|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU Bản án số: 20/2025/HS-ST Ngày: 27/02/2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thọ
Ông Lê Văn Công
Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Nhung – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2025/TLST - HS ngày 24 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2025/QĐXXST - HS ngày 14 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
1. Lê Đức M; tên gọi khác: Không, sinh năm 1967 tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; HKTT: SỐ B L, tổ A, khu phố A, phường G, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đức T, sinh năm: 1930 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1933 (đã chết); bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh năm 1972 và 02 con (con lớn nhất sinh năm 1994, con nhỏ nhất sinh năm 2004); Tiền sự: Không; Tiền án:
- Tại Bản án số 106/2014/HSST ngày 03/6/2014 TAND thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Tại Bản án số 52/2016/HSST ngày 07/4/2016 TAND thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Tại Bản án số 103/2018/HSST ngày 20/6/2018 TAND thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản"; Chấp hành xong tháng 7/2023.
- Tại theo Bản án số 63/HSST ngày 27/5/1988 TAND Đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân”; 12 tháng tù về “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân” và 24 tháng tù về tội “Trốn khỏi nơi giam”. Tổng hợp hình phạt của ba tội là 54 tháng tù (tức 04 năm 06 tháng tù).
- Tại Bản án số 107/2009/HSST ngày 30/10/2009 TAND thị xã Bà Rịa (nay là thành phố B), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản".
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 29/10/2024, tạm giam ngày 04/11/2024 (Có mặt)
2. Bị hại:
- Bà Phạm Thị Ngọc L, sinh năm 1976; Địa chỉ: Số A V, phường A, TP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có đơn xin vắng mặt)
- Bà Đỗ Thị H (tên khác T1), sinh năm 1966; Địa chỉ: Số H N, KP B, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có đơn xin vắng mặt)
- Bà Lê Hồng C, sinh năm 1973; Địa chỉ hiện nay: Tổ 1, ấp B, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có đơn xin vắng mặt)
- Bà Phạm Thị Mỹ D, sinh năm 1979; Địa chỉ: Tổ A, khu phố C, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có đơn xin vắng mặt)
- Bà Mai Thị L1, sinh năm 1969; Địa chỉ: Tổ A, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có đơn xin vắng mặt)
- Bà Lưu Thị L2, sinh năm 1995; Địa chỉ: Ấp P, xã T, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có đơn xin vắng mặt)
3. Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Quang L3, sinh năm: 1996; Địa chỉ: ấp P, xã T, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Đức M nhiều lần bị xét xử về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích. Sau khi chấp hành xong hình phạt tù, M về địa phương nhưng không có nơi cư trú, không có nghề nghiệp nên tiếp tục trộm cắp tài sản làm nguồn sinh sống chính. Vào khoảng 05 giờ sáng ngày 29/10/2024, M điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 72S1-7492 đi từ thành phố V đến thành phố B để tìm các địa điểm buôn bán quán ăn, uống nhỏ để trộm cắp tài sản. Cách thức của M là tìm quán có một người bán, yêu cầu mua hàng số lượng nhiều để tìm cơ hội lấy tài trộm tài sản thường là điện thoại di động. Khoảng 08 giờ cùng ngày, M đã thực hiện 01 vụ trộm cắp tài sản tại địa bàn thành phố V và 04 vụ trộm cắp tài sản tại địa bàn thành phố B sau đó bị bắt quả tang. Cụ thể như sau:
Vụ 1: Vào khoảng 05 giờ 15 phút ngày 29/10/2024, Lê Đức M điều khiển xe mô tô đi từ Vũng Tàu đến Bà Rịa. Khi đi ngang tiệm bánh ướt của chị Phạm Thị Ngọc L (phường A, thành phố V). M ghé vào hỏi mua 03 hộp bánh ướt. Lợi dụng lúc chị L sơ hở M đã lấy trộm 01 giỏ xách màu nâu để trên nóc tủ. Sau đó, M điều khiển xe đi đến cầu C, M dùng xe kiểm tra thì thấy bên trong túi có 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy M51, màu đen và 01 chiếc điện thoại hiệu Masstel, màu xanh dương. M lấy 02 chiếc điện thoại bỏ vào cốp xe còn túi xách ném bỏ xuống sông.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 166/KL-HĐĐG-TTHS ngày 21/11/2024 của Hội đồng định giả tài sản thành phố V kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Masstel 4G Lte, trị giá 350.000 đồng (Ba trăm năm mươi nghìn đồng); 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy M51 màu đen trị gía 1.800.000 đồng (Một triệu tám trăm nghìn đồng). Tổng cộng 2.150.000 đồng (Hai triệu một trăn năm mươi nghìn đồng).
Vụ 2: Vào khoảng 06 giờ 45 phút, ngày 29/10/2024, M điều khiển xe mô tô đến khu vực gần trường Tiểu học Đ, phường L, thành phố B. Phát hiện bà Đỗ Thị H (khu phố B, phường L) đứng bán đồ ăn sáng một mình. M xuống xe hỏi mua 02 (hai) hộp cơm. Lội dụng sơ hở M lén lút trộm điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A04, màu xanh-đen của chị H để ở ngăn tủ dưới bàn rồi lên xe bỏ đi.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 237/KL-HĐĐGTS ngày 31/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố B, kết luận: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxy A04, số IMEI 1: 35104498209676, trị giá 1.233.333 đồng (Một triệu hai trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng).
Vụ 3: Vào khoảng 07 giờ ngày 29/10/2024, M điều khiển xe mô tô đến khu vực chợ H1, thành phố B. Thấy bà Lê Hồng C (tổ 1, ấp B, xã H) bán nước một mình nên M ghé hỏi mua 01 (một) ly cà phê. Lợi dụng sơ hở M lấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxy A14 màu tím trên bàn. M nói bà C bán thêm cho 02 ly nước dừa, trong lúc bà C đang chặt dừa thì M bỏ đi.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 237/KL-HĐĐGTS ngày 31/10/2014 của Hội đồng định giá tài sản thành phố B, kết luận: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxy A14, số IMEI 1: 357368581311495, trị giá 1.766.666 đồng (Một triệu bảy trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi sáu đồng).
Vụ 4: Vào khoảng 07 giờ 15 phút ngày 29/10/2024, M điều khiển xe mô tô ngang qua xe bán đồ ăn sáng tại khu vực đường số D, xã H, thành phố B do chị Phạm Thị Mỹ D. Lúc này, ngoài M còn có khoảng 04 khách khác đang mua hàng. M dựng xe đi đến hỏi mua 02 phần hủ tíu xào và nói chị D cứ ưu tiên bán cho khách khác trước. Lợi dụng sơ hở M lấy chiếc điện thoại Samsung A03 core để trên bàn, bỏ vào túi sau đó nhận 02 hộp đồ ăn rồi lên xe bỏ đi.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 237/KL-HĐĐGTS ngày 31/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố B, kết luận: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung 403 core màu đen, số IMEI 1: 354015792661852, trị giá 933.333 đồng (Chín trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng).
Vụ 5: Sau khi trộm cắp điện thoại tại tại đường số D, xã H, thành phố B. M tiếp tục điều khiển xe mô tô đi về hướng xã T, thành phố B. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, khi đi ngang qua quán bún phở, nước giải khát trên đường L, thuộc ấp P, xã T do bà Mai Thị L1 làm chủ. Lúc này, ngoài bà L1 còn có chị Lưu Thị L2 - là con gái bà L1 đứng bán phía quầy bún. M đi vào trong quán G hỏi mua 04 (bốn) ly cà phê đá và 04 (bốn) tô phở bò để mang đi. Lúc này, bà L1 đang để chiếc điện thoại Iphone XSMAX 64GB, màu trắng trên ghế xe đẩy trẻ em ở góc nhà sạc pin. M quan sát thấy chiếc điện thoại nên tiến lại gần để trộm cắp nhưng khi vừa lại gần thì bị bà L1 chạy lấy chiếc điện thoại, đuổi M ra ngoài. Lúc này, trên võng có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu trắng - hồng (của chị L2). M giả vờ nằm nhờ võng, lấy chiếc điện thoại bỏ vào túi quần rồi đi ra cửa nổ máy xe định đi mà không lấy đồ ăn thì bà L1 chạy theo, túm áo giữ M lại. M lấy chiếc điện thoại của chị L1 trả lại rồi vứt xe bỏ chạy. Bà L1 truy hô nên anh Nguyễn Quang L3 chạy ra đuổi theo đến khu vực vòng xoay T thì bắt được M, giao cho Công an xã T xử lý.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 237/KL-HĐĐGTS ngày 31/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố B, kết luân: 01 điện thoại di động nhãn hiệu oppo màu trắng, hồng số IMEI 1: 867124046576634; IMEI 2: 867124046576526 trị giá 1.266.666 đồng (Một triệu hai trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi sáu đồng): 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMAX 64GB, màu trắng, số IMEI 1: 353102105709692, trị giá 5.333.331 đồng (Năm triệu ba trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi mốt đồng).
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Đức M1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên (Bút lục 39-40; 195-209; 212-213).
Việc thu giữ, xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại các tài sản như sau:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu trắng đã trả lại cho bà Lưu Thị Liên .
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxy A04 màu xanh đã trả lại cho bà Đỗ Thị H
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxy A14 màu tím đã trả lại cho bà Lê Hồng C.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxy A03 core màu đen đã trả lại cho bà Phạm Thị Mỹ D.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMAX 64GB, màu trắng (Bà Mai Thị L1 giao nộp) hiện đã trả lại cho bà L1.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu nhãn hiệu Samsung Galaxy M51 và 01 chiếc nhãn hiệu Masstel đã trả lại cho bà Phạm Thị Ngọc L.
- Đối với chiếc túi xách của chị Phạm Thị Ngọc L do M1 ném xống sông nên không thu hồi được.
Ngoài các vật chứng thu giữ đã trả lại cho các bị hại, Cơ quan điều tra còn thu giữ của bị cáo M1:
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển số 72S1-7492 và Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô. M1 khai nhận: Sau khi chấp hành án về địa phương thì được chị gái đưa tiền để M1 mua xe của anh Nguyễn Tấn P, sinh năm 1983, địa chỉ: Số B T, khu phố B, phường P, thành phố B; Nguồn gốc xe đứng tên ông Trương Văn Q, sinh năm 1981, địa chỉ: Số D Ô L, huyện L, (này là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Ông Q1 đã bán chiếc xe trên, nay không có yêu cầu gì.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu S Galaxy A55 5G, IMEIL: 353029493138012 của Lê Đức M.
Các vật chứng nêu trên hiện đã chuyển đến Cơ quan Thi hành án dân sự bảo quản, chờ xử lý.
Về bồi thường thiệt hại: Những tài sản đã thu hồi và trả lại, các bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại bản cáo trạng số 18/CT-VKSTPBR ngày 24/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã truy tố Lê Đức M về tội “Trộm cắp tài sản” theo các điểm b, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lê Đức M và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Đức M từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù. Về xử lý vật chứng: Giao trả lại cho bị cáo chiếc xe mô tô biển số 7251-7492 cùng giấy tờ xe và 01 (một) điện thoại di động hiệu S Galaxy A55 5G; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về bồi thường thiệt hại: Các bị hại không có yêu cầu nên không xem xét.
Ý kiến của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về quan điểm luận tội của Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt do bị cáo đang bị bệnh nặng.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ và đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo:
Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó đủ cơ sở kết luận:
Nguyễn Đức M1 đang là người có 03 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản". Vào ngày 29/10/2024, M1 tiếp tục thực hiện liên tiếp 05 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố V và thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu của các bị hại tại nhiều địa điểm, tổng giá trị tài sản trộm cắp là 12.683.331 đồng (Mười hai triệu sáu trăm tám mươi ba nghìn ba trăm ba mươi mốt đồng), cụ thể:
- Vụ 1: Tại tiệm bán bánh ướt tại phường A, thành phố V, M1 trộm cắp 02 điện thoại di động của bà Phạm Thị Ngọc L, tổng giá trị là 2.150.000 đồng;
- Vụ 2: Tại quán bán đồ ăn sáng gần trường Tiểu học Đ, phường L, thành phố B, M1 trộm cắp 01 điện thoại di động của bà Đỗ Thị H trị giá 1.233.333 đồng;
- Vụ 3: Tại quán nước gần chợ H1, thuộc ấp B, xã H, thành phố B, M1 trộm cắp 01 điện thoại di động của bà Lê Hồng C trị giá 1.766.666 đồng;
- Vụ 4: Tại khu vực đường số D, xã H, thành phố B, M1 trộm cắp 01 điện thoại di động của bà Phạm Thị Mỹ D trị giá 933.333 đồng;
- Vụ 5: Tại quán ăn sáng, giải khát đường L thuộc ấp P, xã T, thành phố B, M1 trộm cắp 01 điện thoại di động của chị Lưu Thị L2, trị giá 1.266.666 đồng; đồng thời M1 chuẩn bị trộm cắp chiếc điện thoại di động hiệu XSMAX 64GB của bà Mai Thị L1 trị giá 5.333.331 đồng thì bị bắt quả tang.
Bị cáo M1 đã thực hiện 05 vụ trộm cắp tài sản, bản thân bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, lấy việc trộm cắp tài sản làm nguồn sống chính cho bản thân nên thuộc trường hợp phạm tội “có tính chất chuyên nghiệp". Ngoài ra, tại bản án số 103/2018/HSST ngày 20/6/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, bị cáo M1 đã bị xét xử thuộc trường hợp “tái phạm", nay tiếp tục phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp "tái phạm nguy hiểm".
Như vậy, hành vi của bị cáo M1 thực hiện đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại các điểm b, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
[3]. Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội; xâm hại đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ; gây mất an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm bất bình trong nhân dân. Xét nhân thân bị cáo thì thấy: bị cáo là người trưởng thành, có nhận thức xã hội, có nhân thân xấu, bị cáo đã từng nhiều lần chịu sự cải tạo, giáo dục của pháp luật, nhận biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì tham lam muốn chiếm đoạt tài sản của người khác để có tiền tiêu xài nhằm thoả mãn nhu cầu cá nhân nên bị cáo lao vào con đường phạm tội. Vì vậy cần có hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Tình tiết tăng nặng: Không. Tình tiết giảm nhẹ: Từ khi phạm tội đến phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản bị chiếm đoạt đã thu hồi và trao trả lại cho các bị hại. Do đó, cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự khi lượng hình.
[5] Về bồi thường thiệt hại: Các bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên đã giải quyết xong.
[6] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại các tài sản bị chiếm đoạt cho các chủ sở hữu nên đã giải quyết xong.
- Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Honda, biển số 72S1-7492và giấy tờ xe, quá trình điều tra xác định nguồn tiền mua xe từ gia đình của bị cáo, về các thủ tục mua bán chưa tiến hành sang tên theo quy định nên giao lại cho bị cáo; 01 (một) điện thoại di động hiệu S Galaxy A55 5G là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo.
[7] Bị cáo phải nộp án phí và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Đức M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Căn cứ vào các điểm b, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Lê Đức M 03 năm 06 tháng tù (Ba năm sáu tháng tù), thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/10/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 48 Bộ luật Hình sự:
Trả lại cho bị cáo Lê Đức M:
- 01 (một) xe mô tô hiệu Honda loại xe Airblade, biển số 72S1-7492, màu đen, số khung RLHJK18068Y658223, số máy JF18E-5261499 và 01(một) giấy đăng ký xe mô tô số 006133 mang tên Trương Văn Q, biển kiểm soát 7251-7492 cấp ngày 17/01/2020.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu S A55 5G, số I: 353029493138012.
(Vật chứng nêu trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 40 ngày 24/01/2025)
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Buộc bị cáo Lê Đức M phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm (Người vắng mặt tại tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Lê Hoàng Anh |
Bản án số 20/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 20/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Đức M phạm tội trộm cắp tài sản
