|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 20/2025/HS-ST Ngày: 27/5/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Phan Lê Vũ Huy Hoàng |
| Thẩm phán: | Ông Nguyễn Hoàng Thành |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Trần Văn Việt |
| Bà Nguyễn Thị Thanh Tuyền | |
| Bà Nguyễn Xuân Hoàng |
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Sơn – Thư ký viên, Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Lâm Hol - Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2025/TLST-HS, ngày 27 tháng 02 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-HS, ngày 21 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đặng Kiều T, sinh ngày: 01/01/1985; Nơi sinh: Huyện K, tỉnh Sóc Trăng; Nơi thường trú: Số 64c, đường P, Khóm B, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Văn C và bà Đoàn Thị B; Chồng: Trương Vĩnh B1; Con: Có 02 người con, người con lớn sinh năm 2009, người con nhỏ sinh năm 2011; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/10/2024 cho đến nay. (có mặt)
- Người bào chữa: Ông Trần Quốc D - Luật sư của Văn phòng L4, thuộc Đoàn luật sư tỉnh S; Địa chỉ: Số I đường T, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
- Bị hại:
- Bà Mạch Thị Chúc P (Tuyết A), sinh ngày 01/01/1981; Nơi cư trú: Số B, đường T, Khóm A, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)
- Bà Nguyễn Thị Kim O, sinh ngày 30/4/1973; Nơi cư trú: Số B, đường T, Khóm A, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)
- Bà Trần Thị P1 (S), sinh ngày 01/01/1964; Nơi cư trú: Số B, đường T, Khóm A, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)
- Bà Đặng Thị N, sinh ngày 01/01/1986; Nơi cư trú: Ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Bà Lâm Huệ X (X1), sinh ngày 01/01/1969; Nơi cư trú: Số A, đường T, Khóm A, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)
- Bà Lý Thị L, sinh ngày 05/8/1990; Nơi cư trú: Số C, đường T, Khóm B, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)
- Bà Võ Ánh N1 (T1), sinh ngày 07/10/1968; Nơi cư trú: Số F, đường P, Khóm B, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Bà Lê Thị Trúc T2 (Ánh Hồng), sinh ngày 01/01/1986; Nơi cư trú: Số F, đường P, Khóm B, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)
- Bà Lê Thị Thùy L1, sinh ngày 19/3/1988; Nơi cư trú: Số F, đường P, Khóm B, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Bà Lê Thị Diễm K, sinh ngày 31/10/1989; Nơi cư trú: Số F, đường P, Khóm B, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Bà Phan Thị S1, sinh ngày 01/01/1971; Nơi cư trú: Số B, đường T, Khóm A, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Bà Phan Thị Cẩm T3, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Số F, đường K, Khóm A, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Bà Phạm Thị Thanh T4, sinh ngày 08/6/1986; Nơi cư trú: Số A, Đường I, Khu đô thị E, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Bà Phạm Thị H, sinh ngày 01/01/1950; Nơi cư trú: Số E, đường T, Khóm E, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Bà Trịnh Diệu H1, sinh ngày 09/09/1966; Nơi cư trú: Ấp C, thị trấn L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Bà Trần Thị H2, sinh ngày 15/8/1978; Nơi cư trú: Số B, đường T, Khóm A, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Bà Trần Thị H3, sinh ngày 01/01/1978; Nơi cư trú: NL4-E04, Đường số B, Khu dân cư S, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)
- Bà Trần Diễm T5, sinh ngày 17/01/1988; Nơi cư trú: Số C, đường T, Khóm B, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Bà Trần Thị Ánh N2, sinh ngày 25/6/1974; Nơi cư trú: Số B, đường T, Khóm A, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Ông Triệu Minh H4, sinh ngày 09/10/1979; Nơi cư trú: Số D, đường K, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Bà Triệu Thị K1, sinh ngày 09/6/1958; Nơi cư trú: Số D, đường K, Khóm A, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Ông Huỳnh Thanh C1, sinh ngày 26/3/1987; Nơi cư trú: Số B, đường V, Khóm E, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Thu H5, sinh ngày 30/12/1982; Nơi cư trú: Số E, đường T, Khóm E, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)
- Bà Nguyễn Thị Tuyết T6, sinh ngày 01/01/1990; Nơi cư trú: Số F, đường K, Khóm A, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Bà Võ Thị H6, sinh ngày 09/02/1978; Nơi cư trú: Số B, đường T, Khóm A, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Bà Võ Thị Diệu Q, sinh ngày 20/4/1982; Nơi cư trú: Số A, đường P, Khóm C, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Ông Võ Minh L2, sinh ngày 20/7/1989; Nơi cư trú: Ấp H, xã X, huyện K, tỉnh Sóc Trăng; Nơi ở hiện tại: Số A, đường Đ, Khóm A, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)
- Bà Nguyễn Mộng T10, sinh ngày 24/4/1984; Nơi cư trú: Số C, đường T, Khóm A, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án
- Ông Trương Vĩnh B1, sinh ngày 21/01/1984; Nơi cư trú: Số F đường P, Khóm B, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)
- Bà Trương Thị Kim H7, sinh ngày 17/01/1980; Nơi cư trú: Số F đường P, Khóm B, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Bà Trương Thị Kim N3, sinh ngày 29/7/1981; Nơi cư trú: Số F đường P, Khóm B, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Bà Đoàn Thị B, sinh năm 1954; Nơi cư trú: Ấp M, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)
- Bà Đặng Thị Kiều P2, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Ấp P, xã S, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)
- Bà Trương Thị N4, sinh năm 1977; Nơi cư trú: Ấp M, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Ông Hình Bảo A1, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Ấp C, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Bà Lý Huỳnh Huyền T7, sinh ngày 04/9/1982; Nơi cư trú: Số B đường T, Khóm A, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Bà Lý Thị Kim L3, sinh ngày 02/01/1987; Nơi cư trú: Số B đường K, Khóm A, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Bà Trương Thị Ngọc G, sinh ngày 14/10/1983; Nơi cư trú: Số B, đường T, Khóm A, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Bà Thạch Thị Mỹ T8, sinh ngày 15/3/1983; Nơi cư trú: Số E, đường K, Khóm A, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Hoàng S2, sinh ngày 01/4/1986; Nơi cư trú: Số A (Số cũ 37), đường L, Khóm E, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)
- Bà Nguyễn Ánh T9, sinh ngày 27/12/1984; Nơi cư trú: Số C, đường K, Khóm A, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Bà Ngô Ngọc H8, sinh ngày 15/7/1977; Nơi cư trú: Số B, đường T, Khóm A, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)
- Bà Quách Thanh H9, sinh ngày 01/01/1981; Nơi cư trú: Số D, đường K, Khóm A, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Bà Khưu Quế K2, sinh ngày 26/6/1981; Nơi cư trú: Số B, đường T, Khóm A, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Ông Vương Tài V, sinh ngày 01/01/1985; Nơi cư trú: Số B, đường T, Khóm A, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Bà Vương Thị Thu N5, sinh ngày 28/12/1980; Nơi cư trú: Số E, đường S, ấp P, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Bà Vương Thị Thu B2, sinh ngày 15/4/1989; Nơi cư trú: Số B, đường T, Khóm A, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Đặng Kiều T, cư trú số F P, khóm B, phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Trước năm 2015, bị cáo có tham gia hụi của những chủ hụi khác, thấy việc làm chủ hụi (đầu thảo) có thể mang lại thu nhập thêm cho gia đình nên từ năm 2015 bị cáo bắt đầu tổ chức mở (khui) nhiều dây, loại hụi, với giá trị khác nhau và rủ rê người cùng xóm, quen biết hoặc bạn bè của chồng tham gia. Thời gian đầu việc thu, chi tiền hụi rất xòng phẳng tạo được uy tín với những người tham gia, thời gian sau một số thành viên sau khi lĩnh (hốt) hụi đã chậm trễ hoặc không đóng hụi, bị cáo phải tự lấy tiền gia đình để xoay sở, nhưng bị thâm hụi tiền, do đó từ khoảng năm 2017, bị cáo tiếp tục mở (khui) thêm nhiều dây hụi mới. Trong những dây hụi này, do cần có tiền tiêu xài cá nhân và tràn lấp cho phần hụi của các thành viên khác nên bị cáo đã có hành vi gian dối bằng cách ghi tên thành viên khống (N2, Bảo N6, Bé N7, T5, L1, Chị A1, Ngọc N8, B, Chị 2, Chị 3...) không cho các hụi viên trong dây hụi biết để lĩnh và bán các phần hụi này cho người khác lấy tiền, đưa ra thông tin gian dối là có thành viên khác lĩnh hụi, nhưng thực tế họ không có lĩnh hụi mà bị cáo đã tự ý lĩnh hụi, ngoài ra bị cáo còn gom tiền hụi nhưng không giao cho người được lĩnh. Đến khoảng cuối năm 2019, do không còn khả năng chi trả tiền hụi, bị cáo cùng gia đình rời khỏi địa phương nên một số người tham gia đã đến Cơ quan công an trình báo (bút lục 01-02).
Quá trình điều tra, làm rõ đã chứng minh được, từ ngày 22/10/2017 âm lịch (nhằm ngày 09/12/2017) đến ngày 28/8/2019 âm lịch (nhằm ngày 25/9/2019 dương lịch), bị cáo mở 14 dây hụi, trong những dây hụi trên, bị cáo đã có hành vi
gian dối chiếm đoạt tiền của những người tham gia bằng nhiều cách thức, cụ thể như sau:
- Dây hụi mở ngày 22/10/2017 âm lịch (nhằm ngày 09/12/2017 dương lịch), loại hụi tháng 1.000.000 đồng/phần, danh sách ghi 25 thành viên tham gia 34 phần hụi, trong đó bị cáo ghi 05 tên khống (Chị A1, Chị Q1, Chỉ H, C, N7) để tham gia 07 phần. Hụi đã khui được 25 kỳ thì ngưng hụi. Có 12 thành viên tham gia 20 phần đã lĩnh hụi 16 phần. Còn 08 thành viên tham gia 09 phần chưa lĩnh.
Dây hụi này, bị cáo dùng 05 tên khống (Chị A1, Chị Q1, Chỉ H, C, N7) để lĩnh 05 phần được 88.345.000 đồng, bán 02 phần hụi khống (Chị A1, N7) cho Mạch Thị Chúc P được 53.560.000 đồng, đưa ra thông tin gian dối để lĩnh 04 phần của các thành viên [Trương Thị N4 (Anh P3), Nguyễn Thị Thu H5 (Chị H5), Võ Ánh V1 (Mẹ)] được 43.320.000 đồng. Số tiền bị cáo chiếm đoạt được trong dây hụi này là 196.315.000 đồng (bút lục 241-250, 256-258).
- Dây hụi mở ngày 05/02/2018 âm lịch, nhằm ngày 21/3/2018 dương lịch, loại hụi tháng 1.000.000 đồng/ 01 phần, danh sách ghi 23 thành viên tham gia 25 phần hụi, trong đó bị cáo ghi 05 tên khống (Bảo N6, Chỉ Hưởng, Chị ba, N6, Chị Q1) để tham gia 05 phần. Hụi đã khui được 21 kỳ thì ngưng hụi. Có 13 thành viên tham gia 16 phần đã lĩnh hụi 14 phần. Còn 05 thành viên tham gia 06 phần chưa lĩnh.
Dây hụi này, bị cáo dùng 05 tên khống (Bảo N6, Chỉ Hưởng, Chị ba, N6, Chị Q1) để lĩnh 05 phần được 73.970.000 đồng, bán 02 phần hụi không có thật (hụi khống) cho Mạch Thị Chúc P được 37.300.000 đồng, đưa ra thông tin gian dối để lĩnh 02 phần của các thành viên [Nguyễn Thị Mộng T10 (Chị T11), Đoàn Thị B (Mẹ Bé)] được 28.300.000 đồng, gom tiền hụi chết của thành viên [Trương Thị Ngọc G (Chị G)] nhưng không giao cho người được lĩnh. Số tiền bị cáo chiếm đoạt được trong dây hụi này là 145.570.000 đồng (bút lục 251-255, 259-260).
- Dây hụi mở ngày 29/4/2018 âm lịch, nhằm ngày 12/6/2018 dương lịch, loại hụi tháng 1.000.000 đồng/ 01 phần, danh sách ghi 19 thành viên tham gia 25 phần hụi, trong đó bị cáo ghi 02 tên khống (B1 anh, Ngọc N8) để tham gia 02 phần. Hụi đã khui được 19 kỳ thì ngưng hụi. Có 11 thành viên tham gia 12 phần đã lĩnh hụi 12 phần. Còn 06 thành viên tham gia 11 phần chưa lĩnh.
Dây hụi này, bị cáo dùng 02 tên khống (Ngọc N8, B1 anh) để lĩnh 02 phần được 36.130.000 đồng, đưa ra thông tin gian dối để lĩnh 05 phần của các thành viên [Võ Ánh V1 (Mẹ CK), Nguyễn Thị Thu H5 (Chị hồng) 02 phần, Mạch Thị Chúc P (Chị anh) 02 phần] được 93.650.000 đồng. Số tiền bị cáo chiếm đoạt được trong dây hụi này là 129.780.000 đồng (bút lục 261-266).
- Dây hụi mở ngày 19/7/2018 âm lịch, nhằm ngày 29/8/2018 dương lịch, loại hụi tháng 1.000.000 đồng/ 01 phần, danh sách ghi 16 thành viên tham gia 19 phần hụi, trong đó bị cáo ghi 04 tên khống (Quanh H1, B, N6, Chị 3) để tham gia 04 phần. Hụi đã khui được 16 kỳ thì ngưng hụi. Có 09 thành viên tham gia 11 phần đã lĩnh hụi 11 phần. Còn 03 thành viên tham gia 03 phần chưa lĩnh.
Dây hụi này, bị cáo dùng 04 tên khống (Quanh H, B, N6, Chị 3) để lĩnh 04 phần được 43.620.000 đồng, đưa ra thông tin gian dối để lĩnh 01 phần của thành viên [Mạch Thị Chúc P (Chị anh)] được 13.755.000 đồng. Số tiền bị cáo chiếm đoạt được trong dây hụi này là 57.375.000 đồng (bút lục 284-286).
- Dây hụi mở ngày 30/10/2018 âm lịch, nhằm ngày 21/3/2018 dương lịch, loại hụi 10 ngày 500.000 đồng/ 01 phần, danh sách ghi 22 thành viên tham gia 42 phần hụi, trong đó bị cáo ghi 06 tên khống (B, Chị 2, Chú tư, Phương tý, Chị 3, Chị quanh) để tham gia 10 phần. Hụi đã khui được 37 kỳ thì ngưng hụi. Có 13 thành viên tham gia 27 phần đã lĩnh hụi 24 phần. Còn 06 thành viên tham gia 08 phần chưa lĩnh.
Dây hụi này, bị cáo dùng 06 tên khống (B, Chị 2, Chú tư, Phương tý, Chị 3, Chị quanh) để lĩnh 10 phần được 122.250.000 đồng, bán 01 phần hụi không có thật (hụi khống) cho Mạch Thị Chúc P được 13.400.000 đồng, đưa ra thông tin gian dối để lĩnh 03 phần của các thành viên [Võ Minh L2 (Lưng), Nguyễn Thị Thu H5 (Chị hồng) 02 phần] được 44.625.000 đồng. Số tiền bị cáo chiếm đoạt được trong dây hụi này là 180.275.000 đồng (bút lục 267-273).
- Dây hụi mở ngày 04/12/2018 âm lịch, nhằm ngày 09/01/2019 dương lịch, loại hụi 10 ngày 500.000 đồng/ 01 phần, danh sách ghi 24 thành viên tham gia 40 phần hụi, trong đó bị cáo ghi 06 tên khống (C, Chị 2, N, C2, Chị quanh, Bảo C3) để tham gia 08 phần. Hụi đã khui được 33 kỳ thì ngưng hụi. Có 12 thành viên tham gia 23 phần đã lĩnh hụi 20 phần. Còn 08 thành viên tham gia 12 phần chưa lĩnh.
Dây hụi này, bị cáo dùng 06 tên khống (C, Chị 2, N, C2, Chị quanh, Bảo C3) để lĩnh 08 phần được 94.035.000 đồng, bán 01 phần hụi không có thật (hụi khống) cho Mạch Thị Chúc P được 13.510.000 đồng, đưa ra thông tin gian dối để lĩnh 05 phần của các thành viên [Nguyễn Mộng T10 (Chị tiền), Phạm Thị Thanh T4 (C2), Trần Thị H3 (Chị hưởng), Nguyễn Thị Thu H5 (Chị hồng) 02 phần] được 69.570.000 đồng. Số tiền bị cáo chiếm đoạt được trong dây hụi này là 177.115.000 đồng (bút lục 274-280).
- Dây hụi mở ngày 16/01/2019 âm lịch, nhằm ngày 20/02/2019 dương lịch, loại hụi tháng 1.000.000 đồng/ 01 phần, danh sách ghi 16 thành viên tham gia 20 phần hụi, trong đó bị cáo ghi 03 tên khống (Chị hưởng, Bé N7, Chị 2) để tham gia 04 phần. Hụi đã khui được 09 kỳ thì ngưng hụi. Có 04 thành viên tham gia 05 phần đã lĩnh hụi 05 phần. Còn 09 thành viên tham gia 11 phần chưa lĩnh.
Dây hụi này, bị cáo dùng 04 tên khống (Bé N7, Chị hưởng, Chị 2) để lĩnh 04 phần được 46.440.000 đồng, đưa ra thông tin gian dối để lĩnh 01 phần của thành viên [Đặng Thị Kiều P2 (Chị phương)] được 12.265.000 đồng. Số tiền bị cáo chiếm đoạt được trong dây hụi này là 58.705.000 đồng (bút lục 281-283).
- Dây hụi mở ngày 10/02/2019 âm lịch, nhằm ngày 15/3/2019 dương lịch, loại hụi tháng 1.000.000 đồng/ 01 phần, danh sách ghi 09 thành viên tham gia 12 phần hụi, trong đó bị cáo ghi 03 tên khống (Chị hưởng, Chị tú, Bé ngọc) để tham gia 03 phần. Hụi đã khui được 09 kỳ thì ngưng hụi. Có 05 thành viên tham gia 08 phần đã lĩnh hụi 05 phần. Còn 03 thành viên tham gia 04 phần chưa lĩnh.
Dây hụi này, bị cáo dùng 03 tên khống (Bé ngọc, Chị tú, Chị hưởng) để lĩnh 03 phần được 21.670.000 đồng, đưa ra thông tin gian dối để lĩnh 01 phần của thành viên [Nguyễn Thị Thu H5 (Chị hồng)] được 7.230.000 đồng. Số tiền bị cáo chiếm đoạt được trong dây hụi này là 28.900.000 đồng (bút lục 290-291, 300-301).
- Dây hụi mở ngày 06/5/2019 âm lịch, nhằm ngày 08/6/2019 dương lịch, loại hụi tháng 3.000.000 đồng/ 01 phần, danh sách ghi 13 thành viên tham gia 16 phần hụi, trong đó bị cáo ghi 03 tên khống (L1, Bảo ngọc, Chị 2) để tham gia 03 phần. Hụi đã khui được 06 kỳ thì ngưng hụi. Có 05 thành viên tham gia 06 phần đã lĩnh hụi 05 phần. Còn 06 thành viên tham gia 08 phần chưa lĩnh.
Dây hụi này, bị cáo dùng 01 tên khống (Bảo ngọc) để lĩnh 01 phần được 25.300.000 đồng, bán 01 phần hụi khống (L1) cho Mạch Thị Chúc P được 35.000.000 đồng. Số tiền bị cáo chiếm đoạt được trong dây hụi này là 60.300.000 đồng (bút lục 287-289).
- Dây hụi mở ngày 17/6/2019 âm lịch, nhằm ngày 19/7/2019 dương lịch, loại hụi 10 ngày 500.000 đồng/ 01 phần, danh sách ghi 13 thành viên tham gia 28 phần hụi, trong đó bị cáo ghi 03 tên khống (Bảo ngọc, Chị 3, Chị 2) để tham gia 05 phần. Hụi đã khui được 20 kỳ thì ngưng hụi. Có 05 thành viên tham gia 12 phần đã lĩnh hụi 09 phần. Còn 07 thành viên tham gia 14 phần chưa lĩnh.
Dây hụi này, bị cáo dùng 03 tên khống (Bảo ngọc, Chị 3, Chị 2) để lĩnh 05 phần được 47.580.000 đồng, đưa ra thông tin gian dối để lĩnh 06 phần của các thành viên [Võ Minh L2 (Lưng) 05 phần, Nguyễn Mộng T10 (Chị tiền)] được 50.435.000 đồng. Số tiền bị cáo chiếm đoạt được trong dây hụi này là 98.015.000 đồng (bút lục 294-297).
- Dây hụi mở ngày 19/6/2019 âm lịch, nhằm ngày 21/7/2019 dương lịch, loại hụi tháng 1.000.000 đồng/ 01 phần, danh sách ghi 11 thành viên tham gia 13 phần hụi, trong đó bị cáo ghi 02 tên khống (N7, T5) để tham gia 02 phần. Hụi đã khui được 05 kỳ thì ngưng hụi. Có 02 thành viên tham gia 02 phần đã lĩnh hụi 02 phần. Còn 07 thành viên tham gia 09 phần chưa lĩnh.
Dây hụi này, bị cáo dùng 02 tên khống (N7, T5) để lĩnh 02 phần được 15.620.000 đồng, đưa ra thông tin gian dối để lĩnh 01 phần của thành viên [Đặng Thị N (No)] được 7.850.000 đồng. Số tiền bị cáo chiếm đoạt được trong dây hụi này là 23.740.000 đồng (bút lục 298-299).
- Dây hụi mở ngày 19/6/2019 âm lịch, nhằm ngày 21/7/2019 dương lịch, loại hụi tuần 300.000 đồng/ 01 phần (dây 1), danh sách ghi 23 thành viên tham gia 36 phần hụi, trong đó bị cáo ghi 03 tên khống (Chị ngân, T5, N7) để tham gia 05 phần. Hụi đã khui được 19 kỳ thì ngưng hụi. Có 06 thành viên tham gia 10 phần đã lĩnh hụi 09 phần. Còn 15 thành viên tham gia 23 phần chưa lĩnh.
Dây hụi này, bị cáo dùng 03 tên khống (Chị ngân, T5, N7) để lĩnh 05 phần được 31.820.000 đồng, đưa ra thông tin gian dối để lĩnh 05 phần của các thành viên [Võ Minh L2 (Lưng), Đặng Thị Kiều P2 (Chị phương), Võ Ánh V1 (Mẹ), Nguyễn Thị Thu H5 (Chị hồng) 02 phần] được 32.630.000 đồng. Số tiền bị cáo chiếm đoạt được trong dây hụi này là 64.450.000 đồng (bút lục 302-309).
- Dây hụi mở ngày 19/6/2019 âm lịch, nhằm ngày 21/7/2019 dương lịch, loại hụi tuần 300.000 đồng/ 01 phần (dây 2), danh sách ghi 24 thành viên tham gia 36 phần hụi, trong đó bị cáo ghi 02 tên khống (Chị 2, T5) để tham gia 02 phần. Hụi đã khui được 19 kỳ thì ngưng hụi. Có 07 thành viên tham gia 14 phần đã lĩnh hụi 10 phần. Còn 17 thành viên tham gia 24 phần chưa lĩnh.
Dây hụi này, bị cáo dùng 02 tên khống (C, T5) để lĩnh 02 phần được 13.875.000 đồng, đưa ra thông tin gian dối để lĩnh 07 phần của các thành viên [Võ Minh L2 (Lưng), Võ Ánh V1 (Mẹ), Đặng Thị Kiều P2 (Chị phương), Nguyễn Thị Thu H5 (Chị hồng) 02 phần, Lê Thị Chúc T12 (N7) 02 phần] được 48.615.000 đồng. Số tiền bị cáo chiếm đoạt được trong dây hụi này là 62.490.000 đồng (bút lục 310-317).
- Dây hụi mở ngày 27/8/2019 âm lịch, nhằm ngày 25/9/2019 dương lịch, loại hụi 15 ngày, 500.000 đồng/ 01 phần, danh sách ghi 19 thành viên tham gia 32 phần hụi, trong đó bị cáo ghi 03 tên khống (Chị 2, B, Chị 3) để tham gia 04 phần. Hụi đã khui được 05 kỳ thì ngưng hụi. Có 02 thành viên tham gia 05 phần đã lĩnh hụi 03 phần. Còn 16 thành viên tham gia 25 phần chưa lĩnh.
Dây hụi này, bị cáo dùng 02 tên khống (Chị 2, C) để lĩnh 02 phần chiếm đoạt được 19.910.000 đồng (bút lục 291-293).
Số tiền có được từ việc lĩnh, bán hụi không có thật (hụi khống), đưa ra thông tin gian dối để lĩnh các phần hụi của thành viên, gom hụi nhưng không giao cho người được lĩnh, tổng cộng 1.302.670.000 đồng, bị cáo Đặng Kiều T dùng để đóng tiền các chân hụi khống mà bị cáo tham gia, đóng bù cho các phần hụi do bị cáo tự ý lĩnh của thành viên là 492.070.000 đồng, đóng lấp các phần hụi là 153.600.000 đồng. Số tiền còn lại 656.980.000 đồng bị cáo dùng để tiêu xài, sinh hoạt gia đình trong khoảng thời gian từ 2017 đến 2019, tuy nhiên, các khoản này bị cáo không nhớ nên không trình bày được cụ thể.
Tại bản Cáo trạng số 12/CT-VKSST-P2 ngày 26/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng truy tố bị cáo Đặng Kiều T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên toà, sau khi công bố bản cáo trạng. Căn cứ vào quy định tại Điều 306 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2021), Kiểm sát viên trình bày ý kiến bổ sung về việc điều chỉnh địa chỉ của bà Lâm Huệ X, bà Lý Thị L, ông Nguyễn Hoàng S2; Sửa đổi dây hụi mở ngày 22/10/2017 âm lịch (nhằm ngày 09/12/2017 dương lịch), loại hụi tháng 1.000.000 đồng/phần đối với số tiền bị cáo đưa ra thông tin gian dối để lĩnh 04 phần hụi số tiền 43.320.000 đồng là chưa chính xác, nay sửa đổi số tiền 54.320.000 đồng là chính xác; Dây hụi mở
ngày 05/02/2018 âm lịch (nhằm ngày 21/3/2018 dương lịch), loại hụi tháng 1.000.000 đồng/01 phần, bổ sung đối với số tiền gom tiền hụi chết của thành viên [Trương Thị Ngọc G (Chị G)] nhưng không giao cho người được lĩnh 6.000.000 đồng; Sửa đổi dây hụi mở ngày 19/6/2019 âm lịch (nhằm ngày 21/7/2019 dương lịch), loại hụi tháng 1.000.000 đồng/01 phần đối với số tiền bị cáo chiếm đoạt được trong dây hụi này là 23.740.000 đồng là chưa chính xác, nay sửa đổi số tiền 23.470.000 đồng là chính xác. Những sửa đổi, bổ sung này không làm thay đổi tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt là 1.302.670.000 đồng.
* Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Kiều T khai nhận hành vi đã thực hiện như Cáo trạng đã truy tố và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt. Về trách nhiệm dân sự bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại trong vụ án và bị cáo yêu cầu người liên quan đã hốt hụi trả tiền nợ hụi cho bị cáo.
* Khi luận tội tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án như sau:
Tuyên bố bị cáo Đặng Kiều T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; các điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đề nghị xử phạt bị cáo Đặng Kiều T từ 12 đến 13 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án các loại sổ, sách hụi.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền là 457.984.000 đồng. Trong đó, Lâm Huệ X (25.640.000 đồng), Lý Thị L (12.945.000 đồng), Mạch Thị Chúc P (188.440.000 đồng), Nguyễn Thị Tuyết T6 (12.615.000 đồng), Phạm Thị H(25.470.000 đồng), Phan Thị S1 (9.606.000 đồng), Trần Thị Ánh N2 (19.100.000 đồng), Trần Thị H3 (30.000.000 đồng), Trần Thị P1 (84.160.000 đồng), Triệu Thị K1 (20.490.000 đồng), Trịnh Diệu H1 (13.965.000 đồng), Võ Thị Diệu Q (3.600.000 đồng), Trần Diễm T5 (11.950.000 đồng), bị cáo đồng ý bồi trả nên đề nghị ghi nhận sự thỏa thuận.
* Người bào chữa cho bị cáo trình bày lời bào chữa: Thống nhất về tội danh và tình tiết tăng nặng, các tình tiết giảm nhẹ như Kiểm sát viên đề nghị. Đề nghị ghi nhận sự thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo với bị hại. Về mức hình phạt đề nghị xử phạt bị cáo ở mức khởi điểm như Kiểm sát viên đề nghị.
* Tại phiên tòa, bị hại Mạch Thị Chúc P yêu cầu bị cáo trả số tiền 188.440.000 đồng và xin giảm hình phạt cho bị cáo, bị hại Trần Thị P1 yêu cầu bị cáo trả số tiền 84.160.000 đồng và xin giảm hình phạt cho bị cáo, bị hại Lâm Huệ X yêu cầu bị cáo trả số tiền 25.640.000 đồng và xin giảm hình phạt cho bị cáo, bị hại Lý Thị L yêu cầu bị cáo trả số tiền 12.945.000 đồng và xin giảm hình phạt cho bị cáo, bị hại Trần Thị H3 yêu cầu bị cáo trả số tiền 30.000.000 đồng và xin giảm hình phạt cho bị cáo,
* Tại phiên tòa. Bị cáo đồng ý theo yêu cầu của bị hại có mặt tại phiên toà, cũng như bị hại vắng mặt nhưng có yêu cầu như bị hại Nguyễn Thị Tuyết T6 yêu cầu bị cáo trả số tiền 12.615.000 đồng, bị hại Phạm Thị H yêu cầu bị cáo trả số tiền 25.470.000 đồng, bị hại Phan Thị S1 yêu cầu bị cáo trả số tiền 9.606.000 đồng, bị hại Trần Thị Ánh N2 yêu cầu bị cáo trả số tiền 19.100.000 đồng, bị hại Triệu Thị K1 yêu cầu bị cáo trả số tiền 20.490.000 đồng, bị hại Trịnh Diệu H1 yêu cầu bị cáo trả số tiền 13.965.000 đồng, bị hại Võ Thị Diệu Q yêu cầu bị cáo trả số tiền 3.600.000 đồng, bị hại Trần Diễm T5 yêu cầu bị cáo trả số tiền 11.950.000 đồng. Bị cáo yêu cầu những người liên quan bà Ngô Ngọc H8 trả số tiền 19.000.000 đồng, ông Nguyễn Hoàng S2 trả số tiền 31.000.000 đồng, ông Vương T13 V số tiền 4.000.000 đồng, bà Vương Thị Thu N5 số tiền 86.700.000 đồng, bà Trần Ánh T14 trả số tiền 5.000.000 đồng, bà Trương Thị Ngọc G trả số tiền 5.000.000 đồng, bà Lý Thị Kim L3 trả số tiền 1.110.000 đồng, bà Vương Thị Thu B2 trả số tiền 28.000.000 đồng.
* Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về sự có mặt của người tham gia tố tụng: Mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, bị hại bà Đặng Thị N, bà Võ Ánh N1 (T1), bà Lê Thị Trúc T2 (Á), bà Lê Thị Diễm K, bà Phan Thị S1, bà Phan Thị Cẩm T3, bà Phạm Thị Thanh T4, bà Phạm Thị H, bà Trịnh Diệu H1, bà Trần Thị H2, bà Trần Diễm T5, bà Trần Thị Ánh N2, ông Triệu Minh H4, bà Triệu Thị K1, ông Huỳnh Thanh C1, bà Nguyễn Thị Tuyết T6, bà Võ Thị H6, bà Võ Thị Diệu Q, bà Nguyễn Mộng T10 vắng mặt; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị Kim H7, bà Trương Thị Kim N3, bà Trương Thị N4, ông Hình Bảo A1, bà Lý Huỳnh Huyền T7, bà Lý Thị Kim L3, bà Trương Ngọc G, bà Thạch Thị Mỹ T8, bà Nguyễn Ánh T9, bà Quách Thanh H9, bà Khưu Quế K2, ông Vương Tài V, bà Vương Thị Thu N5, bà Vương Thị Thu B2 vắng mặt không rõ lý do. Việc vắng mặt không gây ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 292 và 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2021) Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Qua xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, bị cáo Đặng Kiều T đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện như nội dung vụ án đã nêu ở phần trên. Lời thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai trước đây của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và vụ án còn được chứng minh qua các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà cơ quan điều tra đã thu thập được. Như vậy, đã có đủ căn
cứ để xác định: Trong khoảng thời gian từ ngày 09/12/2017 đến ngày 25/9/2019, bị cáo làm chủ hụi (đầu thảo) của 14 dây hụi, gồm hụi 02 dây hụi 300.000 đồng/phần, 04 dây hụi 500.000 đồng/phần, 07 dây hụi 1.000.000 đồng/phần, 01 dây hụi 3.000.000 đồng/phần. Bị cáo đưa tên hụi viên khống tham gia chơi hụi để bị cáo hốt hụi và bán hụi hoặc bị cáo tự ý hốt hụi của thành viên khác và gom tiền hụi nhưng không giao tiền cho người lĩnh hụi để chiếm đoạt tổng số tiền 1.302.670.000 đồng và sử dụng vào việc tràn hụi, lấp hụi. Do không còn khả năng chi trả tiền hụi nên bị cáo rời khỏi địa phương thì một số hụi viên trình báo có quan công an. Do đó, Cáo trạng số 12/CT-VKSST-P2 ngày 26/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo Đặng Kiều T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
[4] Xét hành vi phạm tội của bị cáo Đặng Kiều T: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được việc hốt hụi khống, hốt hụi nhưng không giao tiền cho hụi viên và bán hụi khống cho các bị hại là vi phạm pháp luật. Nhưng chỉ vì muốn có tiền để tràn hụi, lắp hụi mà bị cáo đã bất chấp cố ý trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội để chiếm đoạt tài sản của các bị hại.
[5] Hành vi phạm tội của bị cáo Đặng Kiều T là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác một cách trái pháp luật. Do đó, đối với bị cáo cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, có như thế mới đủ điều kiện và thời gian cải tạo, răn đe và giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội sau này và có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung cho toàn xã hội.
[6] Trong vụ án này, Cơ quan điều tra chứng minh được, bị cáo T cũng khai nhận là bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội và mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tuy nhiên, cũng cần xem xét tình tiết giảm nhẹ mà Kiểm sát viên và người bào chữa cho bị cáo đặt ra là: Trước khi phạm tội bị cáo không có tiền án, tiền sự; Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Trong giai đoạn điều tra và trước khi xét xử vụ án thì bị cáo đã khắc phục được một phần thiệt hại cho bị hại; Có người thân là ông chú tên Đặng Văn G1 được tặng huân chương kháng chiến hạng 3. Bị hại X, L, P, H3, P1 xin giảm hình phạt cho bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ này được quy định tại các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu là thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[7] Lời đề nghị của Kiểm sát viên, người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.
[8] Về trách nhiệm dân sự:
Ghi nhận sự tự thỏa thuận giữa bị cáo với bị hại. Buộc bị cáo bồi thường tổng số tiền 457.981.000 đồng cho 13 bị hại.
Buộc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Ngọc H8 trả số tiền 19.000.000 đồng, ông Nguyễn Hoàng S2 trả số tiền 31.000.000 đồng, ông Vương T13 V trả số tiền 4.000.000 đồng, bà Vương Thị Thu N5 trả số tiền 86.700.000 đồng, bà Thạch Thị Mỹ T8 trả số tiền 10.020.000 đồng, bà Trần Ánh T14 trả số tiền 6.000.000 đồng, bà Trương Thị Ngọc G trả số tiền 5.000.000 đồng cho bị cáo Đặng Kiều T.
Riêng đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lý Thị Kim L3 và bà Vương Thị Thu B2 thì giành quyền khởi kiện vụ án dân sự khác khi bị cáo Đặng Kiều T có đơn yêu cầu khởi kiện.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có nghĩa vụ trả tiền phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017)
- Căn cứ vào các Điều 584; Điều 585; Điều 586 và Điều 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Căn cứ vào Điều 47; Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2021);
- Tuyên bố: Bị cáo Đặng Kiều T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản sản”.
- Xử phạt bị cáo Đặng Kiều T 12 năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/10/2024.
* Về trách nhiệm dân sự:
Buộc bị cáo Đặng Kiều T bồi thường tổng số tiền 457.981.000 đồng cho bị hại như sau:
- - Bị hại Lâm Huệ X số tiền 25.640.000 đồng;
- - Bị hại Lý Thị L số tiền 12.945.000 đồng;
- - Bị hại Mạch Thị Chúc P số tiền 188.440.000 đồng;
- - Bị hại Nguyễn Thị Tuyết T6 số tiền 12.615.000 đồng;
- - Bị hại Phạm Thị H số tiền 25.470.000 đồng.
- - Bị hại Phan Thị S1 số tiền 9.606.000 đồng.
- - Bị hại Trần Thị Ánh N2 số tiền 19.100.000 đồng.
- - Bị hại Trần Thị H3 số tiền 30.000.000 đồng.
- - Bị hại Trần Thị P1 số tiền 84.160.000 đồng.
- - Bị hại Triệu Thị Kim số tiền 20.490.000 đồng.
- - Bị hại Trịnh Diệu H1 số tiền 13.965.000 đồng.
- - Bị hại Võ Thị Diệu Q số tiền 3.600.000 đồng.
- - Bị hại Trần Diễm T5 số tiền 11.950.000 đồng.
Buộc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Ngọc H8 trả số tiền 19.000.000 đồng, ông Nguyễn Hoàng S2 trả số tiền 31.000.000 đồng, ông Vương T13 V trả số tiền 4.000.000 đồng, bà Vương Thị Thu N5 trả số tiền 86.700.000 đồng, bà Trần Ánh T14 trả số tiền 6.000.000 đồng, bà Trương Thị Ngọc G trả số tiền 5.000.000 đồng cho bị cáo Đặng Kiều T.
Riêng đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lý Thị Kim L3 và bà Vương Thị Thu B2 thì giành quyền khởi kiện vụ án dân sự khác khi bị cáo Đặng Kiều T có đơn yêu cầu khởi kiện.
- Về nghĩa vụ thi hành án dân sự:
+ Về nghĩa vụ chậm thi hành án dân sự: Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
+ Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm.
5. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Các điều 23, 26 và 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
- Xử buộc bị cáo Đặng Kiều T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 22.319.240 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Xử buộc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Ngô Ngọc H8 phải chịu án phí sơ thẩm là 950.000 đồng, ông Nguyễn Hoàng S2 phải chịu án phí sơ thẩm là 1.550.000 đồng, ông Vương Tài V phải chịu án phí sơ thẩm là 300.000 đồng, bà Vương Thị Thu N5 phải chịu án phí sơ thẩm là 4.335.000 đồng, bà Trần Ánh T14 phải chịu án phí sơ thẩm là 300.000 đồng, bà Trương Thị Ngọc G phải chịu án phí sơ thẩm là 300.000 đồng.
* Về quyền kháng cáo:
Căn cứ vào các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2021).
Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền kháng cáo nhưng vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 (Mười lăm) ngày tính từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Lê Vũ Huy Hoàng |
Bản án số 20/2025/HS-ST ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 20/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Kết tội lừa đảo và quyết định hình phạt. Buộc bồi thường và chịu án phí theo quy định pháp luật
