|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 20/2025/HS-ST Ngày 24/11/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - PHÚ THỌ
— Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Anh Xuân Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Mạnh Sơn, ông Dương Minh Tư
Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hà Giang – Thư ký viên Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 11 năm 2025 tại Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo:
-
Bùi Như H; sinh ngày 02/4/1992 tại C, Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu T, xã C, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 09/12; Con ông: Bùi Xuân L và bà: Tạ Thị M; Có vợ: Đỗ Thị Út G và 03 con (con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2024); Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại Bản án số 47/2010/HSST ngày 29/10/2010 của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ xử phạt Bùi Như H 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, buộc bồi thường cho các bị hại 7.890.000đồng và phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm, 394.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bùi Như H đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2012, chấp hành xong án phí tháng 12/2010. Đối với khoản bồi thường cho các bị hại, đã hết thời hạn 05 năm nhưng các bị hại không có đơn yêu cầu thi hành án đối với Bùi Như H.
Bị bắt tạm giữ từ ngày 06/8/2025 đến ngày 12/8/2025. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/8/2025 đến khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm. Bị cáo tại ngoại; (có mặt).
-
Hoàng Xuân C; sinh ngày 20/12/1993 tại C, Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu T, xã C, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12; Con ông: Hoàng Xuân T (đã chết) và bà: Hà Thị T1; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị bắt tạm giữ từ ngày 06/8/2025 đến ngày 12/8/2025. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/8/2025 đến khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm. Bị cáo tại ngoại; (có mặt).
-
Vũ Kim C1; sinh ngày 02/8/2003 tại C, Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu V, xã C, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12; Con ông: Vũ Đức Q và bà: Nguyễn Thu H1; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị bắt tạm giữ từ ngày 06/8/2025 đến ngày 12/8/2025. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/8/2025 đến khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm. Bị cáo tại ngoại; (có mặt).
-
Vũ Việt H2; sinh ngày 01/8/1995 tại C, Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu Đ, xã C, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12; Con ông: Vũ Văn S và bà: Nguyễn Thị P; Có vợ: Vũ Thị Thúy H3 và 02 con (con lớn sinh năm 2023, con nhỏ sinh năm 2024); Tiền án, tiền sự: Không;
Bị bắt tạm giữ từ ngày 06/8/2025 đến ngày 12/8/2025. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/8/2025 đến khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm. Bị cáo tại ngoại; (có mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Hà Xuân T2, sinh năm 1988; Địa chỉ: Khu V, xã C, tỉnh Phú Thọ; (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 06/8/2025, Vũ Việt H2, Hoàng Xuân C, Bùi Như H, Vũ Kim C1 đến quán bi-a của anh Hà Xuân T2 ở khu V, xã C, tỉnh Phú Thọ để chơi bi-a. Tại đây, các đối tượng cùng rủ nhau đánh bạc dưới hình thức đánh “liêng” sát phạt nhau bằng tiền tại phòng bi-a của quán (phòng 01, hướng bên phải từ ngoài vào). Thống nhất góp gà (đặt cược) 20.000 đồng/1 ván, tố (cược thêm) cao nhất không quá 500.000 đồng. Không thống nhất về việc thu nộp tiền hồ (tiền thuê địa điểm đánh bạc) và không có ai thu tiền hồ của các đối tượng. Tất cả đều đồng ý, không rõ ai là người khởi xướng, rủ rê đối tượng khác đánh bạc. C1 là người lấy bộ bài tú lơ khơ 52 quân có sẵn ở bàn bi-a và là người chia bài ván đầu tiên. Các đối tượng ngồi đánh bạc tại nền gạch trong phòng theo hình vòng tròn, bên phải H2 lần lượt là C, C1, H (H ngồi bên trái H2).
Hình thức đánh “liêng” như sau: Người chia bài sử dụng bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài chia cho mỗi người chơi 03 quân bài. Sau khi lên bài người chơi sẽ được chọn tổ, theo hoặc bỏ bài, nếu ai không theo sẽ mất số tiền góp gà. Sau đó những người chơi còn lại (trừ những người không theo tiếp ván bài đó) sẽ so bài theo thứ tự từ cao xuống thấp là sáp (ba quân bài có số thứ tự giống nhau), liêng (ba quân bài có số thứ tự liền kề nhau). Nếu không ai sáp hoặc liêng thì tiến hành cộng điểm: 9 điểm là cao nhất, 0 điểm là thấp nhất. Q1 “A” đến quân “9” tương ứng 1 điểm đến 9 điểm, quân 10, J, Q, K tính là 0 điểm. Nếu bằng điểm nhau thì so theo chất theo thứ tự từ cao xuống thấp là Rô, C2, T3, B. Người có điểm cao nhất là người thắng bạc và thắng toàn bộ số tiền đã đặt cược. Người thắng bạc là người chia bài ván tiếp theo.
Khi đánh bạc, H2 có 2.000.000 đồng, C1 có 2.300.000 đồng, C có 2.800.000 đồng, H có 3.800.000 đồng. Các đối tượng sử dụng toàn bộ số tiền trên vào mục đích đánh bạc. Như vậy, tổng số tiền các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc là 10.900.000 đồng (mười triệu chín trăm nghìn đồng).
Các đối tượng đánh bạc liên tục đến khoảng 15 giờ 40 phút cùng ngày thì bị Công an xã C, tỉnh Phú Thọ bắt quả tang. Vật chứng thu giữ: 52 quân bài tú lơ khơ, số tiền 10.900.000 đồng (mười triệu chín trăm nghìn đồng).
Tại bản Cáo trạng số: 02/CT-VKSKV6-HS ngày 23/10/2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Phú Thọ truy tố các bị cáo Bùi Như H, Hoàng Xuân C, Vũ Kim C1, Vũ Việt H2 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Bùi Như H, Hoàng Xuân C, Vũ Kim C1, Vũ Việt H2 phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Bùi Như H.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Hoàng Xuân C, Vũ Kim C1, Vũ Việt H2.
Xử phạt bị cáo Bùi Như H từ 15 đến 18 tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 06 ngày tạm giữ (từ ngày 06/8/2025 đến ngày 12/8/2025), quy đổi thành 18 ngày cải tạo không giam giữ, bị cáo H còn phải chấp hành từ 14 tháng 12 ngày đến 17 tháng 12 ngày cải tạo không giam giữ. Thời điểm chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh P nhận được Bản án và Quyết định thi hành án. Giao bị cáo cho UBND xã C, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục; gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Cơ quan thi hành án hình sự trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Khấu trừ thu nhập của bị cáo Bùi Như H số tiền là 250.000đ/1 tháng để sung vào ngân sách nhà nước; việc khấu trừ được thực hiện hằng tháng trong thời gian bị cáo chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
Trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Bùi Như H.
Xử phạt bị cáo Hoàng Xuân C và bị cáo Vũ Kim C1 mỗi bị cáo số tiền từ 25.000.000đ đến 28.000.000đ để sung vào ngân sách nhà nước.
Xử phạt bị cáo Vũ Việt H2 số tiền từ 23.000.000đ đến 25.000.000đ để sung vào ngân sách nhà nước
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo Hoàng Xuân C, Vũ Kim C1, Vũ Việt H2.
Về xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền: 10.900.000đ (mười triệu chín trăm nghìn đồng).
Tịch thu tiêu hủy: 52 quân bài tú lơ khơ đã cũ.
Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
* Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thể hiện sự ăn năn hối cải và đề nghị được áp dụng mức hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1. Về tố tụng:
[1.1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh P, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Phú Thọ; Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.2] Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Hà Xuân T2 đã được Toà án triệu tập tham gia tố tụng, nhưng vắng mặt không có lý do. Tại phiên toà bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị xét xử vắng mặt họ. Xét thấy người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã có lời khai trong hồ sơ và việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án nên căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng nêu trên là phù hợp.
2. Về nội dung vụ án:
[2.1] Căn cứ kết tội và hình phạt:
* Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Bùi Như H, Hoàng Xuân C, Vũ Kim C1, Vũ Việt H2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã công bố, thừa nhận nội dung cáo trạng truy tố là đúng, không oan, sai. Lời khai nhận tội giữa các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Do đó đã đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ 00 phút đến 15 giờ 40 phút ngày 06/8/2025, tại quán bi-a của Hà Xuân T2 ở khu V, xã C, tỉnh Phú Thọ, các bị cáo Bùi Như H, Hoàng Xuân C, Vũ Kim C1, Vũ Việt H2 có hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh “liêng” được thua bằng tiền với tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 10.900.000đồng. Do vậy, Bùi Như H, Hoàng Xuân C, Vũ Kim C1, Vũ Việt H2 phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Khoản 1 Điều 321 – Bộ luật Hình sự quy định.
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”
* Xét về tính chất vụ án: Tính chất vụ án thuộc tội phạm ít nghiêm trọng. Hành vi đánh bạc của các bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp đã gây mất trật tự trị an ở địa phương, ảnh hưởng đến sự ổn định kinh tế gia đình, là nguồn gốc phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác. Động cơ phạm tội của các bị cáo là sát phạt nhau, tư lợi và thu lời bất chính. Vụ án có đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn bởi lẽ: khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đều không có sự chuẩn bị, bàn bạc phân công cụ thể trước khi phạm tội, số tiền đánh bạc không lớn. Vì vậy cần xử phạt các bị cáo nghiêm minh, tương xứng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
* Xét vai trò, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy rằng:
Trong vụ án này, Bùi Như H, Hoàng Xuân C, Vũ Kim C1, Vũ Việt H2 đều là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, nên vai trò là người thực hành trong vụ án. Vụ án thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, không rõ ai là người rủ rê đánh bạc ban đầu. Tội phạm xảy ra mang tính bột phát, không có tính tổ chức.
Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Các bị cáo Hoàng Xuân C, Vũ Kim C1, Vũ Việt H2 đều là những người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Riêng bị cáo Bùi Như H đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng đã được xóa án tích. Căn cứ điểm a khoản 9 Điều 2 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì Bùi Như H được xác định là “Phạm tội lần đầu”. Bị cáo Bùi Như H có 03 con nhỏ đều dưới 15 tuổi, trong đó có 01 con bị khuyết tật “Trí tuệ - Tâm thần”, vợ bị cáo hiện không có việc làm, gia đình khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận.
Như vậy, các bị cáo Bùi Như H, Hoàng Xuân C, Vũ Kim C1, Vũ Việt H2 đều được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm i, điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo Bùi Như H được áp dụng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự theo hướng dẫn tại khoản 9 Điều 3 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
* Về hình phạt:
Từ những phân tích nêu trên xét thấy chỉ cần áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo Hoàng Xuân C, Vũ Kim C1, Vũ Việt H2 cũng đủ để các bị cáo lấy đó làm bài học cho bản thân, sống có ích cho gia đình và xã hội. Riêng bị cáo Bùi Như H trước đó đã bị kết án, đã được xóa án tích; mặc dù bị cáo được xác định là “Phạm tội lần đầu”, nhưng cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ dưới sự giám sát giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình để bị cáo cải tạo trở thành người công dân tốt.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật hình sự thì bị cáo Bùi Như H bị phạt cải tạo không giam giữ còn phải bị khấu trừ một khoản thu nhập từ 5% đến 20% để sung công quỹ nhà nước. Qua xác minh trong quá trình điều tra và bị cáo H đã khai nhận tại phiên tòa thì bị cáo H làm lao động tự do, bị cáo có mức thu nhập bình quân tại thời điểm hiện nay là 5.000.000đ/tháng, bị cáo có tuổi đời còn trẻ, có sức khỏe đang trong độ tuổi lao động, do đó cần phải thực hiện khấu trừ thu nhập của bị cáo H 5%/tháng theo mức thu nhập bình quân của bị cáo nêu trên là phù hợp.
[2.2] Về hình phạt bổ sung theo quy định tại Khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự: Đối với các bị cáo Hoàng Xuân C, Vũ Kim C1, Vũ Việt H2 do hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Bị cáo Bùi Như H là lao động tự do nhưng hiện nay đang phải nuôi 03 con dưới 15 tuổi, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[2.3] Về xử lý vật chứng:
Đối với số tiền 10.900.000đ (mười triệu chín trăm nghìn đồng) thu trên chiếu bạc, các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Đối với 52 quân bài tú lơ khơ là vật chứng vụ án, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[2.4] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
3. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Phú Thọ là phù hợp nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Hoàng Xuân C, Vũ Kim C1, Vũ Việt H2.
Căn cứ Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Bùi Như H.
Căn cứ: Điều 331, Điều 333 - Bộ luật tố tụng Hình sự.
Tuyên bố: Các bị cáo Bùi Như H, Hoàng Xuân C, Vũ Kim C1, Vũ Việt H2 phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Bùi Như H 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ, được khấu trừ 6 (sáu) ngày bị tạm giữ (từ ngày 06/8/2025 đến ngày 12/8/2025) quy đổi thành 18 (mười tám) ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo H còn phải chấp hành 14 (mười bốn) tháng 12 (mười hai) ngày cải tạo không giam giữ. Thời điểm chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh P nhận được Quyết định thi hành án. Giao bị cáo Bùi Như H cho UBND xã C, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục; gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Cơ quan thi hành án hình sự trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Khấu trừ thu nhập của bị cáo Bùi Như H số tiền là 250.000đ/1 tháng để sung vào ngân sách nhà nước; việc khấu trừ được thực hiện hằng tháng trong thời gian bị cáo chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
Trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Bùi Như H.
Bị cáo Bùi Như H phải thực hiện nghĩa vụ của người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ; trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
Xử phạt các bị cáo Hoàng Xuân C, Vũ Kim C1 mỗi bị cáo số tiền 28.000.000đ (hai mươi tám triệu đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.
Xử phạt bị cáo Vũ Việt H2 số tiền 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo Hoàng Xuân C, Vũ Kim C1, Vũ Việt H2.
Xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ Điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự ; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền: 10.900.000đ (mười triệu chín trăm nghìn đồng).
Tịch thu tiêu hủy: 52 (năm mươi hai) quân bài tú lơ khơ, đã cũ.
Vật chứng là đồ vật đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra bàn giao cho Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28/10/2025. Vật chứng là tiền đã được chuyển đến tài khoản tạm giữ của Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ, số tài khoản 3949.0.1054134.00000 tại Kho bạc Nhà nước Khu vực V (Mã đơn vị QHNS: 1054143, mã KBNN: 1261) theo chứng từ Ủy nhiệm chi số 16 ngày 28/10/2025 của Công an tỉnh P.
Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Bùi Như H, Hoàng Xuân C, Vũ Kim C1, Vũ Việt H2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định; để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lê Anh Xuân Ngọc |
Bản án số 20/2025/HS-ST ngày 24/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – PHÚ THỌ về hình sự sơ thẩm (đánh bạc)
- Số bản án: 20/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Như H và đồng phạm “Đánh bạc”
