|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP TỈNH SƠN LA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 20/2025/HS-ST Ngày: 27-6-2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓP CỘP, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Quyết.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lò Văn Dưỡng.
- Ông Tòng Văn Hưởng.
- Thư ký phiên toà: Bà Tòng Thị Duyên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Quyết – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2025/QĐXXST-HS ngày 16/6/2025, đối với bị cáo:
Đàm Văn L
tên gọi khác: Không, sinh năm 1989; số định danh cá nhân: 011089007727; nơi cư trú: Tổ dân phố I, phường T, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Kiểm lâm viên Hạt Kiểm lâm huyện S, tỉnh Sơn La; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Đảng viên Đ; Quyết định đình chỉ sinh hoạt Đảng số 122-QĐ/UBKTHU của Uỷ ban kiểm tra huyện ủy huyện S ngày 16 tháng 6 năm 2025; con ông: Đàm Văn L1 và con bà: Nông Thị D; vợ: Nguyễn Thị Thu H và 01 người con, sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không.
Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã S, huyện S, tỉnh Sơn La từ ngày 14/02/2025 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
- Ông Đào Văn T, sinh năm 1979. Nơi cư trú: Bản S, xã S, huyện S, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
- Ông Lò Văn E, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Bản S, xã S, huyện S, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
- Ông Cà Văn D1, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Bản K, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
- Ông Lò Văn N, sinh năm 1958. Nơi cư trú: Bản K, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
- Ông Lò Văn L2, sinh năm 1962. Nơi cư trú: Bản K, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
- Ông Lò Văn Y, sinh năm 1996. Nơi cư trú: Bản K, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 04/2024, Đàm Văn L là Kiểm lâm viên thuộc Hạt kiểm lâm huyện S nhận được cuộc gọi từ một người đàn ông không quen biết, giới thiệu tên là T1 nói rằng: “Có bà chị làm xưởng gỗ bóc, gỗ ván muốn làm hồ sơ đầu vào, chú xem có làm giúp được không, nếu hồ sơ hợp lý sẽ gửi tiền để cảm ơn”, L hiểu là T1 muốn làm hồ sơ xác minh nguồn gốc lâm sản khống để đối phó với cơ quan có thẩm quyền khi kiểm tra việc kinh doanh lâm sản. L trả lời với T1 là làm được. Sau đó, L chọn ngẫu nhiên 03 chủ rừng có trong danh sách quản lý bảo vệ rừng của Hạt Kiểm lâm huyện S, gồm ông Lò Văn N, sinh năm 1958, ông Lò Văn L2, sinh năm 1962 và ông Quàng Văn Y1, sinh năm 1969 đều trú tại bản Khá, xã M, huyện S để lập hồ sơ lâm sản khống. Lợi nhờ Cà Văn D1, sinh năm 1988, trú tại bản Khá, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La là công chức địa chính Ủy ban nhân dân xã M đến nhà các ông Lò Văn L2, Lò Văn N và Quàng Văn Y1 chụp ảnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rừng và căn cước công dân của các cá nhân trên. L nói với D1 mục đích của việc làm trên là để rà soát diện tích đất trồng rừng, D1 đến nhà các hộ dân trên chụp ảnh bằng điện thoại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rừng và căn cước công dân của các ông Lò Văn L2, Lò Văn N và Quàng Văn Y1 nói là rà soát đất trồng rừng sau đó chuyển cho L qua ứng dụng Zalo. Sau khi D1 gửi ảnh, L lên phòng làm việc của mình dùng máy tính cơ quan in Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Căn cước công dân của các ông Lò Văn L2, Lò Văn N và Quàng Văn Y1, đồng thời in biểu mẫu hồ sơ lâm sản ban hành kèm theo Thông tư số 26/2022/TT-BNNPTNT ngày
3
22/12/2022 của Bộ N1 quy định về quản lý, truy xuất nguồn gốc lâm sản gồm: Bảng kê lâm sản, Biên bản xác minh nguồn gốc lâm sản, Đơn đề nghị xác nhận bảng kê lâm sản, Phiếu thông tin khai thác lâm sản có ghi là rừng trồng còn các thông tin khác để trống để bên mua tự điền các thông tin. L đem hồ sơ đến trình ông Đào Văn T là Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện S để ký xác nhận 03 tờ Bảng kê lâm sản, ông T có hỏi L về lý do để trống thông tin hồ sơ, thì L nói là 03 hộ dân Lò Văn L2, Lò Văn N và Quàng Văn Y1 có lâm sản gỗ rừng trồng nhờ xác nhận để vận chuyển nên ông T ký xác nhận vào 03 tờ Bảng kê lâm sản và chỉ đạo L đi xác minh đầy đủ thông tin hoàn thiện hồ sơ. Sau khi ông T ký xác nhận, L đem hồ sơ đến phòng văn thư để đóng dấu xác nhận nhưng không thấy nhân viên Văn thư là Vì Văn T2 ở trong phòng nhưng thấy hộp dấu để trên bàn làm việc, L lấy dấu của H1 kiểm lâm trực tiếp đóng xác nhận vào 03 chữ ký của ông T và đóng dấu treo vào 03 Biên bản xác minh nguồn gốc lâm sản (đều để trống thông tin). Sau khi có chữ ký và đóng dấu vào các thủ tục 03 bộ hồ sơ, L gửi luôn cho T1 qua xe khách tuyến Số P - Sơn La. Khoảng một tháng sau, T1 và L gặp nhau tại một quán nước trên địa bàn thành phố S, tại đây T1 đưa cho L số tiền 24.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền L lấy 7.000.000 đồng cho vào phong bì thư và 01 chai mật ong để chung vào trong túi nilon đem lên phòng làm việc của ông T để biếu nhưng ông T đi công tác không có ở phòng, L gọi điện nói gửi quà cho ông T để ở phòng làm việc. Đến ngày thứ hai đầu tuần, ông T gọi L lên phòng làm việc hỏi số tiền 7.000.000 đồng là tiền gì L trả lời là tiền cảm ơn của các hộ dân nhờ xác nhận hồ sơ lâm sản nhưng ông T từ chối không nhận trả lại số tiền 7.000.000 đồng cho L, chỉ giữ lại chai mật ong do ông T nhờ L mua trước đó. Tổng số tiền 24.000.000 đồng đến nay L sử dụng tiêu xài cá nhân hết.
Khoảng tháng 5/2024, Phan Thế Q, sinh năm 1986, trú tại Khu H, xã Đ, huyện H, tỉnh Phú Thọ thông qua mạng xã hội Facebook có liên hệ với một người phụ nữ không quen biết tự giới thiệu tên H2, ở tỉnh Sơn La trao đổi mua được từ người phụ nữ đó 04 bộ hồ sơ nguồn gốc lâm sản gỗ keo, trong đó có 03 bộ hồ sơ mang tên Lò Văn L2, Lò Văn N và Quàng Văn Y1 được Đàm Văn L lập và đã điền đầy đủ thông tin với giá là 58.200.000 đồng. Sau khi mua được hồ sơ Quyền bán lại 04 bộ hồ sơ trên cho Nguyễn Quang T3, sinh năm 1987, trú tại xóm K, xã Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên với số tiền 61.870.500 đồng. Ngày 06/8/2024 khi T3 nhận được hồ sơ thì bị Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên phát hiện, thu giữ toàn bộ 04 bộ hồ sơ. Tháng 8/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên làm việc với L để xác minh vụ việc, L biết Cơ quan điều tra sẽ làm việc trực tiếp với Lò Văn L2, Lò Văn N, Quàng Văn Y1, lo sợ bị bại lộ L đã nhờ Cà Văn D1 cùng Lò Văn E, sinh năm 1988 (là Kiểm lâm viên Hạt kiểm lâm huyện S, tỉnh Sơn La) đưa cho các ông L2, N, Y1 mỗi
4
người 1.500.000 đồng nhưng không nói cho E và D1 biết đó là tiền gì. Mục đích đưa tiền để L tác động những người trên khai báo với Cơ quan điều tra theo ý của mình. Khi nhận tiền các ông L2, N, Y1 nghĩ rằng đó là tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng, không biết đó là tiền cá nhân của L. Quá trình điều tra lời khai của Đàm Văn L phù hợp với lời khai của những người có liên quan và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Ngày 09/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên ra Quyết định tách nguồn tin của tội phạm số 834/QĐ-CQCSĐT đối với hành vi giả mạo trong công tác của Đàm Văn L đồng thời chuyển hồ sơ cùng tài liệu có liên quan đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh Sơn La để giải quyết theo thẩm quyền. Quá trình điều tra xác minh L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.
Ngày 25/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S ra Quyết định trưng cầu giám định số 438/QĐ-ĐTTH trưng cầu Phòng K Công an tỉnh S giám định tài liệu đối với 03 hồ sơ lâm sản mang tên các chủ rừng Quàng Văn Y1, Lò Văn N, Lò Văn L2 do Đàm Văn L lập.
Kết luận giám định số 188/KL-KTHS ngày 06/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh S, kết luận:
“1. Chữ viết phần nội dung trên các mẫu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A12 và chữ ký, chữ viết mang tên Đàm Văn L dưới mục “NGƯỜI LẬP BIÊN BẢN” trên các mẫu cần giám định ký hiệu A2, A6, A10 so với chữ ký, chữ viết của Đàm Văn L trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M5 không phải do cùng một người ký, viết ra.
2. Chữ ký, chữ viết mang tên Quàng Văn Y1 dưới mục “TỔ CHỨC/CÁ NHÂN LẬP BẢNG KÊ”, “ĐẠI DIỆN TỔ CHỨC, CÁ NHÂN ĐƯỢC XÁC MINH”, “CHỦ RỪNG/CHỦ LÂM SẢN”, “CHỦ RỪNG” trên các mẫu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A4 so với chữ ký, chữ viết của Quàng Văn Y1 trên mẫu so sánh ký hiệu M6 không phải do cùng một người ký, viết ra.
3. Chữ ký, chữ viết mang tên Lò Văn N dưới mục “TỔ CHỨC/CÁ NHÂN LẬP BẢNG KÊ”, “ĐẠI DIỆN TỔ CHỨC, CÁ NHÂN ĐƯỢC XÁC MINH”, “CHỦ RỪNG/CHỦ LÂM SẢN”, “CHỦ RỪNG” trên các mẫu cần giám định ký hiệu từ A5 đến A8 so với chữ ký, chữ viết của Lò Văn N trên mẫu so sánh ký hiệu M7 không phải do cùng một người ký, viết ra.
4. Chữ ký mang tên Đào Văn T dưới mục “XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN KIỂM LÂM SỞ TẠI” trên các mẫu cần giám định ký hiệu A1, A5, A9 so với chữ
5
ký của Đào Văn T trên các mẫu so sánh ký hiệu M8 đến M11 là do cùng một người ký ra.
5. Hình dấu tròn có nội dung “CHI CỤC KIỂM LÂM TỈNH SƠN LA ★ HẠT KIỂM LÂM HUYỆN SỐP CỘP” trên các mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2, A5, A6, A9, A10 so với hình dấu tròn có cùng nội dung trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M9 đến M11 là do cùng một con dấu đóng ra.”
Quá trình điều tra ngày 15/12/2024 Đàm Văn L đã giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S số tiền được hưởng lợi là 24.000.000đồng.
Ngày 17/12/2024, ông Quàng Văn Y1 đã giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S số tiền L nhờ người khác đưa cho là 1.500.000đồng.
Đối với các ông Lò Văn L2 và Lò Văn N sau khi nhận tiền đã tiêu sài cá nhân hết số tiền L đưa, do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên chưa giao nộp cho Cơ quan điều tra.
Cáo trạng số: 08/CT-VKSSC ngày 13 tháng 6 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, truy tố Đàm Văn L về tội Giả mạo trong công tác, quy định tại điểm c khoản 2 Điều 359 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
- Bị cáo khai báo thành khẩn, nhận tội, thừa nhận toàn bộ hành vi là vi phạm pháp luật, Toà án xét xử là không oan sai.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: (Tại đơn xin xét xử vắng mặt và các lời khai tại cơ quan Điều tra), các ông Đào Văn T, Lò Văn E, Cà Văn D1, Lò Văn L2, Lò Văn N, Quàng Văn Y1 đều xác nhận: Sự việc xảy ra đúng như nội dung bản cáo trạng, các ông không có ý kiến hoặc yêu cầu gì thêm.
- Kiểm sát viên sau khi trình bày luận tội, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 và khoản 5 Điều 359, điểm b, s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt Đàm Văn L 36 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, với mức thử thách thích hợp. Phạt bổ sung bị cáo từ 10.000.000 đến 20.000.000 đồng. Giao bị cáo cho Hạt Kiểm lâm huyện S giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Bị cáo không thuộc trường hợp được miễn án phí, nên phải chịu án phí theo quy định chung; vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật. Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo.
- Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận. Sau khi được nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng:
- Cơ quan điều tra công an huyện S, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, nhưng đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử.
[2] Về chứng cứ xác định tội danh:
- Khoảng cuối tháng 4/2024, Đàm Văn L là Kiểm lâm viên thuộc Hạt kiểm lâm huyện S đã thực hiện hành vi lập khống (giả mạo), 03 bộ hồ sơ xác minh nguồn gốc khai thác lâm sản mà không có sự đề nghị của chủ rừng, không kiểm tra, xác minh nguồn gốc lâm sản. Sau đó, bán cho người khác hưởng lợi bất chính số tiền 24.000.000 đồng.
- Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội; lời khai nhận hoàn toàn thống nhất với lời khai tại cơ quan Điều tra; phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ; lời khai nhận của bị cáo cũng phù hợp với nội dung, tội danh của bản Cáo trạng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Quá trình xét hỏi, tranh luận không phát sinh tình tiết mới. Từ những phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Bị cáo Đàm Văn L đã phạm tội “Giả mạo trong công tác”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 359 Bộ luật hình sự. Do đó, khởi tố của cơ quan Điều tra và truy tố tội phạm của Viện kiểm sát đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; trực tiếp xâm hại tính đúng đắn, chính xác của các văn bản giấy tờ của cơ quan, tổ chức; gây ảnh hưởng đến uy tín của Nhà nước. Tiềm ẩn nguy cơ gây thiệt hại đến quyền và lợi ích của tổ chức, cá nhân.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan Điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người phạm tội có thành tích xuất sắc trong công tác cụ thể: Năm 2015 được Giám đốc sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh S cấp giấy chứng nhận sáng kiến “Nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ đội chuyên trách quản lý bảo vệ rừng các thôn, bản trong Ban Q1, huyện S, tỉnh Sơn la”. Năm 2016 được Giám đốc sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh S tặng danh hiệu “Chiến sỹ thi đua cấp cơ sở” và Giấy khen “Đã có thành tích hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ công tác năm 2015”; Năm 2020 được Giám đốc sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh S cấp giấy chứng nhận sáng kiến “Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ và phát triển các loài cây dược liệu trên địa bàn huyện S, tỉnh Sơn La”. Năm 2021 được Giám đốc Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh S tặng danh hiệu “Chiến sỹ thi đua cấp cơ sở” và Giấy khen “Đã có thành tích tiêu biểu trong thực hiện nhiệm vụ năm 2020”; tự nguyện giao nộp khoản tiền thu lợi bất chính. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần áp dụng cho bị cáo được hưởng.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi; căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng:
Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; sau khi tội phạm xảy ra đã tỏ rõ sự ăn năn, hối cải; chấp hành tốt các văn bản tố tụng trước khi xét xử; có nhiều tình tiết giảm nhẹ; có nơi cư trú rõ ràng; ngoài lần phạm tội này luôn chấp hành tốt đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; được cơ quan, đơn vị có đơn xin bảo lãnh. Do đó, không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để cảo tạo, giáo dục, mà chỉ cần áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, được cải tạo, giáo dục tại địa phương, dưới sự giám sát, giáo dục của cơ quan, đơn vị địa phương cũng đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo.
[5] Về vấn đề khác có liên quan trong vụ án:
- Ông Đào Văn T là Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện S, tỉnh Sơn La. Khi được bị cáo trình ký 03 Bảng kê lâm sản mới được điền từ “rừng trồng” theo mẫu đánh máy, Tưởng biết các nội dung khác đều để trống thông tin, nhưng vẫn ký xác nhận cho Đàm Văn L, sau đó chỉ đạo L xác minh thông tin và điền nội dung đầy đủ vào Bảng kê lâm sản, nhưng không kiểm tra việc L có thực hiện theo chỉ đạo hay không. Mặt khác, việc ký xác nhận vào 03 Bảng kê lâm sản thì T không được hưởng lợi ích gì, không biết mục đích của L nên hành vi của T không đồng phạm với L về hành vi giả mạo trong công tác. Tuy nhiên, hành vi thiếu trách nhiệm của T đã vi phạm nghĩa vụ của cán bộ, công chức là người đứng đầu quy định tại Điều 10, Luật cán bộ công chức đề nghị Chi cục Kiểm lâm tỉnh S xem xét xử lý cán bộ theo quy định.
- Đối với Vì Văn T2 là nhân viên văn thư có nhiệm vụ bảo quản, đóng con dấu của Hạt kiểm lâm huyện S nhưng đã thiếu trách nhiệm để con dấu tại bàn làm việc khi T2 không có ở phòng để L có điều kiện đóng dấu vào các tài liệu khống. Hành vi của T2 đã vi phạm quy định về quản lý và sử dụng con dấu của Hạt kiểm lâm huyện S; vi phạm nghĩa vụ của cán bộ, công chức trong thi hành công vụ, quy định tại Điều 9, Luật cán bộ công chức, đề nghị Chi cục Kiểm lâm tỉnh S xem xét xử lý cán bộ theo đúng quy định.
- Đối với Lò Văn E, Cà Văn D1, Lò Văn L2, Lò Văn N, Quàng Văn Y1 quá trình điều tra xác định những người này không biết động cơ, mục đích phạm tội của Đàm Văn L nên không có căn cứ để xử lý, là có căn cứ, cần chấp nhận.
- Đối với người đàn ông tên T1: Quá trình điều tra, xác minh không xác định được họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của T1, do đó không có căn cứ để xử lý trong vụ án.
- Đối với Phan Thế Q, Nguyễn Quang T3 và người phụ nữ tên H2, có hành vi mua bán 03 bộ tài liệu do Đàm Văn L thực hiện giả mạo trong công tác. Hành vi của các đối tượng trên đang được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T thụ lý xác minh theo quy định pháp luật. Do đó không đặt vấn đề xử lý đối với Nguyễn Quang T3, Phan Thế Q và H2 trong vụ án này.
- Đối với người đã điền các thông tin đầy đủ vào 03 bộ hồ sơ lâm sản, quá trình điều tra không xác định được là ai nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án.
- Đối với khoản tiền cá nhân bị cáo đưa cho các ông Lò Văn L2, Lò Văn N mỗi người 1.500.000 đồng. Tại phiên toà, bị cáo không yêu cầu các ông trên phải bồi hoàn, nên Toà không xem xét.
- Đối với khoản tiền 1.500.000 đồng bị cáo đưa cho ông Quàng Văn Y1, ông Y1 đã giao nộp cho cơ quan Điều tra. Khoản tiền này bị cáo đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử cần xem xét.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội vụ lợi, nên cần phạt bổ sung là phạt tiền.
[7] Vật chứng của vụ án: Số tiền 24.000.000 đồng do bị cáo giao nộp là tiền do phạm tội mà có, cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Đối với số tiền 1.500.000 đồng do ông Quàng Văn Y1 giao nộp, khoản tiền này không liên quan đến phạm tội, cần trả lại cho bị cáo.
9
[8] Về án phí: Bị cáo không thuộc trường hợp được miễn, nên phải chịu án phí theo quy định chung.
[9] Về quan điểm của Kiểm sát viên như: Nội dung, tội danh và các vấn đề khác đối với bị cáo đều phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 2 và khoản 5 Điều 359, điểm b, s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Đàm Văn L phạm tội: Giả mạo trong công tác.
Xử phạt: Đàm Văn L 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 05 năm (năm năm). Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án, ngày 27/6/2025. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng, (Mười triệu đồng).
Giao Đàm Văn L cho Hạt Kiểm lâm huyện S, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
“Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự”.
- Về vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 24.000.000 đồng. (Hai mươi bốn triệu).
- - Trả lại cho bị cáo Đàm Văn L số tiền 1.500.000 đồng. (Một triệu năm trăm nghìn).
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 08 ngày 13/6/2025 của Viện kiểm sát huyện S và biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/6/2025 giữa Chi cục thi hành án dân sự huyện Sốp Cộp và Công an sự huyện S, tỉnh Sơn La).
10
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, các Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án ngày 27/6/2025; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lường Văn Quyết |
11
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lường Văn Quyết |
12
13
14
Bản án số 20/2025/HS-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA về giả mạo trong công tác (hình sự)
- Số bản án: 20/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Giả mạo trong công tác (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đàm Văn L phạm tội Giả mạo trong công tác
