Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRIỆU PHONG

TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/HS-ST
Ngày 25-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU PHONG, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Thế Nam;

Ông Hoàng Quang Dưỡng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Thuý - Thư ký TAND huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện VKSND huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn H - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại Hội trường trụ sở TAND huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Lê Nhật Q, sinh ngày 28/8/1991, tại tỉnh Quảng Trị; căn cước công dân: [...] cấp ngày 24/4/2023; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Khu phố A, thị trấn H, huyện V, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Kế toán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; Tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Cảnh S, sinh năm 1963 và con bà: bà Lê Thị T, sinh năm 1968; vợ: Nguyễn Thị Thúy H1, sinh năm 1989 (đã ly hôn); bị cáo có 01 con, sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Tam giam” từ ngày 30/7/2024 cho đến nay; có mặt.

- Bị hại: Công Ty TNHH Đ1; Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Tuấn A– Giám đốc Công ty; địa chỉ: Quốc lộ A, Thôn P, Xã T, Huyện T, Quảng Trị.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Hoàng Trung T1 – Giám đốc kinh doanh Công Ty TNHH Đ1; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan:

+ Bà Nguyễn Thị Hồng V, sinh năm 1988; địa chỉ: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; có mặt.

+ Ông Lê Đức H2, sinh năm 1990; địa chỉ: số F đường L, khu phố T, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.

- Người làm chứng: Ông Hoàng Trung T1, sinh năm 1985; địa chỉ: B H, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Trần Lê Nhật Q giữ chức vụ Trưởng phòng tài chính Kế toán và Kế toán trưởng của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ1 PGS Quảng Trị (gọi tắt là Công ty Đ1), lợi dụng chức vụ của mình bị cáo Q đã có hành vi chiếm đoạt tài sản của Công ty Đ1 với tổng số tiền 415.950.000 đồng, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Ngày 27/12/2023, Trần Lê Nhật Quang thông qua ứng dụng Zalo nhắn tin cho chị Nguyễn Thị Hồng V, là Thủ quỹ của Công ty Đ1 yêu cầu chi số tiền 15.950.000 đồng với lý do Công ty có chủ trương mua rượu tiếp. Q liên hệ với anh Trần Đ, trú tại khu phố T, phường Đ, thành phố Đ hỏi mượn tài khoản ngân hàng của anh Đ nói khi nào có người chuyển tiền vào thì anh Đ sẽ trừ đi 2.000.000 đồng (số tiền này Q đã nợ anh Đ từ trước) và chuyển số tiền còn lại vào tài khoản ngân hàng B cho Q. Chị V đã chuyển số tiền 15.950.000 đồng vào tài khoản của anh Đ theo chỉ đạo của Q. Sau khi nhận được tiền, anh Đ đã trừ 2.000.000 đồng tiền Q đã nợ mình trước đó rồi dùng tài khoản ngân hàng B số 54010001320947 mang tên Trần Đông C vào tài khoản ngân hàng B số 54010000693619 mang tên Trần Lê Nhật Q số tiền 13.950.000 đồng. Chiếm đoạt được số tiền trên, Q tiêu xài cá nhân hết.

Lần thứ hai: Vào ngày 27/11/2023, Công ty TNHH MTV T2 (viết tắt là Công ty T2) do anh Lê Đức H2 làm giám đốc và Công ty Đ1 do anh Trần Tuấn A– Tổng giám đốc, ký hợp đồng mua bán xe ô tô Raize với giá 560.000.000 đồng (số hợp đồng 57.0045/11/2023/HĐKT-TQT), với hình thức vay ngân hàng V1 392.000.000 đồng, còn 168.000.000 đồng thì Công ty T2 trả tại thời điểm ký hợp đồng Công ty T2 đặt cọc trước số tiền 20.000.000 đồng.

Theo phụ lục hợp đồng, Công ty Đ1 sẽ giao xe trong tháng 12/2023 sau khi nhận đủ 100% giá trị hợp đồng. Công ty Đ1 có trách nhiệm hỗ trợ đăng ký, đăng kiểm, làm giấy chứng nhận đăng ký xe, mua bảo hiểm dân sự với số tiền 71.340.700 đồng.

Đến ngày 05/12/2023, Ngân hàng V1 có Thông báo số 0512/2023/VTB-QT-TB về việc chấp thuận tài trợ vốn cho khách hàng, đồng ý cho Công ty T2 vay số tiền 392.000.000 đồng, giải ngân vào ngày 02/01/2024.

Theo hợp đồng, ngày 26/12/2024, Công ty T2 chuyển số tiền đối ứng 219.350.000 đồng (gồm 148.000.000 đồng mua xe và 71.350.000 đồng chi phí đăng ký xe ô tô) cho Công ty Đ1.

Ngày 29/12/2023, anh Lê Đức H2 trao đổi với anh Hoàng Trung T1 – giám đốc kinh doanh của Công ty Đ1, muốn nhận xe trước ngày ngân hàng giải ngân, anh T1 đã báo cáo xin ý kiến của anh Trần Tuấn A – Tổng giám đốc. Anh Tuấn A1 đã chỉ đạo anh T1 yêu cầu Công ty T2 nộp số tiền bảo lĩnh 400.000.000 đồng vào tài khoản cá nhân của Trần Lê Nhật Q, khi nào ngân hàng V1 giải ngân thì Q chuyển lại cho Công ty T2.

Ngày 29/12/2023, anh Lê Đức H2 chuyển 400.000.000 đồng vào tài khoản của Q, Q xác nhận đã nhận số tiền trên với anh Tuấn A1 qua tin nhắn trên nhóm Zalo “TQT- Phản ứng nhanh” của Công ty. Sau đó, anh Tuấn A1 nhắn lại “ok, cho giao xe nhé”, tức là đồng ý cho Công ty T2 nhận xe trước khi ngân hàng giải ngân. Đến chiều ngày 29/12/2023, Q thấy quỹ tiền mặt của Công ty còn nhiều, với vai trò là kế toán trưởng, sợ để tiền mặt nhiều sẽ bị mất nên Q yêu cầu chị V đưa tiền mặt cho Q, rồi Q chuyển vào tài khoản ngân hàng V2 số 1025804209 của chị V số tiền 300.000.000 đồng để chị V chuyển vào tài khoản Công ty. Tuy nhiên, sau khi kiểm tra, chị V thấy quỹ tồn còn ít nên đã chuyển trả lại cho Q 50.000.000 đồng và đưa 250.000.000 đồng tiền mặt cho Q. Ngày hôm sau Q đã nộp lại số tiền 250.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng B số 54010000693619 của mình rồi đánh bạc qua mạng và tiêu xài cá nhân. Đến ngày 03/01/2024, Q bỏ việc, tắt máy điện thoại, trốn vào thành phố Hồ Chí Minh để trốn tránh việc trả lại tiền cho Công ty T2.

Cáo trạng số: 22/CT-VKS-TP ngày 15 tháng 6 năm 2025 của VKSND huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, truy tố bị cáo Trần Lê Nhật Q về tội “Tham ô tài sản”, quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 353 của BLHS.

Tại phiên toà, đại diện VKSND huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c, d Khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, BLHS, khoản 1 Điều 54 BLHS đề nghị xử phạt Trần Lê Nhật Q từ 3 (ba) năm đến 3 (ba) năm 6 (sáu) tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

Bị cáo Trần Lê Nhật Q là kế toán trưởng của Công ty Đ1 theo hợp đồng lao động được ký kết giữa Công ty Đ1 với bị cáo Trần Lê Nhật Q ngày 26/01/2023.

Theo quy định tại Điều 26 quy chế tổ chức hoạt động của Tổng giám đốc và các phòng ban giúp việc của Công ty Đ1 thể hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Phòng Tài chính – kế toán như sau:

“Biên chế gồm: 01 Trưởng phòng Tài chính – kế toán kiêm kế toán trưởng, nhân viên kế toán, nhân viên thủ quỹ. Kế toán trưởng là người đứng đầu và phụ trách phòng Tài chính- kế toán.

Chức năng, nhiệm vụ của phòng Tài chính – kế toán: ....Giúp hội đồng thành viên và Tổng giám đốc Công ty trong việc chấp hành các quy định về tài chính, tín dụng, chế độ kế toán của Nhà nước cũng như của Công ty; ...Kiểm soát hoạt động tài chính của các đơn vị trực thuộc Công ty theo đúng quy định của Nhà nước và phân cấp quản lý của Công ty; ...Lập kế hoạch phát triển, quản lý và sử dụng vốn, tài sản, quỹ đất...các tài sản khác thuộc quyền quản lý của công ty; Trực tiếp quản lý quỹ, két thuộc cơ quan Công ty...”.

Tại Điều 53 Luật kế toán quy định: “Kế toán trưởng là người đứng đầu bộ máy kế toán của đơn vị có nhiệm vụ tổ chức thực hiện công tác kế toán trong đơn vị kế toán”.

Như vậy, bị cáo Trần Lê Nhật Q là người đứng đầu bộ máy kế toán của Công ty Đ1, chịu trách nhiệm về hoạt động tài chính – kế toán của Công ty. Trong thời gian giữ chức kế toán trưởng của Công ty Đ1, bị cáo Trần Lê Nhật Q đã có hành vi chiếm đoạt tiền của Công ty Đ1 cụ thể:

- Về hành vi chiếm đoạt số tiền 15.950.000 đồng: Ngày 27/12/2023, bị cáo Q yêu cầu chị Nguyễn Thị Hồng V là Thủ quỹ của Công ty Đ1 chi số tiền 15.950.000 đồng với lý do Công ty có chủ trương mua rượu tiếp khách. Căn cứ vào quy chế hoạt động của Công ty Đ1 thì chị Nguyễn Thị Hồng V – thủ quỹ Công ty là nhân viên cấp dưới do bị cáo Q trực tiếp quản lý, điều hành. Do đó, khi bị cáo Q yêu cầu chị V lấy tiền của Công ty chi số tiền 15.950.000 đồng thì chị V phải thực hiện theo yêu cầu của bị cáo Q. Như vậy, bị cáo Q đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý.

- Về hành vi chiếm đoạt tài sản số tiền 400.000.000 đồng: Do có nhu cầu muốn nhận xe trước thời điểm ngân hàng giải ngân nên anh Lê Đức H2, giám đốc Công ty T2 trao đổi và được sự đồng ý của anh Trần Tuấn A - Giám đốc Công ty Đ1 là Công ty T2 sẽ nộp số tiền 400.000.000 đồng vào Công ty Đ1 thông qua tài khoản của bị cáo Q thì Công ty Đ1 sẽ giao xe. Sau khi trao đổi xong, Giám đốc Công ty Đ1 yêu cầu Q- Kế toán trưởng đưa tài khoản cá nhân của Q để Công ty T2 chuyển số tiền 400.000.000 đồng và sau khi nhận được số tiền này thì Công ty T2 đã nhận được xe. Sau khi nhận được số tiền của Công ty T2 thì Q chiếm đoạt. Như vậy, bị cáo Q nhận thức rõ số tiền 400.00.000 đồng chuyển vào tài khoản của mình là số tiền của Công ty Đ1 và bị cáo Q được giám đốc Công ty giao quản lý nhưng bị cáo Q đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý.

Vì vậy, VKSND huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Trần Lê Nhật Q về tội “Tham ô tài sản”, quy định tại điểm c,d khoản 2 Điều 353 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội; đã chủ động bồi thường thiệt hại cho bị hại; người bị hại có đơn xin xem xét giám nhẹ hình sự. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Thành khẩn khai báo” tại điểm b, s khoản 1,2 Điều 51 BLHS.

[4]. Xét tính chất mức độ hành vi của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của tổ chức, làm suy giảm niềm tin vào sự hoạt động quản lý tài chính nội bộ doanh nghiệp, gây ảnh hưởng xấu đến uy tín của Công ty Đ1 trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và quan hệ với khách hàng.

Tuy nhiên, thấy rằng hành vi của bị cáo có tính chất đơn giản, bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 bộ luật hình sự, bị cáo có thân nhân tốt. Vì vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS để quyết định một mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng cũng đủ giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trần Lê Nhật Q đã bồi thường số tiền 415.950.000 đồng đã chiếm đoạt cho Công ty Đ1. Nay, Công ty Đ1 không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn: Thời gian tạm giam theo Lệnh tạm giam số: 08/2025/HSST-QĐTG ngày 23/6/2025 đối với bị cáo Trần Lê Nhật Q tính đến ngày 25/6/2025 còn lại dưới 45 ngày nên HĐXX ban hành Quyết định tạm giam đối với bị cáo.

[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Đối với hành vi của cá nhân, tổ chức khác: Ngày 29/12/2023, anh Trần Tuấn A chỉ đạo chuyển số tiền 400.000.000 đồng của Công ty T2 nộp bảo lĩnh lấy xe ô tô Toyota Raize vào tài khoản ngân hàng B số 54010000693619 của Trần Lê Nhật Q để được nhận xe, mà không chuyển vào tài khoản Công ty là sai về quy trình quản lý tài chính của công ty, dẫn đến Q đã chiếm đoạt số tiền này.

Toà án đã trả hồ sơ, yêu cầu làm rõ trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật nhưng VKSND huyện Triệu Phong vẫn giữ nguyên truy tố. Do giới hạn của việc xét xử quy định tại Điều 298 BLTTHS, Toà án xét xử những hành vi theo tội danh mà VKSND huyện Triệu Phong đã truy tố. Hội đồng xét xử kiến nghị VKSND tỉnh Quảng Trị và TAND cấp trên xem xét lại việc không xem xét hành vi thiếu trách nhiệm gây thiệt hại số tiền 400.000.0000 đồng của ông Trần Tuấn A – Giám đốc Công ty để đảm bảo đúng pháp luật và rút kinh nghiệm cho hoạt động điều tra, truy tố.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Lê Nhật Q phạm tội “Tham ô tài sản”, quy định Điều 353 của BLHS.
    • - Áp dụng điểm c, d khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1,2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Trần Lê Nhật Q 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 30/7/2024.
  2. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử: bị cáo Trần Lê Nhật Q phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  3. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền và nghĩa vụ có liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền và nghĩa vụ có liên quan vắng mặt tại phiên toà quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND huyện Tr.Phong;
  • - Công an huyện Tr.Phong;
  • - Chi cục THADS huyện Tr.Phong;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Trị;
  • - Bị cáo;
  • - Người TGTT;
  • - Lưu: Hồ sơ, Tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Đình Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HS-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU PHONG, TỈNH QUẢNG TRỊ về tham ô tài sản

  • Số bản án: 20/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU PHONG, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Lê Nhật Quang phạm tội “Tham ô tài sản”
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger