Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/HS-ST

Ngày 27 tháng 3 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Thuận Lợi.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Nguyễn Văn Duy Linh và bà Lê Thị Việt Kiều.

Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Hưng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh An Giang

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên toà:

Ông Hoàng Hiến và ông Nguyễn Duy Thuấn- Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 15/2025/QĐXXST- HS ngày 19 tháng 02 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 05/2025/HSST-QĐ ngày 12 tháng 3 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Võ Thị D, sinh ngày 08/9/1988 tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Tổ D, ấp B, xã A, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Võ Văn T và bà Phan Thị B; chồng là Nguyễn Thành L và có 03 con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/12/2023 cho đến nay tại Trại tạm giam - Công an tỉnh A (có mặt).

2. Trương Thị Kiều L1, sinh ngày 01/01/1981 tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Tổ A, ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật Giáo; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Trương Thành S và bà Hàng Thị Thu H; chồng: Nguyễn Tiến L2; con: 01 người;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại, (có mặt).

3. Võ Văn T1, sinh ngày 07/8/1995 tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Tổ A, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Võ Văn H1 và bà Nguyễn Thị H2; bị cáo chưa có vợ.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/12/2023 cho đến nay tại Trại tạm giam - Công an tỉnh A (có mặt).

4. Nguyễn Ngọc T2, sinh ngày 20/6/2001 tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Tổ A, ấp B, xã A, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Nguyễn Thanh H3 và bà Nguyễn Thị T3; bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/12/2023 cho đến nay tại Trại tạm giam - Công an tỉnh A (có mặt).

5. Phan Thị Diệu H4, sinh ngày 09/11/1987 tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Số Cấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Là đảng viên Đ4 đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng; con ông Phan Thanh C và bà Lâm Thị T4; chồng là Thiếu Chí T5 và có 02 con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 24/12/2023 đến ngày 10/01/2025 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến ngày 05/02/2025 (có mặt).

6. Trương Thành T6, sinh ngày 02/7/1969 tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Phước Đ và bà Nguyễn Thị T7; bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại, (có mặt).

7. Đỗ Thị Kim B1, sinh ngày 02/12/1954 tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Đỗ Thành H5 và bà Trương Thị B2; chồng là Hồ Văn B3; bị cáo chưa có con;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại, (có mặt).

8. Phạm Kim N, sinh ngày 25/11/1990 tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Tổ E, ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Tin lành; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Hoàng T8 và bà Đoàn Mỹ H6; chồng là Huỳnh Đình H7; con: có 02 người.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại, (có mặt).

9. Nguyễn Tùng K, sinh ngày 25/10/1970 tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Tổ C, ấp C, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T9 và bà Trương Thị Kim S1, vợ là Lê Thị U và có 02 con;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại, (có mặt).

10. Mạch Thị Anh T10 (tên gọi khác là Út H8), sinh ngày 29/8/1992 tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mạch Thanh T11 và bà Lê Thị Cẩm H9; bị cáo chưa có chồng, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại, (có mặt).

11. Nguyễn Trường V (tên gọi khác là D2), sinh ngày 27/11/1980 tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Tổ E, ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Nguyễn Văn S2 và bà Phạm Thị L3; vợ là Nguyễn Thị Hồng L4 và có 02 con;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại, (có mặt).

12. Lê Phước V1, sinh ngày 19/12/1984 tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Áp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T12 và bà Trần Thị C1; bị cáo chưa có vợ, con;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại, (có mặt).

13. Nguyễn Thị Kim T13 (tên gọi khác là T14), sinh ngày 01/01/1981 tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Tổ A, ấp C, xã C, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B4 và bà Cao Thị N1; chồng là Bùi Văn K1 và có 02 con;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại, (có mặt).

14. Lê Thị C2, sinh ngày 25/5/1965 tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Tổ A, ấp C, xã C, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hữu D1 và bà Lê Thị C3; chồng là Huỳnh Thiện T15 và có 02 con;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại, (có mặt).

15. Lê Thị P, sinh ngày 01/01/1960 tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Tổ A, ấp C, xã C, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Lê Hữu D1 và bà Lê Thị C3; chồng là Lưu Văn Đ1 và có 02 con;.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 20/02/2024, bị Ủy Ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh An Giang xử phạt vi phạm hành chính 350.000 đồng, về hành vi mua số lô, số đề (đã nộp phạt).

Bị cáo tại ngoại, (có mặt).

16. Nguyễn Văn T16, sinh ngày 01/01/1984 tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Tổ A, ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Nguyễn Văn H10 và bà Mai Thị L5; vợ là Nguyễn Trần Xuân M và có 02 con;

Tiền án: Không.

Tiền sự: ngày 20/9/2023 bị Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang xử phạt vi phạm hành chính 3.500.000 đồng, về hành vi bán số lô, số đề (đã nộp phạt).

Bị cáo tại ngoại, (có mặt).

17. Nguyễn Thị Hồng N2, sinh ngày 10/7/1998 tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Tổ B, ấp B, xã A, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh H3 và bà Nguyễn Thị T3; chồng là Nguyễn Hoàng T17; bị cáo chưa có con;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại, (có mặt).

18. Võ Thị Hồng Đ2, sinh ngày 18/11/1996 tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú: Tổ A, khóm V, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang; chỗ ở: Số F, khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Tứ Ân H; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Hồng T18 và bà Lê Thị L6; chồng là Lê Minh T19 và có 01 con;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại, (có mặt).

19. Nguyễn Thị Ngọc T20, sinh ngày 10/3/1989 tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Ấp B, xã A, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Đạo T; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T21 và bà Hồ Thị L7; chồng là Lê Long H11 và có 01 con;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại, (có mặt).

20. Lê Thị Thanh H12, sinh ngày 01/01/1970 tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Lê Thành H13 và bà Dương Thị N3; chồng là Trương Minh T22 và có 04 con;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại, (có mặt).

21. Hồ Minh T23, sinh ngày 01/01/1987 tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Tổ A, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn S3 và bà Lương Thị N4; vợ là Nguyễn Thị C4 và có 03 con;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại, (có mặt).

22. Lê Thị L8, sinh ngày 01/01/1981 tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Lê Văn K2 và bà Nguyễn Thị B5; chồng là Lê Thanh B6 và có 02 con;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại, (có mặt).

Nhân thân: Năm 2019, bị Công an huyện C, tỉnh An Giang xử phạt hành chính 1.500.000 đồng, về hành vi “Đánh bạc” (mua, bán số lô, số đề) đã nộp phạt.

23. Nguyễn Thị C5, sinh ngày 01/01/1963 tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Tổ B, ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn G và bà Trần Thị H14; chồng là Nguyễn Văn H15 và có 05 con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại, (có mặt).

24. Nguyễn Hồng H16, sinh ngày 01/4/1948 tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Tổ B, ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H17 và bà Nguyễn Thị H18; chồng là Bùi Văn H19; và có 01 con;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại, (có mặt).

* Người bào chữa:

  • Người bào chữa cho bị cáo Trương Kiều L1: Ông Võ Văn M1, Luật sư, Đoàn luật sư tỉnh A; địa chỉ: Số A (số cũ là 82 bis) đường T, tổ A, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt).
  • Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T20: Bà Thái Thị Huyền T24, Luật sư - Văn phòng L9; địa chỉ: Số E H, phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt).
  • Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Trương Thành T6: Ông Trần Phước T25 - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A; địa chỉ: Số H đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt, bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt Luật sư).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Tiến L2, sinh năm 1980; nơi cư trú: Khóm B, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
  2. Ông Nguyễn Văn Đ3, sinh năm 1993; nơi cư trú: Tổ C, ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
  3. Bà Nguyễn Thị H20, sinh năm 1969; nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
  4. Ông Võ Hoàng D2, sinh năm 1977; nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
  5. Ông Hàng Ngọc T26, sinh năm 1952; nơi cư trú: Tổ A, ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
  6. Ông Nguyễn Thành L, sinh năm 1985; nơi cư trú: Tổ D, ấp B, xã A, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
  7. Ông Thiều Chí T27, sinh năm 1986; nơi cư trú: 3 ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nhận được tố giác của quần chúng nhân dân, tố giác nhiều đối tượng có hành vi đánh bạc bằng hình thức số lô, số đề xảy ra trên địa bàn các huyện C, C, tỉnh An Giang theo các đơn ghi ngày 10/11/2023, ngày 15/11/2023, ngày 19/11/2023 và ngày 20/11/2023. Qua kiểm tra xác minh, ngày 23/12/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Võ Văn T1 tại tổ A, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; Võ Thị D tại tổ D, ấp B, xã A, huyện C, tỉnh An Giang; Phan Thị Diệu H4 tại số C, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; Nguyễn Tiến L2 tại ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; Nguyễn Ngọc T2 tại tổ B, ấp B, xã A, huyện C, tỉnh An Giang; Đỗ Thị Kim B1 tại ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang và Trương Thành T6 tại ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.

Qua khám xét thu giữ số tiền 654.399.000đ, 16 điện thoại di động các loại, 02 máy tính bảng, 08 máy tính cầm tay và nhiều tài liệu, đồ vật có liên quan đến hoạt động ghi bán số lô, số đề. Khi vụ án bị phát hiện, Võ Thị D, Võ Văn T1, Phan Thị Diệu H4, Nguyễn Ngọc T2, Phạm Kim N, Trương Thành T6, Đỗ Thị Kim B1, Nguyễn Thị Hồng N2, Mạch Thị Anh T10, Võ Thị Hồng Đ2, Nguyễn Tùng K, Lê Thị Thanh H12, Hồ Minh T23, Nguyễn Thị Ngọc T20, Lê Thị L8, Lê Thị C2, Nguyễn Trường V, Lê Phước V1, Lê Thị P, Nguyễn Thị Kim T13, Nguyễn Văn T16, Nguyễn Hồng H16 và Trương Thị Kiều L1, Nguyễn Thị C5 nhận thấy hành vi tổ chức đánh bạc và đánh bạc bằng hình thức mua, bán số lô, số đề được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nên lần lượt ra đầu thú.

Kết quả điều tra xác định: Từ tháng 9/2020 đến ngày 22/12/2023, các bị cáo đã thông qua mạng xã hội Zalo, tin nhắn SMS trên điện thoại di động và trực tiếp điện thoại để thực hiện việc tổ chức đánh bạc, đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề hoặc nhận, giao phơi số đề được thua bằng tiền từ kết quả xổ số kiến thiết của các đài miền N, miền B. Mỗi ngày, căn cứ kết quả xổ số kiến thiết của các đài miền N, miền B đối với từng lô số, như: lô A 02 số (là 02 số của giải đầu); lô A 03 số (là 03 số của giải bảy); lô B 02 số, 03 số (là 02 số và 03 số cuối cùng của giải đặc biệt) của các đài miền N, miền B; bao lô 02 số, 03 số (là 02 số và 03 số cuối cùng của 18 dãy số các đài miền N; 27 dãy số các đài miền B); số đá (là 02 cặp số cuối cùng đá với nhau của 18 dãy số các đài miền N; 27 dãy số của đài miền B).

Tỷ lệ cá cược: Đối với số A, B, lô 02 chữ số 1.000đ thắng 80.000đ; đối với số A, B, lô 03 chữ số 1.000đ thắng 600.000đ; số đá 1.000đ thắng 700.000đ. Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết các đài miền N và miền B, các bị cáo và những người tham gia đánh bạc thống nhất số tiền thắng, thua, sau đó sẽ thanh toán thông qua giao dịch chuyển khoản Ngân hàng hoặc trực tiếp trả tiền mặt. Hành vi Tổ chức đánh bạc và đánh bạc của các bị cáo được xác định như sau:

1. Võ Thị D: Từ tháng 04/2022 đến ngày 22/12/2023, D sử dụng tài khoản Zalo “Thành thị” và “Ken” để bán, nhận phơi số lô, số đề của Võ Văn T1, Nguyễn Ngọc T2, Trương Thị Kiều L1, Hồ Minh T23, Nguyễn Thị Ngọc T20, Trương Thành T6 và một số người khác (chưa xác định được họ tên, địa chỉ); D sử dụng 03 tài khoản Ngân hàng S5, số G, tên Võ Thị D; số [...] tên Nguyễn Thành L (chồng D) và số [...] tên Nguyễn Ngọc T2 để chuyển khoản giao dịch tiền đánh bạc, tổng số tiền đánh bạc từ 862.500đ đến 39.663.000đ/ngày, tổng thu lợi 124.512.000đ, đã nộp 20.000.000đ. Trong đó:

* Hành vi tổ chức đánh bạc:

  • Ngày 03/11/2023, D nhận phơi số lô, số đề của Võ Văn T1 đài Vĩnh Long là 6.800.000đ, không có số trúng.
  • Từ ngày 24/11/2023 đến ngày 22/12/2023, D nhiều lần nhận phơi số lô, số đề của Nguyễn Ngọc T2, các đà i miền N, miền B từ 135.000đ đến 28.284.000đ/ngày. Trong đó: Ngày 16/12/2023, số tiền T2 giao phơi số lô, số đề các đài miền N là 16.284.000đ, số tiền trúng là 12.000.000đ, tổng số tiền đánh bạc 28.284.000₫.
  • Ngày 22/12/2023, D nhận phơi số lô, số đề của Trương Thị Kiều L1 các đài miền N là 12.000.000đ, không có số trúng.
  • Từ tháng 4/2022 đến tháng 12/2023, D nhận phơi số lô, số đề của Trương Thành T6, các đài miền N từ 380.000đ đến 39.663.000đ/ngày. Trong đó có 4 ngày, số tiền nhận phơi đề trên 20.000.000đ, cụ thể:
    • + Ngày 19/3/2021, số tiền trong phơi số lô, số đề đài Vĩnh Long là 2.309.000đ, số tiền trúng là 18.400.000đ, tổng số tiền đánh bạc 20.709.000đ.
    • + Ngày 07/6/2021, số tiền trong phơi số lô, số đề đài Đồng Tháp là 2.648.000đ, số tiền trúng 26.240.000đ, tổng số tiền đánh bạc 28.888.000đ.
    • + Ngày 08/6/2021, số tiền trong phơi số lô, số đề đài Bạc Liêu là 3.103.000 đồng, số tiền trúng 36.560.000đ, tổng số tiền đánh bạc 39.663.000đ.
    • + Ngày 11/6/2021, số tiền trong phơi số lô, số đề đài Vĩnh Long là 2.625.000 đồng, số tiền trúng 17.760.000đ, tổng số tiền đánh bạc 20.385.000đ.

Tổng số tiền D thu lợi từ hành vi “Tổ chức đánh bạc” là 109.357.000đ.

* Hành vi đánh bạc:

  • - Ngày 08/12/2023, D bán số lô, số đề cho Hồ Minh T23 đài Vĩnh Long là 6.000.000đ, không có số trúng.
  • Ngày 03/11/2023, D bán số lô, số đề cho Nguyễn Thị Ngọc T20 đài Vĩnh Long là 13.555.000đ.

Tổng số tiền D thu lợi từ hành vi “đánh bạc” là 14.755.000đ.

2. Trương Thị Kiều L1:

Từ ngày 05/11/2021 đến ngày 22/12/2023, L1 bán, nhận phơi số lô, số đề cho Nguyễn Thị Kim T13, Lê Phước V1, Lê Thị C2, Lê Thị P, Nguyễn Thị C5, Nguyễn Hồng H16, Nguyễn Trường V, Nguyễn Văn T16 và một số người khác không rõ họ tên, địa chỉ, thông qua hình thức người tham gia đánh bạc gọi điện thoại trực tiếp cho L1, đọc các con số đề và số tiền đánh bạc, L1 ghi chép lại, đồng thời ghi âm nội dung các cuộc gọi đánh bạc để đối chiếu kết quả thắng thua trong ngày. Loan giữ lại một vài số lô, số đề để trực tiếp thắng thua với người đánh bạc, còn lại giao phơi số lô, số đề cho Võ Thị D để hưởng huê hồng. Sau khi có kết quả xổ số, xác định số tiền thắng, thua thì thanh toán tiền mặt hoặc sử dụng tài khoản Ngân hàng S5 số [...] tên Trương Thị Kiều L1 và số [...] tên Nguyễn Tiến L2 (Chồng bị can L1) để thanh toán tiền đánh bạc. Tổng số tiền các đài miền N, miền B từ 825.000đ đến 73.185.500đ/ngày, tổng thu lợi 352.385.000đ, đã giao nộp 10.000.000đ, Trong đó:

* Hành vi tổ chức đánh bạc:

Từ tháng 11/2021 đến tháng 12/2023, L1 nhận phơi số lô, số đề của Nguyễn Thị Kim T13, Lê Phước V1, Lê Thị C2, Lê Thị P, Nguyễn Thị C5, Nguyễn Hồng H16, Nguyễn Trường V, Nguyễn Văn T16, có 14 ngày, tổng số tiền phơi đề trên 20.000.000đ, gồm:

  • - Ngày 15/11/2021, các đài miền N, tiền đánh bạc với C5 là 21.078.500₫, H16 là 3.416.000 đồng, V 345.000đ. Tổng số tiền đánh bạc 24.839.000₫.
  • - Ngày 13/12/2021, các đài miền N, tiền đánh bạc với C5 là 4.962.500đ, H16 là 4.311.000đ, V là 18.765.000đ. Tổng số tiền đánh bạc 28.038.500đ.
  • Ngày 22/01/2022, các đài miền N, tiền đánh bạc với C5 là 25.801.000 đồng, H16 là 1.867.500đ, V là 245.000đ, V1 là 245.000đ. Tổng số tiền đánh bạc 28.897.500đ.
  • - Ngày 30/01/2022, các đài miền N, tiền đánh bạc với C5 là 6.771.500đ, H16 là 3.104.500đ, V1 là 13.450.000đ. Tổng số tiền đánh bạc 23.326.000đ.
  • Ngày 28/02/2022, các đài miền N, tiền đánh bạc với C5 là 2.276.500đ, H16 là 7.733.500đ, V1 là 15.175.000đ. Tổng số tiền đánh bạc 25.185.000đ.
  • - Ngày 14/3/2022, các đài miền N, tiền đánh bạc với C5 là 13.315.500đ, H16 là 7.209.500đ. Tổng số tiền đánh bạc 20.524.000đ.
  • Ngày 15/01/2023, các đài miền N, tiền đánh bạc với C5 là 42.222.500₫, H16 là 4.022.000đ. Tổng số tiền đánh bạc 46.244.500đ.
  • Ngày 10/3/2023, các đài miền N, tiền đánh bạc với C5 là 5.050.500 đồng, H16 là 4.172.500đ, P là 13.327.500đ, Tiếng là 10.274.000đ. Tổng số tiền đánh bạc 32.824.500₫.
  • - Ngày 02/4/2023, các đài miền N, tiền đánh bạc với C5 là 24.171.500đ, H16 là 2.454.500đ, Tiếng là 2.030.000đ. Tổng số tiền đánh bạc 28.656.500đ.
  • - Ngày 04/8/2023, các đài miền N, tiền đánh bạc với C5 là 1.232.500 đồng, H16 là 1.823.500đ, C2 là 26.480.000đ. Tổng số tiền đánh bạc 29.535.500đ.
  • - Ngày 22/8/2023, các đài miền N, tiền đánh bạc với C5 là 3.248.500đ, H16 là 3.045.500đ, C2 là 5.530.000đ, T16 là 2.650.000đ, P là 9.472.000đ. Tổng số tiền đánh bạc 23.946.000đ.
  • - Ngày 28/6/2023, đài miền N tổng số tiền đánh bạc với C5 là 67.639.000đ.
  • - Ngày 27/9/2023, các đài miền N, tiền đánh bạc với C5 là 18.887.500đ, H16 là 5.036.500đ. Tổng số tiền đánh bạc 23.923.500đ.
  • Ngày 04/11/2023, các đài miền N, tiền đánh bạc với C5 là 22.069.500đ, H16 là 3.765.500đ. Tổng số tiền đánh bạc 25.835.000đ.

Ngoài ra, ngày 22/12/2023, L1 còn giao phơi số lô, số đề cho Võ Thị D các đài miền N là 12.000.000đ, không có số trúng.

Tổng số tiền L1 thu lợi từ hành vi tổ chức đánh bạc là 184.570.000đ.

* Đối với hành vi đánh bạc:

Từ ngày 05/11/2021 đến ngày 22/12/2023, L1 bán số lô, số đề cho Nguyễn Thị Kim T13, Lê Phước V1, Lê Thị C2, Lê Thị P, Nguyễn Thị C5, Nguyễn Hồng H16, Nguyễn Trường V, Nguyễn Văn T16, Hàng Ngọc T26 và một số người khác không họ tên, địa chỉ. Tổng số tiền các đài miền N, miền B từ 825.000₫ đến 73.185.500đ/ngày, cụ thể: Nguyễn Thị C5 từ 58.000₫ đến 67.639.000đ/ngày; Nguyễn Hồng H16 từ 837.500₫ đến 14.054.500đ/ngày; Nguyễn Trường V từ 50.000đ đến 18.765.000đ/ngày; Lê Phước V1 từ 284.000đ đến 15.175.000đ/ngày; Nguyễn Thị Kim T13 từ 20.000đ đến 10.274.000đ/ngày; Lê Thị C2 từ 2.135.000₫ đến 26.480.000đ/ngày; Lê Thị P từ 50.000đ đến 6.280.000đ/ngày; Nguyễn Văn T16 từ 217.500₫ đến 13.100.000đ/ngày; Hàng Ngọc T26 từ 50.000đ đến 1.935.000đ/ngày.

Tổng số tiền L1 thu lợi hành vi đánh bạc là 167.815.000đ.

3. Võ Văn T1:

Hành vi tổ chức đánh bạc: Từ tháng 01/2023 đến ngày 22/12/2023, T1 nhận phơi số lô, số đề của Phan Thị Diệu H4, Đỗ Thị Kim B1, sau đó giao phơi cho Võ Thị D để hưởng hoa hồng. Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết các đài miền N, miền B hàng ngày, xác định số tiền thắng thua với người đánh bạc, T1 sử dụng tài khoản Ngân hàng S5 số [...] tên Võ Văn T1 để chuyển khoản giao dịch tiền đánh bạc, tổng số tiền đánh bạc từ 2.410.000 đồng đến 44.000.500đ, thu lợi 249.228.000đ, đã giao nộp 20.000.000đ. Trong đó: Có 97 ngày nhận, giao phơi số tiền trên 5.000.000đ nhưng dưới 20.000.000đ, có 06 ngày nhận phơi số tiền trên 20.000.000đ, cụ thể:

  • - Đối với Phan Thị Diệu H4: Ngày 22/12/2023, T1 nhận phơi số lô, số đề các đài miền N là 30.000.000đ, không có số trúng.
  • - Từ tháng 9/2023 đến tháng 12/2023, T1 nhận phơi số lô, số đề Đỗ Thị Kim B1, các đài miền N, miềm B7 từ 935.500đ đến 37.881.000đ/ngày. Trong đó, có 05 ngày nhận phơi đề số tiền trên 20.000.000đ, cụ thể:
    • + Ngày 27/09/2023, đài Cần Thơ, số tiền trong phơi đề 5.480.000đ, số tiền trúng 32.000.000đ, tổng số tiền đánh bạc 37.811.000đ.
    • + Ngày 06/10/2023, đài Vĩnh Long, số tiền trong phơi đề 7.171.000đ, số tiền trúng 21.600.000đ, tổng số tiền đánh bạc 28.771.000đ.
    • + Ngày 10/10/2023, đài Bạc Liêu, số tiền trong phơi đề 10.064.000đ, số tiền trúng 11.200.000đ, tổng số tiền đánh bạc 21.264.000đ.
    • + Ngày 19/10/2023, đài An Giang, số tiền trong phơi đề 6.896.000đ, số tiền trúng 14.200.000đ, tổng số tiền đánh bạc 20.896.000đ.
    • + Ngày 15/12/2023, đài Vĩnh Long, số tiền trong phơi đề 7.253.500đ, số tiền trúng 16.000.000đ, tổng số tiền đánh bạc 23.253.500đ.

4. Nguyễn Ngọc T2:

Từ tháng 04/2023 đến ngày 22/12/2023, T2 nhận phơi số lô, số đề của Phạm Kim N, Nguyễn Thị Hồng N2, Mạch Thị Anh T10, sau đó giao phơi đề lại cho Võ Thị D để hưởng hoa hồng, tổng số tiền đánh bạc từ 247.000đ đến 41.668.000đ. T2 thanh toán tiền thắng thua trực tiếp với người đánh bạc, thu lợi 12.088.000đ, đã giao nộp 12.088.000đ, cụ thể:

  • + Từ ngày 24/11/2023 đến ngày 22/12/2023, T2 giao phơi số lô, số đề cho D các đài miền N, miền B từ 135.000đ đến 28.284.000đ/ngày. Trong đó: Ngày 16/12/2023, T2 giao phơi số lô, số đề các đài miền N là 16.284.000đ, số tiền trúng là 12.000.000đ, tổng số tiền đánh bạc 28.284.000đ/ngày.
  • + Từ ngày 03/11/2023 đến ngày 22/12/2023, T2 nhận phơi số lô, số đề của Nguyễn Thị Hồng N2 các đài miền N, miền B từ 152.000đ đến 12.430.000đ/ngày.
  • + Từ ngày 26/9/2023 đến ngày 22/12/2023, T2 nhận phơi số lô, số đề của Mạch Thị Anh T10 các đài miền N, miền B từ 852.500đ đến 19.093.000đ/ngày.
  • + Từ ngày 09/12/2023 đến ngày 22/12/2023, T2 nhận phơi số lô, số đề của Phạm Kim N đài miền N, miền B từ 886.000đ đến 10.814.800đ/ngày.

5. Trương Thành T6:

Từ tháng 9/2020 đến ngày 22/12/2023, T6 bán sô lô, số đề cho Lê Thị Thanh H12, nhiều người không rõ họ tên, địa chỉ và nhận phơi số lô, số đề của Nguyễn Tùng K. Sau đó, T6 tổng hợp phơi số lô, số đề lại, chụp hình chuyển qua tin nhắn Zalo giao cho Võ Thị D để hưởng hoa hồng, T6 sử dụng tài khoản Ngân hàng S5 số [...] tên Trương Thành T6 để chuyển khoản thanh toán tiền đánh bạc với D qua 03 tài khoản Ngân hàng S5 tên Võ Thị D, Nguyễn Thành L và Nguyễn Ngọc T2, tổng số tiền Thấm đánh bạc các đài miền N từ 380.000₫ đến 39.663.000đ/ngày, thu lợi 29.583.610đ, cụ thể:

Từ tháng 9/2020 đến ngày 22/12/2023, T6 nhận phơi số lô, số đề của Nguyễn Tùng K rồi giao lại cho Võ Thị D các đài miền N từ 380.000₫ đến 39.663.000đ/ngày. Trong đó: Có 4 ngày, số tiền nhận phơi đề trên 20.000.000, cụ thể:

  • + Ngày 19/3/2021, số tiền trong phơi số lô, số đề đài Vĩnh Long là 2.309.000 đồng, số tiền trúng là 18.400.000đ, tổng số tiền đánh bạc 20.709.000₫.
  • + Ngày 07/6/2021, số tiền trong phơi số lô, số đề đài Đồng Tháp là 2.648.000 đồng, số tiền trúng 26.240.000đ, tổng số tiền đánh bạc 28.888.000đ.
  • + Ngày 08/6/2021, số tiền trong phơi số lô, số đề đài Bạc Liêu là 3.103.000 đồng, số tiền trúng 36.560.000đ, tổng số tiền đánh bạc 39.663.000đ.
  • + Ngày 11/6/2021, số tiền trong phơi số lô, số đề đài Vĩnh Long là 2.625.000 đồng, số tiền trúng 17.760.000đ, tổng số tiền đánh bạc 20.385.000đ.

Ngoài ra, ngày 22/12/2023, T6 bán số lô, số đề cho Lê Thị Thanh H12 rồi giao lại cho Võ Thị D với tổng số tiền các đài miền N là 15.420.000đ.

6. Đỗ Thị Kim B1:

Từ tháng 02/2023 đến ngày 22/12/2023, Kim B1 nhận phơi số lô, số đề của Lê Thị L8 và bán số lô, số đề cho Nguyễn Thị H20, Võ Hoàng D2, nhiều người không rõ họ tên, địa chỉ, sau đó tổng hợp phơi đề lại, giữ lại một số con số để tự thắng thua, còn lại giao phơi đề cho Võ Văn T1 để hưởng hoa hồng, các đài miền N, miền B từ 339.000đ đến 37.881.000đ/ngày. Kim Ba thanh toán tiền thắng thua trực tiếp với người đánh bạc, thu lợi 35.518.450đ, đã giao nộp 10.000.000đ, cụ thể:

  • Ngày 22/12/2023, Lê Thị L8 giao phơi số lô, số đề cho Kim B1, các đài miền N, miền B tổng số tiền 9.310.000đ.
  • Ngày 22/12/2023, Nguyễn Thị H20 mua số lô, số đề của Kim B1, đài Vĩnh Long là 3.293.500đ; đài miền B là 1.001.000đ; Võ Hoàng D2 mua số lô, số đề của Kim B1, đài Vĩnh Long là 4.116.500đ; đài miền B là 2.445.250₫.
  • Ngoài ra, từ tháng 9/2023 đến tháng 12/2023, Kim B1 giao phơi số lô, số đề cho Võ Văn T1 các đài miền N, miền B từ 935.500 đồng đến 37.881.000 đồng/ngày. Trong đó, có 05 ngày số tiền trong phơi đề trên 20.000.000đ, cụ thể:
    • + Ngày 27/09/2023, đài Cần Thơ, số tiền trong phơi đề 5.480.000đ, số tiền trúng 32.000.000đ, tổng số tiền đánh bạc 37.811.000đ.
    • + Ngày 06/10/2023, đài Vĩnh Long, số tiền trong phơi đề 7.171.000đ, số tiền trúng 21.600.000đ, tổng số tiền đánh bạc 28.771.000đ.
    • + Ngày 10/10/2023, đài Bạc Liêu, số tiền trong phơi đề 10.064.000đ, số tiền trúng 11.200.000đ, tổng số tiền đánh bạc 21.264.000₫.
    • + Ngày 19/10/2023, đài An Giang, số tiền trong phơi đề 6.896.000đ, số tiền trúng 14.200.000đ, tổng số tiền đánh bạc 20.896.000đ.
    • + Ngày 15/12/2023, đài Vĩnh Long, số tiền trong phơi đề 7.253.500đ, số tiền trúng 16.000.000đ, tổng số tiền đánh bạc 23.253.500đ.

7. Phan Thị Diệu H4:

Từ tháng 01/2022, H4 tổ chức đánh bạc bằng hình thức nhận phơi số lô, số đề của Võ Thị Hồng Đ2, giữ lại một số con số để tự thắng thua, còn lại giao phơi số lô, số đề cho Võ Văn T1 để hưởng hoa hồng, tổng số tiền đánh bạc các đài miền N từ 20.712.000đ đến 30.000.000đ/ngày. H4 sử dụng 02 tài khoản Ngân hàng S5, số G tên Phan Thị Diệu H4 và số [...] tên Thiều Chí T27 (chồng H4, đã ly hôn) do H4 sử dụng để giao dịch thanh toán tiền thắng thua với người tham gia đánh bạc, cụ thể:

  • - Ngày 13/12/2023, H4 nhận phơi số lô, số đề của Võ Thị Hồng Đ2 các đài miền N 3.000.000đ, không có số trúng.
  • Ngày 21/12/2023, H4 nhận phơi số lô, số đề của Võ Thị Hồng Đ2 các đài miền N là 20.712.000₫.
  • - Ngày 22/12/2023, H4 giao phơi số lô, số đề cho Võ Văn T1 các đài miền N là 30.000.000đ, không có số trúng.

8. Phạm Kim N: Từ ngày 09/12/2023 đến ngày 22/12/2023, N giao phơi số lô, số đề cho Nguyễn Ngọc T2 các đài miền N, miền B từ 886.000₫ đến 10.814.800đ/ngày. T28 lợi 6.075.000đ, đã giao nộp 6.075.000đ.

9. Nguyễn Tùng K: Từ tháng 9/2020 đến ngày 22/12/2023, K bán số đề cho nhiều người không rõ họ tên, địa chỉ. Sau đó, tổng hợp phơi số lô, số đề giao lại cho Trương Thành T6 các đài miền N từ 380.000 đồng đến 39.663.000đ/ngày.

10. Nguyễn Thị Hồng N2: Từ ngày 03/11/2023 đến ngày 22/12/2023, N2 bán số lô, số đề cho nhiều người không rõ họ tên, địa chỉ. Sau đó, tổng hợp phơi số lô, số đề giao lại cho Nguyễn Ngọc T2 để hưởng hoa hồng, từ 247.000đ đến 12.430.000đ/ngày. T28 lợi 16.796.960đ, đã giao nộp 3.000.000₫.

11. Mạch Thị Anh T10: Từ ngày 26/9/2023 đến ngày 22/12/2023, T10 bán số lô, số đề cho nhiều người không rõ họ tên, địa chỉ. Sau đó, tổng hợp phơi số lô, số đề giao lại cho Nguyễn Ngọc T2, để hưởng hoa hồng, từ 852.500đ đến 19.093.000đ/ngày. T28 lợi 4.304.000đ, đã giao nộp 4.304.000₫.

12. Võ Thị Hồng Đ2: Từ giữa tháng 11/2023, Đ2 bán số lô, số đề cho nhiều người không rõ họ tên, địa chỉ. Sau đó, tổng hợp phơi số lô, số đề giao lại cho Phan Thị Diệu H4 để hưởng hoa hồng và sử dụng tài khoản Ngân hàng A2 số 3788301 tên Võ Thị Hồng Đ2 để chuyển khoản thanh toán tiền thắng thua với H4. Ngày 13/12/2023, số tiền đánh bạc các đài miền N 3.000.000đ, không có số trúng. Ngày 21/12/2023, số tiền đánh bạc các đài miền N là 20.712.000đ. T28 lợi 571.000đ, đã giao nộp 571.000₫.

13. Lê Thị Thanh H12: Ngày 22/12/2023, H12 đánh bạc mua số lô, số đề của Trương Thành T6 đài Vĩnh Long là 15.420.000đ, thu lợi 10.180.000₫ và đã giao nộp 10.180.000đ.

14. Hồ Minh T23: Ngày 08/12/2023, T23 đánh bạc mua số lô, số đề của Võ Thị Diệu đài V2 là 6.000.000đ, không có số trúng.

15. Nguyễn Thị C5: Từ ngày 05/11/2021 đến ngày 22/12/2023, C5 điện thoại đánh bạc mua số lô, số đề của Trương Thị Kiều L1 các đài miền N từ 58.000₫ đến 67.639.000đ/ngày; đài miền B từ 230.000đ đến 11.881.500đ/ngày. Trong đó, ngày 28/6/2023, đài miền N tổng số tiền đánh bạc là 67.639.000đ.

16. Nguyễn Hồng H16: Từ tháng 11/2021 đến tháng 12/2023, H16 điện thoại mua số lô, số đề của Trương Thị Kiều L1, các đài miền N từ 837.500đ đến 14.054.500đ/ngày; đài miền B từ 110.000đ đến 11.881.500đ/ngày.

17. Nguyễn Trường V: Từ ngày 05/11/2021 đến ngày 20/02/2022, V điện thoại mua số lô, số đề của Trương Thị Kiều L1, các đài miền N từ 50.000đ đến 18.765.000đ/ngày; đài miền B từ 50.000đ đến 220.000đ/ngày. T28 lợi 10.877.500đ, đã giao nộp 10.877.500đ.

18. Lê Phước V1: Từ tháng 01/2022 đến tháng 03/2022, V1 điện thoại mua số lô, số đề của Trương Thị Kiều L1, các đài miền N từ 284.000đ đến 15.175.000đ/ngày; đài miền B từ 1.100.000đ đến 10.400.000đ/ngày.

19. Nguyễn Thị Kim T13: Từ ngày 13/10/2022 đến ngày 14/4/2023, T13 điện thoại mua số lô, số đề của Trương Thị Kiều L1 các đài miền N từ 20.000đ đến 10.274.000đ/ngày; đài miền B từ 230.000đ đến 626.000đ/ngày.

20. Lê Thị C2: Từ ngày 31/12/2022 đến ngày 22/8/2023, C2 điện thoại mua số lô, số đề của Trương Thị Kiều L1 các đài miền N từ 2.135.000đ đến 26.480.000đ/ngày. T28 lợi 24.550.000đ, đã giao nộp 4.000.000₫.

21. Lê Thị P: Từ ngày 27/02/2023 đến ngày 22/8/2023, P điện thoại mua số lô, số đề của Trương Thị Kiều L1 các đài miền N từ 50.000₫ đến 13.327.500đ/ngày; đài miền B từ 990.000₫ đến 6.280.000đ/ngày

22. Nguyễn Văn T16: Từ ngày 21/8/2023 đến ngày 31/8/2023, T16 điện thoại mua số lô, số đề của Trương Thị Kiều L1 các đài miền N từ 217.500đ đến 5.660.000đ/ngày; đài miền B từ 1.810.000đ đến 13.100.000đ/ngày. T28 lợi 8.655.500đ, đã giao nộp 2.000.000₫.

23. Nguyễn Thị Ngọc T20: Ngày 03/11/2023, T20 mua số lô, số đề của Võ Thị Diệu đài V2 là 13.555.000₫.

24. Lê Thị L8: Ngày 22/12/2023, Lánh bán số lô, số đề cho nhiều người không rõ họ tên, địa chỉ. Sau đó, giao phơi số lô, số đề cho Đỗ Thị Kim B1 để hưởng hoa hồng, các đài miền N là 5.954.500đ; đài miền B là 3.355.500đ, thu lợi 450.000đ, đã giao nộp 450.000₫.

Các ngày 01/01/2024, 11/4/2024, 07/7/2024: Diệu, T1, H4, T2, N, T6, Kim B1, N2, T10, Đ2, K, H12, T23, T20, L8, C2, V, V1, P, T13, T16, H16, C5, L1 bị khởi tố để điều tra.

Lời khai của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Tiến L2 (chồng bị cáo L1), Nguyễn Văn Đ3, Nguyễn Thị H20, Võ Hoàng D2, Hàng Ngọc T26, Nguyễn Thành L (chồng bị cáo D), Thiều Chí T27 (chồng bị cáo H4, đã ly hôn) trình bày phù hợp như nội dung vụ án. Riêng L2, Đ3 không tham gia đánh bạc dưới hình thức số lô, số đề mà giữa L2 và Đ3 đánh bạc dưới hình thức cá cược bóng đá giải hạng hai Tây Ban Nha, tiền cược trận bóng là 1.000.000₫.

Tại Cơ quan điều tra các bị cáo: Võ Thị D, Võ Văn T1, Phan Thị Diệu H4, Nguyễn Ngọc T2, Phạm Kim N, Trương Thành T6, Đỗ Thị Kim B1, Nguyễn Thị Hồng N2, Mạch Thị Anh T10, Võ Thị Hồng Đ2, Nguyễn Tùng K, Lê Thị Thanh H12, Hồ Minh T23, Nguyễn Thị Ngọc T20, Lê Thị L8, Lê Thị C2, Nguyễn Trường V, Lê Phước V1, Lê Thị P, Nguyễn Thị Kim T13, Nguyễn Văn T16, Nguyễn Hồng H16 và Trương Thị Kiều L1, Nguyễn Thị C5 đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp lời khai của các bị can, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ, bảng thống kê đối chiếu số lô, số đề giữa các bị can và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

* Vật chứng thu giữ: Tổng số tiền 734.995.500đ (trong đó có tiền bị cáo giao nộp 113.545.500đ); 12 điện thoại di dộng các loại, 02 máy tính bảng, 08 máy tính cầm tay và nhiều tài liệu, đồ vật có liên quan vụ án. Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng: Trả lại số tiền 32.949.000đ và 04 điện thoại di động không liên quan trong vụ án.

Tại Cáo trạng số: 17/CT-VKSAG-P2 ngày 04/2/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang, đã truy tố các bị cáo Võ Thị D, Trương Thị Kiều L1 phạm tội “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc” quy định tại khoản 2 Điều 322 và khoản 1, khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Võ Văn T1, Nguyễn Ngọc T2, Đỗ Thị Kim B1, Phan Thị Diệu H4, Trương Thành T6 phạm tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 322 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Nguyễn Thị C5, Phạm Kim N, Nguyễn Thị Hồng N2, Mạch Thị Anh T10, Võ Thị Hồng Đ2, Nguyễn Tùng K, Lê Thị Thanh H12, Hồ Minh T23, Nguyễn Thị Ngọc T20, Lê Thị L8, Lê Thị C2, Nguyễn Trường V, Lê Phước V1, Lê Thị P, Nguyễn Thị Kim T13, Nguyễn Văn T16, Nguyễn Hồng H16 phạm tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Những người có liên quan trong vụ án vắng mặt, có mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình điều tra và tại phiên toà đã khai nhận phù hợp với nội dung vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo: giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Võ Thị D, Trương Thị Kiều L1 phạm tội “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc”; các bị cáo Võ Văn T1, Nguyễn Ngọc T2, Đỗ Thị Kim B1, Phan Thị Diệu H4, Trương Thành T6 phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; các bị cáo Nguyễn Thị C5, Phạm Kim N, Nguyễn Thị Hồng N2, Mạch Thị Anh T10, Võ Thị Hồng Đ2, Nguyễn Tùng K, Lê Thị Thanh H12, Hồ Minh T23, Nguyễn Thị Ngọc T20, Lê Thị L8, Lê Thị C2, Nguyễn Trường V, Lê Phước V1, Lê Thị P, Nguyễn Thị Kim T13, Nguyễn Văn T16, Nguyễn Hồng H16 phạm tội “Đánh bạc”. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 322; khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17, Điều 58; Điều 55 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Võ Thị D từ 05 năm tù đến 06 năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc” và từ 06 năm tù đến 08 năm tù về tội “Đánh bạc”; tổng hợp hình phạt chính: Từ 06 năm tù đến 08 năm tù. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 322; điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17, Điều 58; Điều 54; Điều 55 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trương Thị Kiều L1 từ 03 năm tù đến 05 năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc” và từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Đánh bạc”; tổng hợp hình phạt chính: Từ 05 năm tù đến 07 năm 06 tháng tù. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 322, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Văn T1 từ 05 năm tù đến 06 năm tù. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo: Nguyễn Ngọc T2 từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù; Phan Thị Diệu H4 từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù. (đề nghị bằng thời hạn tạm giam 01 năm 17 ngày). Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322, điểm s, p khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trương Thành T6 từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322, điểm s, o khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 17, Điều 58. Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đỗ Thị Kim B1 từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo: Phạm Kim N từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù (đề nghị bằng thời hạn tạm giam 01 năm 17 ngày); Nguyễn Tùng K từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù; Mạch Thị Anh Thư T29 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù; Nguyễn Trường V từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù; Lê Phước V1 từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù; Nguyễn Thị Kim T13 từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù; Lê Thị C2 từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù; Lê Thị P từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù; Nguyễn Văn T16 từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù; Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm n, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 17, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Thị Hồng N2 từ 09 tháng đến 01 năm tù cho hưởng án treo. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo: Lê Thị Thanh H12 từ 09 tháng đến 01 năm tù, nhưng cho hưởng án treo; Hồ Minh T23 từ 09 tháng đến 01 năm tù, nhưng cho hưởng án treo; Lê Thị L8 từ 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, điểm n, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo: Võ Thị Hồng Đ2 từ 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo; Nguyễn Thị Ngọc T20 từ 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo; Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s, điểm t khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị C5 từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s, o khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng H16 từ 09 tháng đến 01 năm tù, nhưng cho hưởng án treo.

Thời gian thử thách đối với các bị cáo được hưởng án têo theo quy định.

Hình phạt bổ sung:

Áp dụng khoản 3 Điều 322 và khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự, đề nghị phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo: Võ Thị D, Trương Thị Kiều L1: Mỗi bị cáo từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng về tội “Tổ chức đánh bạc”. Mỗi bị cáo từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”. Áp dụng khoản 3 Điều 322 Bộ luật Hình sự, đề nghị phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo: Võ Văn T1, Nguyễn Ngọc T2, Phan Thị Diệu H4, Trương Thành T6: Mỗi bị cáo từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng. Áp dụng khoản 3 Điều 322 Bộ luật Hình sự, đề nghị phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo: Phạm Kim N, Nguyễn Thị Hồng N2, Mạch Thị Anh T10, Võ Thị Hồng Đ2, Nguyễn Tùng K, Lê Thị Thanh H12, Hồ Minh T23, Nguyễn Thị Ngọc T20, Lê Thị L8, Lê Thị C2, Nguyễn Trường V, Lê Phước V1, Lê Thị P, Nguyễn Thị Kim T13, Nguyễn Văn T16, Nguyễn Thị C5: Mỗi bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng. Riêng Đỗ Thị Kim B1, Nguyễn Hồng H16 không đề nghị phạt tiền bổ sung, do bị cáo Kim Ba B8 bệnh hiểm nghèo và cả hai là người trên 70 tuổi.

Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:

* Đối với các vật chứng không niêm phong:

- Tịch thu tiêu hủy các vật chứng thu giữ của các bị cáo không có giá trị, không sử dụng được theo quy định, gồm: 01 (một) cây súng tự chế (loại súng hơi bắn đạn chì), màu đen, dài 112cm (Nguyễn Ngọc T2); 01(một) một cây súng bằng gỗ và thanh kim loại màu trắng trên đầu thanh kim loại có hai mũi nhọn (Nguyễn Ngọc T2); 01 (một) ống nhòm màu đen (Nguyễn Ngọc T2); 01 (một) thiết bị giống súng điện bằng nhựa màu đen (Mạch Hùng S4).

- Tịch thu phát mãi nộp ngân sách nhà nước các vật chứng thu giữ là phương tiện liên lạc phạm tội, gồm: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen, model: OPPO Reno8 Z 5G, số IMEI 1: 863921065776091 và số IMEI 2: 863921065776083 (Võ Thị D); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen, model: OPPO A16k, số IMEI 1: 862052053175939 và số IMEI 2: 862052053175921 (Võ Thị D); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, màu đen, model: Galaxy A71, số IMEI 1: 353408118206844/01 và số IMEI 2: 353409118206844/01 (Võ Thị Diệu ; không mở nguồn được); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, model: Iphone 13 Pro max, số IMEI 1: 351596248375638 và số IMEI 2: 351596248344766 (Phan Thị Diệu H4); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, số IMEI 1: 352828294850480 và số ΙΜΕΙ 2: 352828294850489 (Võ Văn T1); 01 (một) máy tính bảng đã hư (Võ Văn T1); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, model: Vivo Y21, màu xanh, số IMEI 1: 861128058890390 và số IMEI 2: 861128058890382 (Trương Thị Kiều L1); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu vàng, IMEI 860672067840251 (Nguyễn Tiến L2); 01 (một) điện thoại hiệu SAMSUNG, model: Galaxy A30s, có số IMEI 1: 358544104483933 và số IMEI 2: 358545104483930 (Trương Thành T6); 01 (một) máy tính bảng hiệu SAMSUNG, model: Galaxy Tab A (2016), số IMEI: 358450070325373; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, model: Iphone 7 Plus, màu trắng xám, số IMEI 1: 355842088492166 và số IMEI 2: 235584208849216 (Võ Thị Hồng Đ2); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, model: CPH2505, màu xanh đen, số IMEI 1: 685858061472291 và số IMEI 2: 865858061472283 (Võ Thị Hồng Đ2); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, model: Iphone 14 Pro max, màu đen, số IMEI 1: 357173346979549 và số IMEI 2: 357173346845088 (Võ Thị Hồng Đ2); 01 (một) điện thoại hiệu Iphone, model: Iphone 13 Promax, màu xanh, số IMEI 1: 354798789832814 và IMEI 2: 354798789722700 (Nguyễn Ngọc T2).

* Đối với các vật chứng được niêm phong:

Do đây là các vật chứng không có giá trị nên đề nghị tịch thu tiêu hủy. Riêng các giấy tờ cá nhân của các bị cáo, đề nghị trả lại cho các bị cáo, cụ thể:

  • - Phan Thị Diệu H4: 01 (một) máy tính cầm tay hiệu Deli, màu trăng – đen; 03 (ba) cây viết mực; 01 (một) quyển tập, ngoài bìa có in chữ HORSE A B C, bên trong có ghi chữ và số; 01 (một) sổ tay, ngoài bìa có in chữ note Book A5, bên trong có ghi các chữ và số; 01 (một) thẻ ngân hàng S5, số tài khoản 070107437280, chủ thẻ là Phan Thị Diệu H4; 01 (một) giấy nộp tiền ngân hàng S5 chi nhánh A3 ngày 05/12/2022, thể hiện người nộp và người nhận đều là VO VAN TOAN, số tiền nộp là 20.000.000 đồng, số tài khoản 070126220969; 01 (một) giấy nộp tiền ngân hàng M3, ngày 03/8/2022, thể hiện người nộp và người nhận đều là PHAN T30 DIEU HIEN, số tiền nộp là 12.800.000 đồng, số tài khoản 4620103787052; 01 (một) tờ giấy màu trắng, sọc caro màu đỏ, trên tờ giấy có ghi nhiều chữ và số.
  • - Võ Văn T1: 02 (hai) tờ giấy lịch có ghi nội dung các con số; 02 (hai) tờ giấy lịch có ghi nội dung các con số; 01 thẻ ATM số 4221.5102.0316.5702 (số TK 070142124570) của Võ Văn T1.
  • - Nguyễn Tiến L2 và Trương Thị Kiều L1: 01 (một) quyển tập học sinh bìa có chữ “KTBOOK” “Siêu Cấp”, bên trong có nhiều trang ghi chữ và số có chữ ký của Nguyễn Tiến L2; 03 (ba) quyển tập học sinh (01 quyển bìa có chữ “Quê Hương”; 01 quyển có chữ “Thuyền U”; 01 quyển có chữ “KTBOOK” màu xanh lá) có nhiều chữ viết và số bên trong có chữ ký của Nguyễn Tiến L2 ;02 (hai) máy tính cầm tay hiệu FLEXIO; 01 (một) giấy rút tiền mặt của ngân hàng S5 phòng giao dịch C ngày 21/12/2023, người rút Nguyễn Tiến L2; 01 (một) tờ lịch ngày 18/11/2023 mặt sau có ghi nhiều chữ số, có chữ ký của Nguyễn Tiến L2.
  • Nguyễn Ngọc T2: 01(một) cuốn tập học sinh có hình gấu trúc có ghi chữ và số bằng mực đen; nhiều mảnh giấy tập học sinh có ghi chữ và số; nhiều loại đạn đầu tròn và dạng bi; tại tủ nhôm màu nâu trong nhà hướng cửa chính đi vào thu một đạn chì đầu tròn; 01 (một) hộp đạn chì đầu tròn; 01 (một) giấy rút tiền ngân hành S6 số tiền 500.000.000 đồng; 01 (một) giấy nộp tiền tại ngân hàng S5 số tiền 50.000.000 đồng; 01 (một) viết mực màu đen; 01 (một) máy tính màu trắng đen hiệu FLEXIO.
  • - Trương Thành T6: 01 (một) máy tính hiệu Casio MZ-12S, màu đen; nhiều tờ giấy có kẻ ô, có ghi số thứ tự 00 – 99; 02 (hai) cây viết mực, một màu xanh, một màu đỏ; 01 (một) tờ giấy lịch ghi ngày 21/12/2023 có ký hiệu dãy số khác nhau; 01 (một) cuốn tập học sinh có hình dưa hấu ngoài bìa, bên trong có ghi chữ và số.
  • - Đỗ Thị Kim B1: 309 (ba trăm lẻ chín) tờ phơi đề chưa được sử dụng; 02 (ba) tờ lịch có các con số; 06 (sáu) cây viết mực; 01 (một) máy tính hiệu FLEXIO; 07 (bảy) quyển tập học sinh có các con số và chữ;

* Đối với số tiền 734.995.500 đồng.

Trong đó, tiền khám xét thu giữ 654.399.000 đồng và tiền các bị can giao nộp 80.596.500 đồng. Đối với số tiền thu lợi bất chính đề tịch thu nộp ngân sách nhà nước; riêng số tiền thu giữ trả lại cho các bị cáo nhưng có tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án, cụ thể:

STTBỊ CÁOTIỀN THU GIỮTIỀN NỘP THU LỢI BẤT CHÍNHTỔNG SỐ
01Võ Thị Diệu450.000.000₫20.000.000 ₫470.000.000₫
02Trương Thị Kiều Loan30.000.000₫10.000.000₫40.000.000₫
03Nguyễn Ngọc Thiện32.000.000₫12.088.000₫44.088.000 ₫
04Võ Văn Toàn21.370.000₫20.000.000₫41.370.000 ₫
05Phan Thị Diệu Hiền82.000.000₫82.000.000₫
06Đỗ Thị Kim Ba6.080.000₫10.000.000₫16.080.000₫
07Võ Thị Hồng Đào571.000₫571.000₫
08Lê Thị Thanh Hương10.180.000₫10.180.000₫
09Phạn Kim Ngân6.075.000₫6.075.000₫
10Mạch Thị Anh Thư4.304.000₫4.304.000₫
11Nguyễn Thị Hồng Ngọc3.000.000₫3.000.000₫
12Nguyễn Trương Vinh10.877.500₫10.877.500₫
13Nguyễn Văn Tèo2.000.000₫2.000.000₫
14Lê Thị Lánh450.000₫450.000₫
15Lê Thị Có4.000.000₫4.000.000₫

- Người bào chữa cho bị cáo Trương Kiều L1 trình bày quan điểm: Thống nhất đối với Cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc” chưa nhất trí về tội “Tổ chức đánh bạc”. Do một hành vi của bị cáo không thể xử lý 02 tội danh được theo quy định tại Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP_ngày 22/10/2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Bị cáo L1 chỉ đơn thuần nhận phơi và giao phơi cho D nhằm mục đích hưởng hoa hồng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ: bị cáo tự nguyện đầu thú, bị cáo đang bị bệnh và phải điều trị, là lao động chính trong gia đình, hoàn cảnh khó khăn, bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự để giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo và miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Bị cáo Trương Kiều L1 nhất trí với bản luận cứ của người bào chữa, đồng thời không tranh luận thêm gì khác, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T20 trình bày quan điểm: Thống nhất với bản luận tội của Viện kiểm sát nhân tỉnh An Giang về tội danh và mức hình phạt đối với bị cáo T20.

Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T20 thống nhất với bản luận cứ tội của Luật sư, đồng thời không tranh luận thêm gì khác, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Các bị cáo Nguyễn Thị C5, Võ Thị D, Võ Văn T1, Phan Thị Diệu H4, Nguyễn Ngọc T2, Phạm Kim N, Trương Thành T6, Đỗ Thị Kim B1, Nguyễn Thị Hồng N2, Mạch Thị Anh T10, Võ Thị Hồng Đ2, Nguyễn Tùng K, Lê Thị Thanh H12, Hồ Minh T23, Lê Thị L8, Lê Thị C2, Nguyễn Trường V, Lê Phước V1, Lê Thị P, Nguyễn Thị Kim T13, Nguyễn Văn T16, Nguyễn Hồng H16 không bào chữa và tranh luận gì thêm. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Trong phần đối đáp một lần nữa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang vẫn giữ nguyên quan điểm về tội danh và mức hình phạt như đã đề nghị tại bản luận tội, đề nghị Hội đồng xét xử quyết định theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, một số người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Từ tháng 09/2020 đến ngày 22/12/2023, các bị cáo đã thực hiện hành vi tổ chức đánh bạc, đánh bạc dưới hình thức số lô, số đề được thua bằng tiền với tổng số tiền đánh bạc trong ngày từ 20.000 đồng đến 73.185.500 đồng, tổng thu lợi bất chính 885.775.000 đồng. Trong đó:

1. Võ Thị D nhiều lần tổ chức đánh bạc cho nhiều người tham gia đánh bạc 201 ngày, số tiền đánh bạc từ 862.500 đồng đến 39.663.000 đồng/ngày. Trong đó: có 05 ngày số tiền đánh bạc trên 20.000.000 đồng nhưng dưới 50.000.000 đồng/ngày, thu lợi 109.357.000 đồng. Ngoài ra, D còn trực tiếp tham gia đánh bạc với Hồ Minh T23, Nguyễn Thị Ngọc T20 với số tiền đánh bạc từ 6.000.000 đồng đến 13.555.000 đồng/ngày, thu lợi 14.755.000 đồng. Tổng thu lợi 124.512.000 đồng, đã giao nộp 20.000.000 đồng.

2. Trương Thị Kiều L1 nhiều lần tổ chức đánh bạc cho người tham gia đánh bạc 503 ngày, số tiền đánh bạc từ 825.000 đồng đến 73.185.500 đồng/ngày. Trong đó: có 12 ngày số tiền đánh bạc trên 20.000.000 đồng nhưng dưới 50.000.000 đồng/ngày và 01 ngày số tiền trên 50.000.000 đồng, thu lợi 184.570.000 đồng. Ngoài ra, L1 còn trực tiếp đánh bạc với Nguyễn Thị Kim T13, Lê Phước V1, Lê Thị C2, Lê Thị P, Nguyễn Thị C5, Nguyễn Hồng H16, Nguyễn Trường V, Nguyễn Văn T16, Hàng Ngọc T26, số tiền đánh bạc từ 825.000 đồng đến 67.639.000 đồng/ngày, thu lợi 167.815.000 đồng. Tổng thu lợi 352.385.000 đồng, đã giao nộp 10.000.000 đồng.

3. Võ Văn T1 tham gia với bị can Võ Thị D tổ chức đánh bạc 89 ngày, số tiền đánh bạc từ 2.410.000 đồng đến 44.000.500 đồng/ngày, thu lợi 249.228.000 đồng, đã giao nộp 20.000.000 đồng. Trong đó: có 97 ngày số tiền trên 5.000.000 đồng nhưng dưới 20.000.000 đồng và có 06 ngày số tiền trên 20.000.000 đồng.

4. Nguyễn Ngọc T2 tham gia với bị can Võ Thị D tổ chức đánh bạc 51 ngày, số tiền đánh bạc từ 247.000 đồng đến 41.668.000 đồng, thu lợi 12.088.000 đồng, đã giao nộp 12.088.000 đồng. Trong đó, có 01 ngày trên 20.000.000 đồng.

5. Trương Thành T6 tham gia với bị can Võ Thị D tổ chức đánh bạc 173 ngày, số tiền đánh bạc từ 380.000 đồng đến 39.663.000 đồng, thu lợi 29.583.610 đồng. Trong đó, có 04 ngày trên 20.000.000 đồng.

6. Đỗ Thị Kim B1 tham gia với bị can Võ Văn T1 tổ chức đánh bạc 89 ngày, số tiền đánh bạc từ 935.500 đồng đến 37.881.000 đồng/ngày, thu lợi 35.518.450 đồng, đã giao nộp 10.000.000 đồng. Trong đó có 05 ngày trên 20.000.000 đồng.

7. Phan Thị Diệu H4 tham gia với bị can Võ Văn T1 tổ chức đánh bạc 03 ngày, số tiền đánh bạc từ 20.712.000 đồng đến 30.000.000 đồng/ngày. Trong đó, có 01 ngày trên 20.000.000 đồng.

8. Phạm Kim N tham gia đánh bạc 14 ngày, số tiền đánh bạc từ 886.000 đồng đến 10.814.800 đồng/ngày. T28 lợi 6.075.000 đồng, đã giao nộp 6.075.000 đồng.

9. Nguyễn Tùng K tham gia đánh bạc 173 ngày, số tiền đánh bạc từ 380.000 đồng đến 39.663.000 đồng/ngày.

10. Nguyễn Thị Hồng N2 tham gia đánh bạc 49 ngày, số tiền đánh bạc từ 152.000 đồng đến 12.430.000 đồng/ngày. T28 lợi 16.796.960 đồng, đã giao nộp 3.000.000 đồng.

11. Mạch Thị Anh T10 tham gia đánh bạc 10 ngày, số tiền đánh bạc từ 852.500 đồng đến 19.093.000 đồng/ngày. T28 lợi 4.304.000 đồng, đã giao nộp 4.304.000 đồng.

12. Võ Thị Hồng Đ2 tham gia đánh bạc 02 ngày. số tiền đánh bạc từ 3.000.000 đồng đến 20.456.000 đồng/ngày, thu lợi 571.000 đồng, đã giao nộp 571.000 đồng.

13. Lê Thị Thanh H12 tham gia đánh bạc ngày 22/12/2023 là 15.420.000 đồng, thu lợi 10.180.000 đồng và đã giao nộp 10.180.000 đồng.

14. Hồ Minh T23 tham gia đánh bạc ngày 08/12/2023 là 6.000.000 đồng.

15. Nguyễn Thị C5 tham gia đánh bạc 501 ngày, số tiền đánh bạc từ 58.000 đồng đến 67.639.000 đồng/ngày.

16. Nguyễn Hồng H16 tham gia đánh bạc 485 ngày, số tiền đánh bạc từ 110.000 đồng đến 14.054.500/ngày.

17. Nguyễn Trường V tham gia đánh bạc 61 ngày, số tiền đánh bạc từ 50.000 đồng đến 18.765.000, thu lợi 10.877.500 đồng, đã giao nộp 10.877.500 đồng.

18. Lê Phước V1 tham gia đánh bạc 29 ngày, số tiền đánh bạc từ 284.000 đồng đến 15.175.000 đồng/ngày.

19. Nguyễn Thị Kim T13 tham gia đánh bạc 06 ngày, số tiền đánh bạc từ 20.000 đồng đến 10.274.000 đồng/ngày.

20. Lê Thị C2 tham gia đánh bạc 04 ngày, số tiền đánh bạc từ 2.135.000 đồng đến 26.480.000 đồng/ngày, thu lợi 24.550.000 đồng, đã giao nộp 4.000.000 đồng.

21. Lê Thị P tham gia đánh bạc 14 ngày, số tiền đánh bạc từ 50.000 đồng đến 13.327.500 đồng/ngày.

22. Nguyễn Văn T16 tham gia đánh bạc 06 ngày, số tiền đánh bạc từ 217.500 đồng đến 13.100.000 đồng/ngày, thu lợi 8.655.500 đồng, đã giao nộp 2.000.000 đồng.

23. Nguyễn Thị Ngọc T20 tham gia đánh bạc ngày 03/11/2023 là 13.955.000 đồng.

24. Lê Thị L8 tham gia đánh bạc ngày 22/12/2023 là 9.310.000 đồng, thu lợi 450.000 đồng, đã giao nộp 450.000 đồng.

Với hành vi nêu trên của các bị cáo, đã đủ cơ sở kết luận:

Bị cáo Võ Thị D đã phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tiền từ 20.000.000₫ đến 100.000.000đ, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm và phạm tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 322 của Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ 05 năm đến 10 năm tù.

Bị cáo Trương Thị Kiều L1 đã phạm tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ 03 năm đến 07 năm và phạm tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 322 của Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ 05 năm đến 10 năm tù.

Bị cáo Võ Văn T1 đã phạm tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 322 của Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ 05 năm đến 10 năm tù;

Các bị cáo Nguyễn Ngọc T2, Đỗ Thị Kim B1, Phan Thị Diệu H4, Trương Thành T6 về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tiền từ 50.000.000đ đến 300.000.000₫ hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Bị cáo Nguyễn Thị C5 đã phạm tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

Hành vi của các bị cáo Phạm Kim N, Nguyễn Thị Hồng N2, Mạch Thị Anh T10, Võ Thị Hồng Đ2, Nguyễn Tùng K, Lê Thị Thanh H12, Hồ Minh T23, Nguyễn Thị Ngọc T20, Lê Thị L8, Lê Thị C2, Nguyễn Trường V, Lê Phước V1, Lê Thị P, Nguyễn Thị Kim T13, Nguyễn Văn T16, Nguyễn Hồng H16 đã phạm tội “Đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tiền từ 20.000.000₫ đến 100.000.000đ, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình. Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác trong xã hội. Do đó, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Xét tính chất của vụ án có có phần ít nghiêm trọng, có phần nghiêm trọng, có đông bị cáo tham gia, đồng phạm ở các nhóm riêng biệt, nhưng đều có mối quan hệ tác động qua lại trong thực hiện hành vi phạm tội, cũng như cách thức đánh bạc, giao dịch tiền đánh bạc qua tài khoản ngân hàng cá nhân, có bị cáo giữ vai trò chủ đề (thầu đề) và có bị cáo giữ vai trò người tham gia gom giao phơi đề cho chủ đề hưởng hoa hồng hoặc có bị cáo mua số lô, số đề trực tiếp thắng thua. Do đó cần phân hóa hành vi, vai trò của từng bị cáo để xử lý. Cụ thể:

- Đối với Võ Thị D là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Lẽ ra, bị cáo phải biết làm ăn chân chính, chăm lo cuộc sống gia đình. Nhưng ngược lại, vì hám lợi từ tháng 04/2022 đến tháng 12/2023 D sử dụng tài khoản Zalo “Thành thị” và “Ken” để bán, nhận phơi số lô, số đề của Võ Văn T1, Nguyễn Ngọc T2, Trương Thị Kiều L1, Hồ Minh T23, Nguyễn Thị Ngọc T20, Trương Thành T6 và một số người khác, số tiền đánh bạc mỗi ngày từ 862.500 đồng đến 39.663.000 đồng, Trong đó: có 05 ngày số tiền đánh bạc trên 20.000.000 đồng nhưng dưới 50.000.000 đồng/ngày, thu lợi 109.357.000 đồng. Ngoài ra, D còn trực tiếp tham gia đánh bạc với Hồ Minh T23, Nguyễn Thị Ngọc T20 với số tiền đánh bạc từ 6.000.000 đồng đến 13.555.000 đồng/ngày, thu lợi 14.755.000 đồng. Tổng thu lợi 124.512.000 đồng, đã giao nộp 20.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo cùng lúc phạm tội “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc” với các tình tiết định khung “T28 lợi bất chính 50.000.000 đồng trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 322; khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, Số tiền bị cáo đánh bạc mỗi ngày trên 5.000.000 đồng nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Trong vụ án bị cáo là người giữ vai trò chính nhận phơi đề từ các bị cáo khác cũng là chủ đề nhận hoặc đề trực tiếp từ người tham gia đánh bạc nên mức án dành cho bị cáo có phần nghiêm khắc sẽ cao hơn các bị cáo khác.

- Đối với Trương Thị Kiều L1 là người đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của bản thân và có cơ sơ kinh doanh thu nhập ổn định. Bị cáo phải biết lao động chân chính, tránh xa các tệ nạn xã hội cờ bạc số lô, số đề. Nhưng do hám lợi, đã bất chấp pháp luật nghiêm cấm, từ ngày 05/11/2021 đến ngày 22/12/2023, L1 nhận phơi, bán số lô, số đề cho Nguyễn Thị Kim T13, Lê Phước V1, Lê Thị C2, Lê Thị P, Nguyễn Thị C5, Nguyễn Hồng H16, Nguyễn Trường V, Nguyễn Văn T16 và một số người khác, thông qua hình thức người tham gia đánh bạc gọi điện thoại trực tiếp cho L1, đọc các con số đề và số tiền đánh bạc, L1 ghi chép lại, đồng thời ghi âm nội dung các cuộc gọi đánh bạc để đối chiếu kết quả thắng thua trong ngày. Loan giữ lại một vài số lô, số đề để trực tiếp thắng thua, còn lại giao phơi số lô, số đề cho bị cáo D để hưởng hoa hồng, số tiền đánh bạc mỗi ngày từ 825.000 đồng đến 73.185.500 đồng/ngày. Trong đó: có 12 ngày số tiền đánh bạc trên 20.000.000 đồng nhưng dưới 50.000.000 đồng/ngày và 01 ngày số tiền trên 50.000.000 đồng, thu lợi 184.570.000 đồng. Ngoài ra, L1 còn trực tiếp đánh bạc với T13, V1, C2, P, C5, H16, V, T16, Hàng Ngọc T26, số tiền đánh bạc từ 825.000 đồng đến 67.639.000 đồng/ngày, thu lợi 167.815.000 đồng. Tổng thu lợi 352.385.000 đồng, đã giao nộp 10.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo cùng lúc phạm tội “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc” với các tình tiết định khung “T28 lợi bất chính 50.000.000 đồng trở lên”, “Tiền dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 322; điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Số tiền bị cáo đánh bạc mỗi ngày trên 5.000.000 đồng nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Nhận thấy, bị cáo là người có vai trò trong vụ án không thua gì bị cáo D nên mức án dành cho bị cáo là sẽ tương đồng như bị cáo D nhưng sẽ cao hơn so với các bị cáo khác.

- Đối với Võ Văn T1, Nguyễn Ngọc T2, Trương Thành T6; Đỗ Thị Kim B1, Phan Thị Diệu H4 là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, riêng bị cáo H4 nguyên là Đảng viên, Giáo viên trường mầm non, có công việc làm ổn định, biết rõ việc bán, nhận phơi số lô, số đề để đánh bạc được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi, đã bất chấp pháp luật. Trong đó T1 nhận số lô, số đề của Phan Thị Diệu H4, Đỗ Thị Kim B1 từ tháng 01/2023 đến ngày 22/12/2023, mỗi ngày từ 2.410.000 đồng đến 44.000.500 đồng, trong đó, có 06 ngày số tiền trên 20.000.000 đồng, thu lợi 249.228.000 đồng, đã giao nộp 20.000.000 đồng; T2 nhận phơi số lô, số đề của Phạm Kim N, Nguyễn Thị Hồng N2, Mạch Thị Anh Thư từ tháng 4/2023 đến ngày 22/12/2023, mỗi ngày từ 247.000 đồng đến 41.668.000 đồng, thu lợi 12.088.000 đồng, đã giao nộp 12.088.000 đồng. Trong đó, có 01 ngày trên 20.000.000 đồng; T6 nhận phơi số lô, số đề của Lê Thị Thanh H12, Nguyễn Tùng K từ tháng 9/2020 đến ngày 22/12/2023, mỗi ngày từ 380.000 đồng đến 39.663.000 đồng, thu lợi 29.583.610 đồng. Trong đó, có 04 ngày trên 20.000.000 đồng; Kim B1 từ tháng 02/2023 đến ngày 22/12/2023, nhận phơi số lô, số đề của Lê Thị L8 và bán số lô, số đề cho Nguyễn Thị H20, Võ Hoàng D2, nhiều người không rõ họ tên, địa chỉ, sau đó tổng hợp phơi đề giao cho Võ Văn T1 để hưởng hoa hồng, các đài miền N, miền B từ 339.000 đến 37.881.000 đồng/ngày, thu lợi 35.518.450 đồng, đã giao nộp 10.000.000 đồng. Trong đó có 05 ngày trên 20.000.000 đồng; Diệu Hiền từ tháng 01/2022, H4 tổ chức đánh bạc bằng hình thức nhận phơi số lô, số đề của Võ Thị Hồng Đ2 rồi giao phơi đề cho Võ Văn T1 để hưởng hoa hồng, tổng số tiền đánh bạc các đài miền N từ 3.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng/ngày. Trong đó, có 02 ngày trên 20.000.000 đồng. Hành vi của T1 phạm tội “Tổ chức đánh bạc” với các tình tiết định khung “T28 lợi bất chính 50.000.000 đồng trở lên”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 322 của Bộ luật Hình sự và hành vi T2, T6; Kim B1, H4 phạm tội “Tổ chức đánh bạc” với các tình tiết định khung “Tổng số tiền dùng đánh bạc trong cùng 01 lần trị giá 20.000.000 đồng trở lên”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự. Số tiền các bị cáo đánh bạc mỗi ngày trên 5.000.000 đồng nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Hành vi phạm tội của các bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Nhận thấy, Hành vi phạm tội của bị cáo T1 có tính chất nghiêm trọng hơn, thu lợi bất chính nhiều hơn so với các bị cáo T2, T6, Kim B1 và H4 nên cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc hơn đối với bị cáo T1. Các bị cáo T2, T6, Kim B1 và H4 có vai trò, tính chất hành vi và mức độ thu lợi bất chính tương đương nhau nên cần áp dụng mức hình phạt ngang nhau đối với các bị cáo này.

Đối với Phạm Kim N, Nguyễn Thị Hồng N2, Mạch Thị Anh T10, Nguyễn Tùng K cũng như các bị cáo khác trong vụ án, có đủ khả năng nhận thức và điều kiển hành vi của bản thân. Lẽ ra, phải cố gắng lao động làm tốt công việc hiện có để tạo thu nhập chân chính nuôi sống bản thân và chăm lo tốt cho gia đình. Cũng như các bị cáo khác, vì ham mê cờ bạc, đã bất chấp nghiêm cấm pháp luật để tham gia đánh bạc dưới hình thức số lô, số đề được thua bằng tiền, để thu lợi. Trong đó: Ngân đánh bạc với T2 14 ngày, từ 886.000 đồng đến 10.814.800 đồng, thu lợi 6.075.000 đồng, đã giao nộp 6.075.000 đồng; N2 đánh bạc với T2 49 ngày, từ 152.000 đồng đến 12.430.000 đồng, thu lợi 16.796.960 đồng, đã giao nộp 3.000.000 đồng; Thư đánh bạc với T2 10 ngày, từ 852.500 đồng đến 19.093.000 đồng, thu lợi 4.304.000 đồng, đã giao nộp 4.304.000 đồng; Khương đánh bạc với Thấm 173 ngày, từ 380.000 đồng đến 39.663.000 đồng. Hành vi đánh bạc mỗi ngày dưới 50.000.000 đồng nhưng trên 5.000.000 đồng nên phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Nhận thấy, hành vi phạm tội của các bị cáo là như nhau nên mức hình phạt của các bị cáo là bằng nhau. Tuy nhiên, bị cáo N2 phạm tội khi đang mang thai, bị cáo K có bệnh lý cần điều trị lâu dài nên cũng cần có xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.

- Đối với Hồ Minh T23, Nguyễn Thị Ngọc T20, Võ Thị Hồng Đ2, Lê Thị Thanh H12, Lê Thị L8 là những người đã trưởng thành, cũng như các bị khác với bản tính ham mê cờ bạc, lười biếng lao động, đã bất chấp pháp luật dấn thân vào đường phạm tội. Trong đó: T23 đánh bạc với D ngày 08/12/2023 là 6.000.000 đồng; T20 đánh bạc với D ngày 03/11/2023 là 13.955.000 đồng; Đào đánh bạc với H4 02 ngày, ngày 21/12/2023 là 20.712.000 đồng, thu lợi 571.000 đồng; H12 đánh bạc với Thấm ngày 22/12/2023 là 15.420.000 đồng, thu lợi 10.180.000 đồng; Lánh đánh bạc với Kim B1 ngày 22/12/2023 là 9.310.000 đồng, thu lợi 450.000 đồng. Hành vi đánh bạc của các bị cáo số tiền mỗi ngày không lớn so với bị cáo khác trong vụ án nhưng số tiền đánh bạc trên 5.000.000 đồng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương nên cũng cần xử phạt nghiêm để răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, bị cáo T20 đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, Đ2 đang mang thai nên cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.

Đối với Nguyễn Thị Kim T13, Lê Phước V1, Lê Thị C2, Lê Thị P, Nguyễn Thị C5, Nguyễn Hồng H16, Nguyễn Trường V, Nguyễn Văn T16 cũng như các bị cáo khác trong vụ án, có đủ khả năng nhận thức và điều kiển hành vi của bản thân. Riêng, bị cáo T16, P có 01 tiền sự bị chính quyền địa phương xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc bán số đề nên biết rõ đánh bạc dưới hình thức số lô, số đề được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật. Cũng như các bị cáo khác, do ham mê cờ bạc, đã bất chấp nghiêm cấm để tham gia đánh bạc số lô, số đề với bị cáo L1. Trong đó, C5 đánh bạc 501 ngày, từ 58.000 đồng đến 67.639.000 đồng; H16 485 ngày, từ 110.000 đồng đến 14.054.500 đồng; V 61 ngày, từ 50.000 đồng đến 18.765.000 đồng, thu lợi 10.877.500 đồng; Vĩnh 29 ngày, từ 284.000 đồng đến 15.175.000 đồng; Tiếng 06 ngày, từ 20.000 đồng đến 10.274.000 đồng; Có 04 ngày, từ 2.135.000 đồng đến 26.480.000 đồng, thu lợi 24.550.000 đồng; P 14 ngày, từ 50.000 đồng đến 13.327.500 đồng; Tèo 06 ngày, từ 217.500 đồng đến 13.100.000 đồng, thu lợi 8.655.500 đồng. Hành vi đánh bạc của các bị cáo số tiền mỗi ngày trên 5.000.000 đồng nhưng dưới 50.000.000 đồng nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo C5 có 01 ngày trên 50.000.000 đồng nên phải chịu trách nhiệm hình sự với tình tiết định khung “Tiền dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, mức án danh cho bị cáo C5 sẽ cao hơn các bị cáo còn lại, riêng bị cáo H16 phạm tội trên 70 tuổi nên có xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo D, T1, H4, T2, N, T6, Kim B1, N2, T10, K, C2, V, V1, P, T13, T16, H16, C5, L1 bị áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Đối với các bị cáo khác không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà, các bị cáo đều thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; phần lớn các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, ham mê cờ bạc, nhận thức pháp luật có phần hạn chế và sau khi phạm tội các bị cáo đã đầu thú. Phần lớn các bị cáo có trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế; sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện giao nộp một phần thu lợi từ việc đánh bạc. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra các bị cáo Đ2, H12, T23, T20, L8 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được Hội đồng xét xử áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo Đ2 và bị cáo T20 được Hội đồng xét xử áp dụng thêm điểm n khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét thấy, tại phiên tòa hôm nay, cũng như trong quá trình điều tra, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải; hoàn cảnh gia đình khó khăn. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm gia đình bị cáo Phan Thị Diệu H4 giao nộp chứng cứ, chứng minh có ông bà ngoại của bị cáo là ông Lâm Văn T31 và bà Nguyễn Thị N5 là người có công với Cách M2, được Nhà nước trao tặng Huân chương kháng chiến Hạng nhì; có cha là cán bộ hưu trí được nhận huy hiệu 30 năm tuổi Đảng, bản thân bị cáo trong quá trình công tác tại địa phương được Phòng Giáo dục và Đào tạo, UBND huyện C khen thưởng giáo viên dạy giỏi cấp huyện, Đoàn viên Công Đoàn xuất sắc, lao động tiên tiến, chiến sĩ thi đua cơ sở, nhiều lần hiến máu giúp đỡ cho cộng động; bị cáo H4 đang theo dõi điều trị và bị các rối loạn lo âu khác, rối loạn giấc ngủ không thực tổn. Bản thân bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T20 cũng ý thức được việc phạm tội của mình nên đã tự nguyện giao nộp lại số tiền thu lợi bất chính. Ngoài ra bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T20, Võ Thị Hồng Đ2 đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi và bị cáo Nguyễn Thị Hồng N2 hiện đang mang thai; bị cáo Nguyễn Hồng H16, Đỗ Thị Kim B1 phạm tội là người trên 70 tuổi và bị cáo B1 phạm tội đang mắc bệnh hiểm nghèo; bị cáo Phạm Kim N hiện đang có con nhỏ dưới 07 tuổi rất cần sự chăm sóc nuôi dạy của người mẹ; bị cáo Hồ Minh T23 và bị cáo Lê Thị L8 sau khi phạm tội các bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình nên đã ra đầu thú. Hội đồng xét xử nhận thấy, trước khi phạm tội các bị cáo đều là người có nhân thân tốt và có nơi cư trú rõ ràng; vai trò tham gia trong vụ án chỉ là đồng phạm do bị rủ rê lôi kéo nên nhất thời phạm tội; các bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ mà không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Xét thấy, nếu không bắt các bị cáo này phải chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương. Đây là cơ hội để các bị cáo phấn đấu sửa chữa lỗi lầm.

Ngoài ra, các bị cáo Trương Thị Kiều L1 và Nguyễn Thị C5 quá trình điều tra tích cực hợp tác giúp Cơ quan điều tra giải quyết nhanh vụ án, nhận thức được hành vi phạm tội của mình các bị cáo đã tự ra đầu thú. Do đó, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có cân nhắc, xem xét xử phạt các bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt cho xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 3 Điều 322 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000đ đến 100.000.000đ; khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đ đến 50.000.000đ. Xét thấy, việc áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo là cần thiết nên cần chấp nhận đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[6] Về vật chứng: tại phiên toà, Vị đại diện Viên kiểm sát đề nghị xử lí theo Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, là có căn cứ. Xét chấp nhận.

[7] Về các vấn đề khác: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Riêng bị cáo T6, Ba, C5, C2, H16 có đơn đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm, đồng thời các bị cáo T6, Ba, C5, C2, H16 thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định của pháp luật nên bị cáo được xét miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Võ Thị D, Trương Thị Kiều L1 phạm tội “Tổ chức đánh bạc” và tội “Đánh bạc”; các bị cáo Võ Văn T1, Nguyễn Ngọc T2, Đỗ Thị Kim B1, Phan Thị Diệu H4, Trương Thành T6 phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; các bị cáo Nguyễn Thị C5, Phạm Kim N, Nguyễn Thị Hồng N2, Mạch Thị Anh T10, Võ Thị Hồng Đ2, Nguyễn Tùng K, Lê Thị Thanh H12, Hồ Minh T23, Nguyễn Thị Ngọc T20, Lê Thị L8, Lê Thị C2, Nguyễn Trường V, Lê Phước V1, Lê Thị P, Nguyễn Thị Kim T13, Nguyễn Văn T16, Nguyễn Hồng H16 phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 322; khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17, Điều 58, Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

  1. Xử phạt bị cáo Võ Thị D 05 (năm) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc” và 01 (một) năm tù về tội “Đánh bạc”; tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Võ Thị D phải chấp hành là 06 (sáu) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 24/12/2023).

    Phạt bổ sung bị cáo Võ Thị D số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.

  2. Xử phạt bị cáo Trương Thị Kiều L1 02 (hai) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc” và 03 (ba) năm tù về tội “Đánh bạc”; tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Trương Thị Kiều L1 phải chấp hành là 05 (năm) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

    Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 322, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

  3. Xử phạt bị cáo Võ Văn T1 05 (năm) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tính kể từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 24/12/2023).

    Phạt bổ sung bị cáo Võ Văn T1 số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.

    Căn cứ dụng điểm c khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

  4. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T2 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tính kể từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 24/12/2023).

    Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Ngọc T2 số tiền 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.

  5. Xử phạt bị cáo Phan Thị Diệu H4 01 (một) năm 17 (mười bảy) ngày tù; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/12/2023 đến ngày 10/01/2025 (bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù).

    Phạt bổ sung bị cáo Phan Thị Diệu H4 số tiền 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.

    Căn cứ điểm điểm c khoản 1 Điều 322, điểm s, p khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

  6. Xử phạt bị cáo Trương Thành T6 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
  7. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322, điểm s, điểm o khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 17, Điều 58. Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

    Xử phạt Đỗ Thị Kim B1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Đỗ Thị Kim B1 cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

    Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự. năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

  8. Xử phạt bị cáo Phạm Kim N 01 (một) năm 17 (mười bảy) ngày tù; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/12/2023 đến ngày 10/01/2025 (bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù).

    Phạt bổ sung bị cáo Phạm Kim N số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.

  9. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tùng K 01 (một) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt giam bị cáo chấp hành hình phạt.

    Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Tùng K số tiền 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.

  10. Xử phạt bị cáo Mạch Thị Anh T10 01 (một) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt giam bị cáo chấp hành hình phạt.

    Phạt bổ sung bị cáo Mạch Thị Anh T10 số tiền 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.

  11. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường V 01 (một) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

    Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Trường V số tiền 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.

  12. Xử phạt bị cáo Lê Phước V1 01 (một) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

    Phạt bổ sung bị cáo Lê Phước V1 số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.

  13. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim T13 01 (một) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

    Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị Kim T13 số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.

  14. Xử phạt bị cáo Lê Thị C2 01 (một) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

    Phạt bổ sung bị cáo Lê Thị C2 số tiền 10.000.000đ (Mười mươi triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.

  15. Xử phạt bị cáo Lê Thị P 01 (một) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

    Phạt bổ sung bị cáo Lê Thị P số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.

  16. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T16 01 (một) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

    Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Văn T16 số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước

    Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm n, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 17, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

  17. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hồng N2 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Nguyễn Thị Hồng N2 cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh An Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

    Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị Hồng N2 số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.

    Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, điểm s, điểm n khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

  18. Xử phạt bị cáo Võ Thị Hồng Đ2 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Võ Thị Hồng Đ2 cho Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

    Phạt bổ sung bị cáo Võ Thị Hồng Đ2 số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.

  19. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T20 09 (chín) tháng tù; nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T20 cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh An Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

    Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T20 số tiền 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.

    Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

  20. Xử phạt bị cáo Lê Thị Thanh H12 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Lê Thị Thanh H12 cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

    Phạt bổ sung bị cáo Lê Thị Thanh H12 số tiền 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.

  21. Xử phạt bị cáo Hồ Minh T23 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Hồ Minh T23 cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

    Phạt bổ sung bị cáo Hồ Minh T23 số tiền 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.

  22. Xử phạt bị cáo Lê Thị L8 09 (chín) tháng tù nhưng cho hương án treo; thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Lê Thị L8 cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh An Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

    Phạt bổ sung bị cáo Lê Thị L8 số tiền 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.

    Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

  23. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị C5 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

    Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị C5 số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.

    Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s, điểm o khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

  24. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng H16 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Nguyễn Hồng H16 cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu các bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc bị cáo Al phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

(Đã giải thích chế định án treo cho các bị cáo)

Căn cứ các Điều 46, 47, 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Xử lí vật chứng: Kèm theo Phụ lục (Phụ lục gồm 04 trang, đây là một phần không tách rời bản án).

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Võ Thị D, Võ Văn T1, Phan Thị Diệu H4, Nguyễn Ngọc T2, Phạm Kim N, Nguyễn Thị Hồng N2, Mạch Thị Anh T10, Võ Thị Hồng Đ2, Lê Thị Thanh H12, Hồ Minh T23, Nguyễn Tùng K, Trương Thị Kiều L1, Lê Phước V1, Nguyễn Trường V, Nguyễn Văn T16, Lê Thị P, Nguyễn Thị Kim T13, Nguyễn Thị Ngọc T20 và Lê Thị L8 mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Riêng các bị cáo Trương Thành T6, Đỗ Thị Kim B1, Nguyễn Thị C5, Lê Thị C2 và Nguyễn Hồng H16 được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án yêu cầu Toà án nhân dân Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm; riêng các đương sự vắng mặt, thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú./.

Nơi nhận:

  • TANDCC tại Thành phố Hồ Chí Minh;
  • Viện kiểm sát tỉnh An Giang;
  • Công an tỉnh An Giang;
  • Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • Cục thi hành án dân sự tỉnh An Giang;
  • Trại tạm giam Công an tỉnh An Giang;
  • Thi hành án hình sự;
  • UBND cấp xã, thị trấn nơi bị cáo hưởng án treo;
  • Những người tham gia tố tụng;
  • Phòng hồ sơ – Công an tỉnh An Giang;
  • Lưu: Hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thuận Lợi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HS-ST ngày 27/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về hình sự (tổ chức đánh bạc và đánh bạc)

  • Số bản án: 20/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: “Tổ chức đánh bạc” và tội “Đánh bạc”
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger