Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6 - BẮC NINH

Bản án số: 20/2025/HS-ST

Ngày 28/11/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

———————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thu Trang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Lưu - Giáo viên nghỉ hưu

Ông Nguyễn Như Hùng - Cán bộ nghỉ hưu

Thư ký phiên tòa: Bà Hạp Thị Thu Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Phùng Đắc Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 28/11/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 6 - Bắc Ninh đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2025/TLST-HS ngày 11/11/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2025/QĐXXST-HS ngày 17/11/2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T

sinh năm 2004; HKTT: Khu C, phường N, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị B; Bị cáo là con duy nhất; Vợ, con: Chưa có. Tiền sự, Nhân thân: Không;

Tiền án:

  • Bản án số 205/2022/HSST ngày 21/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh xử phạt 13 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự;
  • Bản án số 44/2023/HSST ngày 17/01/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh xử phạt 16 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Tổng hợp hình phạt 13 tháng tù của bản án số 205/2022/HSST ngày 21/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, buộc T phải chấp hành chung của cả hai bản án là 29 tháng. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/3/2025.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/8/2025 đến nay. Hiện bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Bắc Ninh thuộc Trại tạm giam Số 1 Công an tỉnh B. Có mặt.

* Bị hại:

1. Anh Mai Nam K, sinh ngày 30/07/2008, HKTT: Khu C, phường N, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của anh Mai Nam K: Ông Mai Văn H, sinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1982, cùng HKTT: Khu C, phường N, tỉnh Bắc Ninh. Ông H và bà S đều vắng mặt.

2. Anh Hoàng Văn D, sinh năm 2003, HKTT: Xóm N, xã N, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt.

* Người có nghĩa vụ và quyền lợi liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1982, HKTT: Khu C, phường N, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.

2. Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1992; HKTT: Tổ dân phố L, phường Đ, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.

3. Anh Đỗ Tiến D1, sinh năm 1993; HKTT: Khu Đ, phường Q, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 29/8/2025, Công an phường N, tỉnh Bắc Ninh tiếp nhận đơn trình báo của anh Mai Nam K, sinh năm 2008, HKTT: khu C, phường N, tỉnh Bắc Ninh và anh Hoàng Văn D, sinh năm 2003, HKTT: Khu D, phường P, tỉnh Bắc Ninh, về việc: Ngày 12/6/2025 và ngày 07/8/2025, tại khu V và khu L, phường N, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Văn T, sinh năm 2004, HKTT: khu C, phường N, tỉnh Bắc Ninh có hành vi gian dối mượn anh K chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha, màu xanh, BKS 99AA-095.63; anh D chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, E 150, màu đen, BKS 11AM - 034.46 để đi có việc. Sau khi giao xe cho T thì T không trả xe, tắt máy và không liên lạc được.

Cùng ngày 29/8/2025, Nguyễn Văn T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đầu thú, khai nhận: T đã 02 lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cụ thể:

Lần thứ nhất: Khoảng 18 giờ ngày 12/6/2025, tại khu V, phường N, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Văn T chiếm đoạt của anh Mai Nam K chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh, BKS: 99AA-095.63 trị giá 14.000.000 đồng. Hiện tài sản chưa được thu hồi.

Lần thứ hai: Khoảng 19 giờ ngày 07/8/2025, tại khu L, phường N, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Văn T chiếm đoạt của anh Hoàng Đình D2 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, Excenter 150, màu đen, BKS 11AM - 034.46 trị giá 19.333.333 đồng. Hiện tài sản đã được thu hồi trả cho người bị hại.

Tổng giá trị tài sản Nguyễn Văn T đã chiếm đoạt là 33.333.333 đồng.

Về vật chứng:

Ngày 29/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã thu giữ: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, Excenter 150, màu đen, BKS 11AM - 034.46 đã qua sử dụng do anh Đỗ Tiến D1 giao nộp.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh, BKS 99AA-095.63, sau khi T vay tiền và để lại xe làm tin. Do không thấy T đến trả tiền và không liên lạc được nên anh Nguyễn Văn T1 đã bán cho người đàn ông không quen biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã thông báo truy tìm nhưng chưa thu hồi được.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 160/KL-HĐĐGTS ngày 05/9/2025 của Hội đồng định giá tài sản tỉnh Bắc Ninh kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đen, BKS 11AM-034.46, số khung RLCUG1010KY163718, số máy G3D4E930897 đã qua sử dụng có trị giá là 19.333.333 đồng.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 184/KL-HĐĐGTS ngày 10/9/2025 của Hội đồng định giá tài sản tỉnh Bắc Ninh kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, BKS 99AA-095.63, số khung RLHJA393XRY159218, số máy JA70E0490498 đã qua sử dụng có trị giá là 14.000.000 đồng

Tại cơ quan điều tra, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Với nội dung trên, Cáo trạng số 24/CT-VKS-KV6 ngày 11 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh truy tố Nguyễn Văn T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung cáo trạng đã nêu và thừa nhận cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là đúng. Bị cáo Nguyễn Văn T trình bày: Do không xin được việc làm và không có tiền ăn tiêu nên T đã 02 lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cụ thể:

Lần thứ nhất: Khoảng 17 giờ ngày 12/6/2025, T gọi điện thoại cho anh K nhờ anh K đưa T và H1 sang khu L đón bạn, anh K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, BKS: 99AA-095.63 đến đón và đưa T, anh H1 sang khu L, phường N nhưng không gặp bạn của T. Sau đó, T gọi điện thoại cho bạn thì được biết bạn của T đang ở trên phường K, tỉnh Bắc Ninh nên T bảo anh K đèo T và H1 lên phường K, anh K đồng ý rồi đèo T và H1 lên phường K tìm bạn nhưng không gặp. Trên đường về, do không có tiền ăn tiêu nên T nảy sinh ý định chiếm đoạt xe của anh K mang đi cầm cắm nên T nói với anh K để T điều khiển xe cho tiện đi tìm bạn thì anh K đồng ý và giao xe cho T đèo. Khi đi đến gần nhà H1 thì K và H1 xuống xe thì T nói dối anh K “cho anh mượn xe 5 phút đi đón bạn”, anh K đồng ý (anh H1 sau đó đi về nhà). Sau đó, T điểu khiển xe của anh K đi thẳng đến quán “Mua bán trao đổi xe cũ, mới 86” của anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1992, HKTT: TDP L, phường Đ, tỉnh Bắc Ninh ở khu L, phường N, tỉnh Bắc Ninh, T nói với anh T1 có việc gấp cần giải quyết và hỏi vay anh T1 6.000.000 đồng sẽ để lại chiếc xe mô tô Honda Wave anhpha, BKS 99AA-095.63 và hẹn 10 ngày sau sẽ trả lại tiền và lấy xe thì anh T1 có hỏi T “xe của

ai, giấy tờ đâu”, T trả lời “xe của T, giấy tờ xe bố mẹ T giữ”. Do quen biết nhau từ trước nên anh T1 tin tưởng và đồng ý cho T mượn số tiền 6.000.000 đồng. Sau khi vay được tiền, T một mình ăn tiêu hết. Sau khi hết 10 ngày không thấy T đến trả tiền, anh T1 có gọi điện thoại cho T yêu cầu trả tiền, T nói hiện chưa có tiền và hẹn 5 ngày sau sẽ trả tiền, anh T1 đồng ý. Ngày 25/6/2025, anh T1 tiếp tục gọi điện thoại cho T thì T nói hiện không có tiền trả và bảo anh T1 có toàn quyền xử lý đối với chiếc xe mô tô Trường để lại làm tin trước đó rồi tắt máy. Sau nhiều lần gọi điện thoại cho T nhưng không được và cần tiền để kinh doanh nên anh T1 đã bán chiếc xe mô tô mà T để lại làm tin cho một người không quen biết qua mạng xã hội. Không thấy T mang xe trả nên anh K đã gọi điện thoại cho T thì T nói đã mượn tiền của người khác và để lại xe làm tin rồi tắt máy, anh K có gọi điện thoại nhiều lần cho T nhưng không liên lạc được.

Lần thứ hai: Khoảng 18 giờ ngày 07/8/2025, do không có tiền ăn tiêu cá nhân nên khi thấy anh D1 đang ở phòng trọ của anh D1 thuê tại gia đình nhà Trường nên T nảy sinh ý định nói dối anh D1 cho mượn xe rồi mang đi cầm cắm lấy tiền. Trường G đi ra gặp và nói dối anh D1 “Chở anh xuống công viên L gặp bạn”, anh D1 đồng ý rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đen, BKS 11AM-034.46 chở T đến công viên L. Khi đi đến công viên L, T bảo anh D1 “cho anh mượn xe em ra đây đón bạn”, anh D1 nói “không được” thì T nói “mượn tý, tý anh trả, mày ở nhà tao, tao làm gì xe mày đâu”, nghe T nói vậy thì anh D1 đồng ý rồi giao xe cho T. Sau khi mượn được xe anh D1 thì T điều khiển xe đi thẳng đến nhà anh Đỗ Tiến D1, sinh năm 1993, HKTT: khu Đ, phường Q, tỉnh Bắc Ninh (T và D1 quen biết nhau từ trước), T nói với anh D1 “cho em mượn thêm ít tiền, em đang có việc cần đến” nhưng anh D1 không đồng ý thì T nói cho em mượn tiền, em để lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đen, BKS 11AM-034.46 lại làm tin và lấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, chưa đăng ký BKS (xe của T trước đó để lại làm tin để mượn D1 5.000.000 đồng). Anh D3 hỏi T “xe của ai, có giấy tờ không” thì T nói “xe của bố em mới mua lại, chưa kịp sang tên, giấy tờ xe hiện bố em đang cầm”. Do quen biết và tin tưởng nhau nên anh D3 đồng ý cho T vay 1.000.000 đồng nhưng thống nhất phải trả tiền trông giữ hộ hai xe là 500.000 đồng. Sau đó, anh D3 có đưa cho T 500.000 đồng và chiếc xe mô tô T để lại trước đó. Số tiền trên T đã ăn tiêu cá nhân hết. Sau khi cho T mượn xe nhưng không thấy trả lại nên anh D3 có nhiều lần gọi điện thoại cho T yêu cầu trả lại xe nhưng đều không liên lạc được đã trình báo cơ quan Công an.

Ngày 29/8/2025, T đã đến Công an tỉnh B đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.

Bị hại là anh Mai Nam K vắng mặt tại phiên tòa, lời khai của anh K trong hồ sơ thể hiện: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, BKS: 99AA-095.63 là của bà Nguyễn Thị S là mẹ K để ở nhà, khi K lấy xe đi thì bà S không biết và đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị hại là anh Hoàng Văn D vắng mặt tại phiên tòa, lời khai của anh D trong hồ sơ thể hiện: Anh đã nhận lại được xe và không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo T.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị S vắng mặt tại phiên tòa, lời khai của bà S trong hồ sơ thể hiện: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, BKS: 99AA-095.63 là của bà Nguyễn Thị S là mẹ K để ở nhà, khi K lấy xe đi thì bà S không biết, bà chưa nhận lại được xe và yêu cầu bị cáo bồi thường cho bà.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn T1 vắng mặt tại phiên tòa, lời khai của anh T1 trong hồ sơ thể hiện: Anh đã cho bị cáo vay số tiền 6.000.000 đồng và tự nguyện để lại chiếc xe mô to Honda wave, màu xanh, biển kiểm soát 99AA-095.63 để làm tin, T có nói với anh T1 chiếc xe trên là của T, có giấy tờ đầy đủ. Sau đó T không trả tiền cho anh T1 và cho anh T1 toàn quyền quyết sử dụng chiếc xe nêu trên. Do anh T1 cần tiền để kinh doanh nên đã bán chiếc xe trên cho người không quen biết qua mạng xã hội. Anh T1 không yêu cầu bị cáo phải trả lại anh số tiền 6.000.000 đồng đã vay của anh.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Đỗ Tiến D1 vắng mặt tại phiên tòa, lời khai của anh D1 trong hồ sơ thể hiện: Anh đã cho bị cáo vay tổng số tiền 6.000.000 đồng và tự nguyện để lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đen, BKS 11AM-034.46 để làm tin. Chiếc xe đã được trả lại cho D1, anh yêu cầu bị cáo bồi thường cho anh số tiền 6.000.000đ đã vay.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên toà trình bày luận tội. Sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;

Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h, g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T từ 24 đến 30 tháng tù; Thời hạn tù tính từ ngày 29/8/2025.

Về xử lý vật chứng: Không

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 590 Bộ luật Dân sự; Buộc bị cáo T phải có trách nhiệm bồi thường cho bà Nguyễn Thị S số tiền 14.000.000 đồng, trả lại anh Đỗ Tiến D1 số tiền 6.000.000 đồng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Văn T đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố là đúng. Bị cáo không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà; Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án: Lời khai nhận của Nguyễn Văn T tại cơ quan điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay với các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với kết quả tranh luận tại phiên tòa. Vì vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: T đã 02 lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cụ thể:

Lần thứ nhất: Khoảng 18 giờ ngày 12/6/2025, tại khu V, phường N, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Văn T chiếm đoạt của anh Mai Nam K chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh, BKS: 99AA-095.63 trị giá 14.000.000 đồng. Hiện tài sản chưa được thu hồi.

Lần thứ hai: Khoảng 19 giờ ngày 07/8/2025, tại khu L, phường N, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Văn T chiếm đoạt của anh Hoàng Đình D2 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, Excenter 150, màu đen, BKS 11AM - 034.46 trị giá 19.333.333 đồng. Hiện tài sản đã được thu hồi trả cho người bị hại.

Tổng giá trị tài sản Nguyễn Văn T đã chiếm đoạt là 33.333.333 đồng.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận hành vi của Nguyễn Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Bắc Ninh đã truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Văn T có nhân thân xấu, có 02 tiền án, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh xử phạt 13 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 205/2022/HSST ngày 21/9/2022 và 16 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 44/2023/HSST ngày 17/01/2023. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/3/2025, đến nay chưa được xóa án tích về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”;

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội khi đã bị kết án về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, chưa xóa án tích; thực hiện 02 hành vi lừa đảo chiếm

đoạt tài sản mỗi lần đều trên 2.000.000 đồng; do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” và “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm h, điểm g, khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo T đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; Sau khi phạm tội đã ra Cơ quan Công an đầu thú vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của chủ sở hữu được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội ở địa phương. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[5] Về vật chứng:

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, Excenter 150, màu đen, BKS 11AM - 034.46 đã qua sử dụng, quá trình điều tra, tra cứu xác định là tài sản của anh Hoàng Văn D. Ngày 21/9/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã trả lại cho anh D là phù hợp.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha, màu xanh, BKS 99AA-095.63, sau khi T vay tiền và để lại xe làm tin. Do không thấy T đến trả tiền và không liên lạc được nên anh Nguyễn Văn T1 đã bán cho người đàn ông không quen biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã thông báo truy tìm nhưng chưa thu hồi được.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Anh Mai Văn K1 và bà Nguyễn Thị S chưa nhận lại được tài sản và yêu cầu bị cáo bồi thường cho bà S giá trị của chiếc moto nhãn hiệu Wave Honda màu xanh, BKS 99AA-095.63 đã qua sử dụng có trị giá là 14.000.000 đồng là có căn cứ cần chấp nhận.

Anh Đỗ Tiến D1 yêu cầu bị cáo trả cho anh D1 số tiền đã vay là 6.000.000 đồng là có căn cứ cần chấp nhận.

[7] Liên quan trong vụ án:

Đối với anh Mai Nam K có hành vi “người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh từ 50cm3 trở lên”; Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô tham gia giao thông khi không có giấy phép lái xe theo quy định. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã có Công văn đề nghị Phòng C1 Công an tỉnh B xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Đối với anh Nguyễn Văn T1 và Đỗ Tiến D1 cho Nguyễn Văn T vay tiền. Anh Dũng, T1 và T khai nhận sau khi vay tiền của anh T1, anh D1 thì T có gửi lại xe nhờ anh T1, anh D1 giữ hộ và nói là xe của T khi nào có tiền thì đến trả, lấy xe nếu không có tiền trả thì coi như đã bán xe, anh T1 không biết xe Trường gửi nhờ là do phạm tội mà có nên khi không thấy T đến trả tiền thì anh T1 đã bán chiếc xe của T gửi để trừ nợ. Do vậy, không có căn cứ xử lý Đỗ Tiến D1 và Nguyễn Văn T1 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B không xem xét xử lý là có căn cứ.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo qui định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;

Căn cứ khoản 1 Điều 174; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h, điểm g, khoản 1 Điều 52; Điều 38, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 136, 329, 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 584, 585, 590 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án;

Xử phạt:

Nguyễn Văn T: 28 (hai mươi tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/8/2025.

Quyết định tạm giam Nguyễn Văn T 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 28/11/2025 để đảm bảo thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự:

Buộc bị cáo T phải có trách nhiệm bồi thường cho bà Nguyễn Thị S giá tri cua chiếc xe moto nhan hiệu Wave Honda mau xanh, BKS 99 AA-095.63 đã qua sử dung la 14.000.000 đồng.

Buộc bị cáo T phải có trách nhiệm trả cho anh Đỗ Tiến D1 số tiền 6.000.000 đồng.

Về án phí: Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.000.000 đồng an phí dân sự sơ thẩm

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bi hai, người đai diện hợp phap cua bị hai, người có quyền lợi nghia vụ liên quan vắng mặt có quyền khang cao trong thời hạn 15 ngay kể từ ngay nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Ngô Văn Lưu Vũ Thu Trang
Nguyễn Như Hùng

Nơi nhận:

  • - VKSND Khu vực 6 - Bắc Ninh;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - THA dân sự Khu vực 6 - Bắc Ninh;
  • - Trại tạm giam số1/Phân trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Vũ Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HS-ST ngày 28/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - BẮC NINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 20/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger