Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/HS-ST

Ngày 27 - 3 -2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Bính.

Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Hòa.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Thắng, ông Nguyễn Mạnh Thưởng, ông Phạm Văn Hảo.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Giàng A C; tên gọi khác: không; sinh năm: 1976 tại huyện T, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: Bản N, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Không biết chữ; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Giàng Khua S (đã chết) và con bà Vàng Thị V (đã chết); Có vợ Mùa Thị S1, sinh năm 1978; Con có 04 con, lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 19/10/2024 đến ngày 28/10/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho các bị cáo: Ông Lê Mạnh H - Trợ giúp viên pháp lý, trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tối ngày 19/10/2024, Giàng A C mang theo 02 gói ma tuý, trong đó gói thứ nhất được gói bằng hai lớp nilon màu trắng, trong cùng là chất bột màu trắng; gói thứ hai bên ngoài được gói bằng 04 lớp nilon màu xanh, bên trong gói bằng lớp nilon màu trắng, trong cùng là 01 cục chất bột màu trắng, hồng và 09 viên nén màu hồng cất dấu trong 01 túi vải đa sắc đeo trước bụng, đi bộ từ bến xe khách huyện T, tỉnh Lai Châu về nhà tại bản N, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu. Mục đích Chua cất giữ số ma túy trên là để sử dụng. Hồi 19 giờ 50 phút cùng ngày, khi C đi đến khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu thì bị Cơ quan chức năng phát hiện, bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng.

Kết luận giám định số 95/KLGĐ ngày 19/10/2024 của giám định tư pháp theo vụ việc thuộc Công an huyện T kết luận:

- Gói số 1: Số chất bột, màu trắng có khối lượng: 199,33 gam (một trăm chín mươi chín phẩy ba mươi ba gam) đã trừ bì. Trích đều 0,56 gam làm mẫu vật gửi giám định (ký hiệu M1). Vật chứng còn lại 189,77 gam (ký hiệu V1).

- Gói số 2:

+ Số chất bột, màu trắng, màu hồng có khối lượng 0,31 gam (không phẩy ba mươi mốt gam) đã trừ bì. Trích toàn bộ làm mẫu vật gửi giám định (ký hiệu M2).

+ Số viên nén, màu hồng có khối lượng 0,98 gam (không phẩy chín mươi tám gam) đã trừ bì. Trích toàn bộ làm mẫu vật gửi giám định (ký hiệu M3).

Kết luận giám định số 1164/KL-KLHS ngày 23/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: 01 Mẫu chất bột màu trắng (ký hiệu M1) gửi giám định là ma túy, loại Heroine; 01 Mẫu chất bột màu trắng, hồng (ký hiệu M2) gửi giám định là ma túy, loại: Methamphetamin và Heroine; 01 Mẫu viên nén màu hồng (ký hiệu M3) gửi giám định là ma túy, loại: Methamphetamin.

Tại bản cáo trạng số: 13/CT-VKS-P1 ngày 18/02/2025, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu truy tố Giàng A C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay: Bị cáo Giàng A C thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu đã truy tố.

Vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo Giàng A C như cáo trạng. Kiểm sát viên đánh giá tính chất, mức độ hành vi, điều kiện hoàn cảnh, ý thức chủ quan, tính nguy hiểm cho xã hội, nhân thân người phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 5 Điều 249; Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Giàng A C từ 17 đến 18 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo; về vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật; Án phí: miễn án phí HSST cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm h khoản 4 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 5 Điều 249; điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Giàng A C, cho bị cáo hưởng xử mức án thấp nhất của khung hình phạt. Về vật chứng xử lý đúng theo quy định của pháp luật. Đề nghị miễn án phí HSST và miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Bị cáo nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa, không bổ sung gì, không có ý kiến tranh luận.

Tại phần tranh luận, quan điểm của Kiểm sát viên và ngươi bào chữa trùng hợp nên không có tranh luận đối đáp gì.

Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm được trở về đoàn tụ với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét tính chất, mức độ, tính nguy hiểm của hành vi phạm tội:

Trong quá trình điều tra tại cơ quan điều tra công an tỉnh L cũng như cuộc thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay Bị cáo Giàng A C đều khai nhận: Hồi 19 giờ 50 phút, ngày 19/10/2024, tại khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu, Giàng A C đang tàng trữ trái phép 199,33 gam Heroien; 0,31 gam Heroine và M; 0,98 gam M1 để sử dụng thì bị bắt quả tang, thu giữ cùng toàn bộ vật chứng.

Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước về các chất ma tuý, gây mất trật tự, trị an trên địa bàn. Ý thức được điều đó nhưng vì muốn thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên bị cáo đã cố tình phạm tội. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình đã gây ra.

Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà công khai hôm nay cùng toàn bộ tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ, các kết quả giám định khối lượng và chất ma tuý, Hội đồng xét xử khẳng định: Giàng A C đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm h khoản 4 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

Người tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

Khoản 4 điều 249 Bộ luật hình sự quy định: “ Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

h) “Có 02 chất ma tuý trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.

Khoản 5 điều 249“Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Bản cáo trạng số 13/CT-VKS-P1 ngày 18/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu đã truy tố Giàng A C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4 điều 249 Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Về tình tiết tăng nặng:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và truy tố, bị cáo Giàng A C thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, không được đi học nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Do vậy khi xem xét áp dụng hình phạt cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo.

[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa hôm nay, vị đại diện viện kiểm sát đưa ra các quan điểm buộc tội cũng như các đề xuất về tội danh, hình phạt. Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Giàng A C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm h khoản 4, khoản 5 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 17 đến 18 năm tù. Ngoài ra còn đề nghị hướng xử lý vật chứng, án phí và các vấn đề liên quan đến vụ án là hoàn toàn phù hợp, có căn cứ pháp luật, cần chấp nhận.

Người bào chữa cho bị cáo đã trình bày quan điểm của mình về vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự và đề nghị miễn án phí, hình phạt bổ sung cho bị cáo, HĐXX xét thấy có căn cứ, cần chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Xét thấy gia đình bị cáo có điều kiện kinh tế khó khăn, bản thân bị cáo làm nương, không có thu nhập thường xuyên. Do vậy, HĐXX cần áp dụng khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự, miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo

[6] Về vật chứng:

Vật chứng 198,77 gam Heroine còn lại sau giám định là chất nhà nước cấm lưu hành; 03 mảnh nilon màu trắng; 04 mảnh nilon màu xanh và 01 vỏ bì niêm phong ban đầu, 01 túi vải đa màu sắc là vật liên quan đến tội phạm, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

[7] Các vấn đề khác của vụ án:

- Theo lời khai của Giàng A C, số ma tuý mà bị cáo tàng trữ trái phép là bị cáo mua của một người đàn ông dân tộc Mông với giá 20.000.000 đồng vào ngày 19/10/2024 tại huyện M, tỉnh Điện Biên. Do Giàng A C không rõ nhân thân lai lịch của người này nên không có cơ sở điều tra, xử lý trong vụ án.

- Theo lời khai của Giàng A C, số tiền 20.000.000 đồng bị cáo dùng để mua ma túy là tiền của con trai Giàng A H1, sinh năm 2006, trú tại bản Nậm Mở, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu đi làm thuê gửi về để chi tiêu trong gia đình. Quá trình điều tra xác định, Giàng A H1 đi làm thuê ở Hà Nội và có gửi tiền nhiều lần về cho bố để chi tiêu gia đình và nuôi em nhỏ. Việc bị cáo Giàng A C dùng số tiền đó để mua ma túy Giàng A H1 hoàn toàn không biết. Do đó Giàng A H1 không đồng phạm với Giàng A C về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự.

[8] Về án phí:

Bị cáo là người dân tộc thiểu số, cư trú tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn. Do vậy, HĐXX cần áp dụng điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Giàng A C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Giàng A C 18 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, ngày 19/10/2024.

- Áp dụng khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự, miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.

3. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 198,77 gam Heroine còn lại sau giám định là chất nhà nước cấm lưu hành; 03 mảnh nilon màu trắng; 04 mảnh nilon màu xanh và 01 vỏ bì niêm phong ban đầu, 01 túi vải đa màu sắc.

(Tình trạng vật chứng được mô tả chi tiết như trong Biên bản giao, nhận vật chứng giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L và Cục thi hành án dân sự tỉnh Lai Châu lập hồi 15 giờ 05 phút ngày 20/02/2025).

4. Án phí: Áp dụng điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán

Thẩm phán

Chủ toạ phiên toà

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại Hà Nội;
  • - VKSNDCC tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - PV06 C.A tỉnh Lai Châu;
  • - Cục THADS tỉnh Lai Châu;
  • - Công an tỉnh Lai Châu;
  • - Trại tạm giam C.A tỉnh;
  • - Bị cáo; Người bào chữa;
  • - Lưu HSVA.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Ngọc Bính

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HS-ST ngày 27/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 20/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: .
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger