét áp dụng đối với các bị cáo. Đối với bị cáo Nguyễn Tiến D khi nhận thức được hành vi phạm tội đã ra đầu thú nên đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự mà Hội đồng xét xử xem xét áp dụng đối với bị cáo D.

Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Tiến D có nhân thân tốt.

Bị cáo Phạm Văn C có nhân thân xấu, ngày 25/10/2005, bị Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 28/2005/HSST (chưa thực hiện xong phần liên đới bồi thường dân sự), chưa được xoá án tích. Ngày 27/12/2006, bị Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 47/2006/HSST (chưa chấp hành xong phần liên đới bồi thường dân sự), chưa được xoá án tích; Ngày 22/01/2013, bị Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm” tại Bản án số 02/2013/HSST (chưa chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm và phần bồi thường dân sự), chưa được xoá án tích; ngày 10/11/2016, bị Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xử phạt 48 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ” tại bản án số 80/2016/HS-PT, đã chấp hành xong hình phạt và án phí.

[5] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến trật tự xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. Xét tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm của hành vi, hậu quả gây ra cho xã hội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thấy rằng cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, răn đe, giúp các bị cáo từ bỏ được ma túy và phòng ngừa chung cho xã hội là điều cần thiết.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo đều không có việc làm và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Liên quan đến vụ án:

Đối với người đàn ông (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) mà D liên lạc hẹn gặp tại đường B, thuộc khu vực chợ thị xã A (phường A, thị xã A) đã cho thông tin mã QR để D kết bạn với người có tên Z “Hùng Cường” liên lạc để mua ma túy, D khai nhận số điện thoại của người này được lưu trong điện thoại di động của C. Tuy nhiên, trong lúc chạy trốn Phạm Văn C đã xóa hết toàn bộ thông tin nhật ký liên lạc và danh bạ của người đàn ông này, hiện C và D đều không nhớ số điện thoại. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G đã yêu cầu cơ quan, tổ chức có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ cho việc điều tra, xác minh nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G tiếp tục xác minh, làm rõ đối tượng nêu trên, khi nào có cơ sở sẽ xử lý sau.

Đối với đối tượng có tên Z “Hùng Cường”, là người đã bán ma túy cho Phạm Văn C và Nguyễn Tiến D, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch, nội dung diễn biến hành vi phạm tội của đối tượng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G sẽ tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.

[8] Về xử lý vật chứng của vụ án:

Tuyên tịch thu tiêu huỷ những vật chứng là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội không còn giá trị sử dụng:

  • 01 (một) đoạn ống nhựa, một đầu hàn kín, một đầu hở và vỏ bao được niêm phong trong bì thư ghi “A1”.
  • 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng uốn cong, một đầu gắn ống thủy tinh, phình to và vỏ bao được niêm phong trong bì thư ghi “A2”.
  • 01 (một) hộp đựng kính màu xám;
  • 01 (một) áo khoác màu đen.
  • 01 (một) ly thủy tinh được gắn 01 phần đầu của chai nhựa có nắp màu đỏ, nắp đã bị đục hai lỗ để gắn với 02 ống nhựa;
  • 01 (một) quẹt lửa màu đỏ;
  • 01 (một) ống hút màu xanh dài 6,7cm.

Tuyên tịch thu bán sung Ngân sách nhà nước những vật chứng là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội còn giá trị sử dụng:

  • 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, có vỏ màu đỏ, nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A03, gắn sim số 0389217113, số IMEI1: 350538280445292/01; số IMEI2: 359923670445295/01 (Tại thời điểm nhận vật chứng máy đã bị khóa hoàn toàn, không kiểm tra được tình trạng bên trong máy).
  • 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, gắn biển số 81H1 - 275.61, số loại SIRIUS, Loại xe: Hai bánh từ 50-175cm³, màu xám bạc đen, dung tích xi lanh 110cm³, số máy: E32VE-651377, số khung: RLCUE3740NY162915, xe đã qua sử dụng.
  • 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, gắn biển số 81H7-5479, số loại C110, màu sơn xanh, dung tích xi lanh 108cm³, Loại xe: Hai bánh từ 50-175cm³, số máy: 5VT2105155, số khung: RLCJSVT20-5Y105155 (đã bị độ chế, thay đổi kiểu dáng, kết cấu xe và hư hỏng nặng).

[9] Đối với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kbang phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử, do vậy được chấp nhận.

[10] Về án phí: Các bị cáo Phạm Văn C và Nguyễn Tiến D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn C và Nguyễn Tiến D phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  2. Về điều luật áp dụng:

    Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Văn C.

    Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Tiến D.

    Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

    Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

  3. Về hình phạt:

    Xử phạt bị cáo Phạm Văn C 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ chuyển tạm giam (ngày 20/12/2024).

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến D 02 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ chuyển tạm giam (ngày 20/12/2024).

  4. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
  5. Về xử lý vật chứng:

    Tuyên tịch thu tiêu hủy:

    • 01 (một) đoạn ống nhựa, một đầu hàn kín, một đầu hở và vỏ bao được niêm phong trong bì thư ghi “A1”.
    • 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng uốn cong, một đầu gắn ống thủy tinh, phình to và vỏ bao được niêm phong trong bì thư ghi “A2”.
    • 01 (một) hộp đựng kính màu xám;
    • 01 (một) áo khoác màu đen.
    • 01 (một) ly thủy tinh được gắn 01 phần đầu của chai nhựa có nắp màu đỏ, nắp đã bị đục hai lỗ để gắn với 02 ống nhựa;
    • 01 (một) quẹt lửa màu đỏ;
    • 01 (một) ống hút màu xanh dài 6,7cm.

    Tuyên tịch thu bán sung Ngân sách nhà nước:

    • 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, có vỏ màu đỏ, nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A03, gắn sim số 0389217113, số IMEI1: 350538280445292/01; số IMEI2: 359923670445295/01 (Tại thời điểm nhận vật chứng máy đã bị khóa hoàn toàn, không kiểm tra được tình trạng bên trong máy).
    • 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, gắn biển số 81H1 - 275.61, số loại SIRIUS, Loại xe: Hai bánh từ 50-175cm³, màu xám bạc đen, dung tích xi lanh 110cm³, số máy: E32VE-651377, số khung: RLCUE3740NY162915, xe đã qua sử dụng.
    • 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, gắn biển số 81H7-5479, số loại C110, màu sơn xanh, dung tích xi lanh 108cm³, Loại xe: Hai bánh từ 50-175cm³, số máy: 5VT2105155, số khung: RLCJSVT20-5Y105155 (đã bị độ chế, thay đổi kiểu dáng, kết cấu xe và hư hỏng nặng).

    (Đặc điểm cụ thể của vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23/6/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an tỉnh G và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kbang, tỉnh Gia Lai).

  6. Về án phí: Buộc các bị cáo Phạm Văn C và Nguyễn Tiến D mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 30/5/2025), các bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND huyện Kbang;
  • - Công an tỉnh Gia Lai;
  • - Chi cục THADS huyện Kbang;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HS-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG - TỈNH GIA LAI về vụ án hình sự

  • Số bản án: 20/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG - TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tuyên bố các bị cáo Phạm Văn C và Nguyễn Tiến D phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy";
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger