|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÙ CANG CHẢI TỈNH YÊN BÁI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 20/2025/HS-ST Ngày 22-05-2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÙ CANG CHẢI, TỈNH YÊN BÁÍ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Tòng Văn Quân.
Các Hội thẩm thân dân: Ông Sùng A Xà.
Bà Bùi Minh Nguyệt.
- Thư ký phiên toà: Ông Lý A Dà- Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải tham gia phiên toà: Ông Giàng A Sinh- Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2025/TLST- HS ngày 22 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2025/QĐXXST- HS ngày 08 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Giàng A D - sinh ngày 01 tháng 01 năm 1982, tại huyện M, tỉnh Yên Bái; nơi cư trú: Bản X, xã L, huyện M, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Giàng A C, sinh năm 1969 và bà Giàng Thị M, sinh năm 1969; có vợ là Cứ Thị S và 05 con (con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2016); tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/10/2024. Hiện đang tạm giam tại trại Tạm giam Công an tỉnh Y. Có mặt.
2. Cứ Thị Sông- sinh ngày 01 tháng 01 năm 1979, tại huyện M, tỉnh Yên Bái; nơi cư trú: Bản X, xã L, huyện M, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cứ A C1, sinh năm 1966 và bà Lù Thị S1, sinh năm 1968; có chồng là Giàng A D và 05 con (con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2016); tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/10/2024. Hiện đang tạm giam tại trại Tạm giam Công an tỉnh Y. Có mặt.
- Người bào chữa cho các bị cáo: Ông Nguyễn Đức D1- Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Y. Có mặt.
- Người làm chứng:
+ Anh Giàng A S2, sinh năm 1969; Trú tại: Bản H, xã L, huyện M, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.
+ Anh Giàng A L, sinh năm 2000; Trú tại: Bản C, xã L, huyện M, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.
- Người phiên dịch: Ông Thào A D2, sinh năm 1979; trú tại: Tổ E, thị trấn M, huyện M, tỉnh Yên Bái. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại khu vực đường dân sinh thuộc bản Xéo Dì H, xã L, Giàng A D gặp và mua 22 gói Heroine đều được gói bằng nilon màu xanh, đựng trong một lọ nhựa màu trắng có nắp đậy với số tiền 800.000 đồng của một người đàn ông, dân tộc Mông, khoảng 40 tuổi, không quen biết mang về nhà cất giấu với mục đích để bán kiếm lời, khi về nhà D có nói cho vợ là Cứ Thị S biết việc này. Sau đó D cất giấu 03 gói Heroine trên giường ngủ và 04 Heroine vào trong bao tải treo trên tường trong buồng ngủ; còn 15 gói Heroine Dì cất vào 01 lọ nhựa màu trắng có nắp đậy cất giấu trong người. Dì đã bán 03 lần, cụ thể:
Lần 1: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 01/10/2024, Giàng A D và Cứ Thị S bán cho Giàng A S2 01 gói Heroine với giá 50.000 đồng
Lần 2: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 02/10/2024, Giàng A D bán cho Giàng A L 01 gói He roine với giá 50.000 đồng.
Lần 3: Khoảng 18 giờ ngày 02/10/2024, Giàng A D và Cứ Thị S bán cho Giàng A S2 02 gói Heroine với giá 100.000 đồng.
Hồi 19 giờ 30 phút ngày 02/10/2024, tổ công tác Công an huyện M phối hợp với Công an xã L, huyện M, tỉnh Yên Bái làm nhiệm vụ tại bản xéo Dì H, xã L phát hiện, bắt quả tang Cứ Thị S và Giàng A D về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thu giữ của Giàng A D 03 gói nilon màu xanh, đều hàn kín một đầu, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột nén màu trắng; thu giữ của Cứ Thị Sông: 01 lọ nhựa màu trắng có nắp đậy, bên trong có 11 gói bằng nilon màu xanh, đều hàn kín một đầu, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột nén màu trắng; 01 diện thoại di động màu xanh, nhãn hiệu Redmi, cũ đã qua sử dụng. Cứ Thị S khai nhận các gói chất bột nén màu trắng thu giữ trên đều là ma túy do chồng là Giàng A D đưa cho để bán kiếm lời.
Cùng ngày, Cơ quan điều tra Công an huyện M, tỉnh Yên Bái tiến hành khám xét khẩn cấp, chỗ ở, đồ vật đối với Giàng A D và Cứ Thị S tại bản Xéo Dì H, xã L, huyện M, tỉnh Yên Bái. Quá trình khám xét phát hiện, thu giữ trong bao tải màu đỏ trong buồng ngủ của Cứ Thị S 01 gói nilon màu xanh, bên trong có 04 gói nilon màu xanh, đều hàn kín một đầu, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột nén màu trắng; thu giữ trong bao tải nhiều màu sắc trong buồng ngủ của Cứ Thị S, tiền có chữ Ngân hàng N: 368.000 đồng; thu giữ dưới chiếu trên giường ngủ của Cứ Thị S tiền Ngân hàng N: 370.000 đồng gồm nhiều tờ tiền mệnh giá khác nhau.
* Tại bản Kết luận giám định số: 611/KL-KTHS ngày 09 tháng 10 năm 2024 của phòng K Công an tỉnh Y kết luận:
- Chất bột nén màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Cứ Thị S có tổng khối lượng là: 0,48 gam
- - 0,08 gam trích từ 0,48 gam chất bột nén màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine;
- Chất bột nén màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Giàng A D có tổng khối lượng là: 0,13 gam
- - 0,08 gam trích từ 0,13 gam chất bột nén màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine;
- Chất bột nén màu trắng thu giữ khi khám xét đối với Cứ Thị S có khối lượng là: 0,16 gam
- - 0,08 gam trích từ 0,16 gam chất bột nén màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine.
* Bản Kết luận giám định số: 615/KL-KTHS ngày 09 tháng 10 năm 2024 của phòng K Công an tỉnh Y kết luận:
- - Số tiền: 738.000 đồng gồm nhiều tờ tiền Việt Nam mệnh giá khác nhau gửi giám định đều là tiền thật.
Bản Cáo trạng số: 22/CT- VKS- MCC ngày 22 tháng 4 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải truy tố Giàng A D và Cứ Thị S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa: Kiểm sát viên trình bày lời luận tội đã phân tích, đánh giá hành vi của các bị cáo trong quá trình thực hiện tội phạm và giữ nguyên quan điểm truy tố:
- - Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự,
- Xử phạt bị cáo Giàng A D từ 08 năm tháng đến 08 năm 06 tháng tù.
- Xử phạt bị cáo Cứ Thị S từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo; do các bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn, đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng là ma túy; 04 vỏ phong bì đã mở niêm phong; 01 lọ nhựa màu trắng, các mảnh nilon gói, giấy gói.
- - Tiền Ngân hàng N 738.000 đồng ((Trong đó: 200.000 đồng là tiền phạm tội mà có, cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước; số tiền còn lại 538.000 đồng là tiền thu nhập hợp pháp của các bị cáo cần trả lại cho các bị cáo).
- Trả cho bị cáo Cứ Thị S: 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng màu xanh, mặt sau có ký hiệu Redmi, đã qua sử dụng.
Người bào chữa trình bày lời bào chữa nhất trí với tội danh và điều khoản truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các bị cáo là dân tộc thiểu số, không biết chữ, nhận thức pháp luật còn hạn chế; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo; T khai ra hành vi phạm tội khác của bản thân khi chưa bị phát hiện theo điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51 Điều 17, Điều 38 và Điều 54 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt các bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Các bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không có ý kiến bổ sung. Khi được nói lời sau cùng, các bị cáo đề nghị được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện M, Cơ quan điều tra Công an tỉnh Y, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải, Kiểm sát viên; trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa các thành viên của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thủ tục tố tụng tại phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2]. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với biên bản thu giữ vật chứng, phù hợp với kết luận giám định, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Ngày 26/9/2024 Giàng A D mua 01 lượng Heroine với giá 800.000 đồng của một người đàn ông, dân tộc Mông, khoảng 40 tuổi, không quen biết mang về cất giấu mục đích để bán kiếm lời. Khi về nhà D có nói cho vợ là Cứ Thị S biết việc mua ma tuý để bán kiếm lời. Dì và S đã bán 03 lần, cụ thể:
Lần 1: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 01/10/2024, Giàng A D và Cứ Thị S bán cho Giàng A S2 01 gói Heroine với giá 50.000 đồng.
Lần 2: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 02/10/2024, Giàng A D bán cho Giàng A L 01 gói He roine với giá 50.000 đồng.
Lần 3: Khoảng 18 giờ ngày 02/10/2024, Giàng A D và Cứ Thị S bán cho Giàng A S2 02 gói Heroine với giá 100.000 đồng.
Số Heroine còn lại là 0,77 gam cất giấu với mục đích bán kiếm lời thì phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo Giàng A D và Cứ Thị S đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
[3]. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, các bị cáo nhận thức được việc “Mua bán trái phép chất ma túy” là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của các bị cáo không những xâm phạm quy định của Nhà nước về phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh phòng, chống tệ nạn ma tuý, mà còn làm gia tăng tệ nạn nghiện ma tuý, là nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh các loại tội phạm khác trên địa bàn, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
[4]. Xét đây là vụ án đồng phạm có tính chất giản đơn, trong đó bị cáo Giàng A D là người khởi xướng, chủ mưu thực hiện hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” nên giữ vai trò chính. Đối với bị cáo Cứ Thị S là người bị rủ rê, tham gia với vai trò giúp sức.
[5]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng; Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo; T khai ra hành vi phạm tội khác của bản thân khi chưa bị phát hiện theo điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; được Hội đồng xét xử áp dụng khi quyết định hình phạt.
[6]. Về nhân thân: Các bị cáo Giàng A D và Cứ Thị S là dân tộc thiểu số, không biết chữ, hiểu biết xã hội còn hạn chế, chưa có tiền án, tiền sự ngoài lần phạm tội này các bị cáo luôn chấp hành chính sách pháp luật của Nhà nước, thể hiện các bị cáo là người có nhân thân tốt.
[7]. Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, mới có tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời cũng đảm bảo răn đe, phòng ngừa chung.
[8]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình của các bị cáo khó khăn, không có khả năng, điều kiện thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[9]. Các vấn đề khác liên quan đến vụ án:
- - Đối với khối lượng ma túy bị cáo D và S đã bán cho Giàng A L và Giàng A S2 vào ngày 01 và 02/10/2024, do L và S2 đã sử dụng hết, khi mua bán D và S không cân để xác định thực tế khối lượng nên không đủ căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự đối với L và S2 về hành vi này.
- Đối với Giàng A L và Giàng A S2 đều là người nghiện ma túy, đã đến nhà Giàng A D mua ma túy để sử dụng cho bản thân, Cơ quan điều tra đã chuyển tài liệu đến Công an huyện M, tỉnh Yên Bái ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ là phù hợp.
- Đối với người đàn ông bán ma túy cho Giàng A D, quá trình điều tra bị cáo khai nhận không biết tên, địa chỉ, đặc điểm nhận dạng của người này nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xác minh, điều tra làm rõ.
[10]. Về xử lý vật chứng:
- - Khối lượng Heroine còn lại là: 0,4 gam được cho vào một túi nilon màu trắng ghi số 1.
- - Khối lượng Heroine còn lại là 0,05 gam được cho vào 01 túi nilon màu trắng ghi số 2.
- - Khối lượng H còn lại là: 0,08 gam được cho vào một túi nilon màu trắng ghi số 3.
Ba túi nilon màu trắng được ghi số 1, 2, 3 được niêm phong vào 01 phong bì do phòng K Công an tỉnh Y phát hành, mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang và khám xét đối với Giàng A D – SN : 1982 và Cứ Thị S – SN: 1979 tại bản Xéo Dì H, xã L, huyện M, tỉnh Yên Bái ngày 02/10/2024” (sau khi trích mẫu giám định). Là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu huỷ.
- - 04 vỏ phong bì đã mở niêm phong; 01 lọ nhựa màu trắng, các mảnh nilon gói, giấy gói. Không có giá thị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.
- - 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng màu xanh, mặt sau có ký hiệu Redmi, đã qua sử dụng. Là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến vụ án, cần trả lại cho bị cáo.
- - Tiền Ngân hàng N 738.000 đồng ((Trong đó: 200.000 đồng là tiền phạm tội mà có, cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước; số tiền còn lại 538.000 đồng là tiền thu nhập hợp pháp của các bị cáo cần trả lại cho các bị cáo).
[11]. Về án phí: Do các là đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.
[12]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 251của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố các bị cáo Giàng A D và Cứ Thị S phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".
1. Về hình phạt:
- - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Giàng A D 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 03/10/2024.
- - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Cứ Thị S 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 03/10/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu huỷ:
- Khối lượng Heroine còn lại là: 0,4 gam được cho vào một túi nilon màu trắng ghi số 1.
- Khối lượng Heroine còn lại là 0,05 gam được cho vào 01 túi nilon màu trắng ghi số 2.
- Khối lượng H còn lại là: 0,08 gam được cho vào một túi nilon màu trắng ghi số 3.
- Ba túi nilon màu trắng được ghi số 1, 2, 3 được niêm phong vào 01 phong bì do phòng K Công an tỉnh Y phát hành, mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang và khám xét đối với Giàng A D – SN : 1982 và Cứ Thị S – SN: 1979 tại bản Xéo Dì H, xã L, huyện M, tỉnh Yên Bái ngày 02/10/2024” (sau khi trích mẫu giám định); 04 vỏ phong bì đã mở niêm phong; 01 lọ nhựa màu trắng, các mảnh nilon gói, giấy gói.
- - Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
- - Trả cho bị cáo Cứ Thị S: 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng màu xanh, mặt sau có ký hiệu Redmi, đã qua sử dụng.
- - Trả lại cho các bị cáo Giàng A D và Cứ Thị S 538.000 đồng (Năm trăm ba mươi tám nghìn đồng).
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Các bị cáo Giàng A D và Cứ Thị S được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Tòng Văn Quân |
Bản án số 20/2025/HS-ST ngày 22/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÙ CANG CHẢI, TỈNH YÊN BÁI về mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 20/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÙ CANG CHẢI, TỈNH YÊN BÁI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 26/9/2024 Giàng A D mua 01 lượng Heroine với giá 800.000 đồng của một người đàn ông, dân tộc Mông, khoảng 40 tuổi, không quen biết mang về cất giấu mục đích để bán kiếm lời. Khi về nhà D có nói cho vợ là Cứ Thị S biết việc mua ma tuý để bán kiếm lời. Dì và S đã bán 03 lần, cụ thể: Lần 1: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 01/10/2024, Giàng A D và Cứ Thị S bán cho Giàng A S2 01 gói Heroine với giá 50.000 đồng. Lần 2: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 02/10/2024, Giàng A D bán cho Giàng A L 01 gói He roine với giá 50.000 đồng. Lần 3: Khoảng 18 giờ ngày 02/10/2024, Giàng A D và Cứ Thị S bán cho Giàng A S2 02 gói Heroine với giá 100.000 đồng. Số Heroine còn lại là 0,77 gam cất giấu với mục đích bán kiếm lời thì phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo Giàng A D và Cứ Thị S đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
