|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 20/2025/HS-ST Ngày 25-03-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Nhường.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Miện.
Ông Nguyễn Thành Loan.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triệu, Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang tham
gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2025/TLST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 03 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Đức V; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1984; Nơi cư trú: Xóm Đ, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe ô tô; Chức vụ: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Họ và tên cha: Nguyễn Đức V1 (đã chết); Họ và tên mẹ: Phạm Ngọc Lệ H, sinh năm 1963; Vợ: Đỗ Thị H1, sinh năm 1989. Con: Bị cáo có 03 con (con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2024); Gia đình có 02 anh em ruột, bị cáo là con thứ nhất.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
1. Cháu Đoàn Minh T, sinh ngày 10/10/2007. (Đã chết)
Nơi cư trú: Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang.
2. Cháu Nguyễn Hoàng S, sinh ngày 25/02/2007. (Đã chết)
Nơi cư trú: Tổ dân phố D, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
- Người đại diện hợp pháp của cháu Đoàn Minh T1:
1. Anh Đoàn Văn S1, sinh năm 1981. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Chị Mẫn Thị M, sinh năm 1982. Vắng mặt
Đều cư trú tại: Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang.
Nơi ở hiện nay: Tổ dân phố số B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
Chị Mẫn Thị M ủy quyền cho anh Đoàn Văn S1.
Người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Hoàng S:
1. Anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1976. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Chị Nguyễn Thị H3, sinh năm 1983. Vắng mặt
Đều cư trú tại: Tổ dân phố D, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
Chị Nguyễn Thị H3 ủy quyền cho anh Nguyễn Văn H2.
· Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Đỗ Thị H1, sinh năm 1989. Có mặt
Nơi cư trú: Xóm Đ, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.
2. Chị Nguyễn Thị Thu H4, sinh năm 2004. Vắng mặt
Nơi cư trú: Tổ dân phố D, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
- Người làm chứng:
1. Ông Hoàng Văn D, sinh năm 1963. Vắng mặt
2. Bà La Thị L, sinh năm 1968. Có mặt
Đều nơi cư trú: Thôn K, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.
3. Bà Dương Thị T2, sinh năm 1975. Vắng mặt
Nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 03/7/2024, bị cáo Nguyễn Đức V điều khiển xe ô tô 20C- 255.28 (Việt có giấy phép lái xe hạng C do Sở Giao thông vận tải tỉnh V cấp ngày 01 tháng 02 năm 2021) chở vợ chồng ông Hoàng Văn D và bà La Thị L đều trú tại thôn K, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên đi mua thu gom chuối của các hộ dân tại tỉnh Phú Thọ. Sau khi thu mua xong, V điều khiển xe ô tô chở chuối cùng vợ chồng ông D, bà L đi bán lẻ cho các cửa hàng ở tỉnh Vĩnh Phúc, huyện S, Hà Nội và Bắc Giang.
Đến khoảng 14 giờ 00 phút ngày 03/7/2024, V điều khiển xe ô tô 20C- 255.28 trên đường T theo hướng cầu V đi thị trấn T đi đến tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang phía trước cửa hàng bán hoa quả của gia đình bà Dương Thị T2 tiếp giáp mặt đường tỉnh 296 bên phải đường theo hướng di chuyển. Lúc này trời đang mưa cả V và vợ chồng ông D, bà L vẫn chưa ăn cơm trưa nên V đỗ xe ở rìa đường tỉnh lộ 296, chiếm một phần đường phía trước cửa hàng hoa quả của bà T2 rồi cùng ông D, bà L xuống xe ô tô, đi vào trong nhà bà T2 nhờ bà T2 pha mì tôm ăn đợi hết mưa thì tiếp tục đi bán chuối. Khi rời khỏi xe Việt tắt máy, đóng và khóa cửa xe ô tô, không có tín hiệu báo cho người điều khiển phương tiện khác biết xe đang đỗ và không đặt biển báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe để người điều khiển phương tiện khác biết. Đến khoảng 14 giờ 08 phút 25 giây, cháu Đoàn Minh T, sinh ngày 10/10/2007, trú tại thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang (hiện ở: Tổ dân phố số B, thị trấn T, huyện
H, tỉnh Bắc Giang) điều khiển xe mô tô biển số 98D1-999.57 chở bạn là Nguyễn Hoàng S, sinh ngày 25/02/2007, trú tại Tổ dân phố D, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang di chuyển theo hướng cầu V đi thị trấn T (cùng chiều hướng với xe ô tô của V đang đỗ). Do trời mưa tầm nhìn hạn chế, cháu T không chú ý quan sát thấy xe ô tô Việt đang đỗ nên cụm chi tiết nhựa đầu xe, đầu ốc cố định thanh kim loại tay lái với trục bánh xe và tay phanh, đầu tay nắm bên phải của xe mô tô của cháu T điều khiển đã va chạm vào cụm chi tiết kim loại phía sau bên trái thành thùng, bên trái thanh kim loại thành thùng và góc dưới bên trái thanh chắn thùng phía sau của xe ô tô Việt đang đỗ chiếm một phần đường. Hậu quả, cháu S tử vong tại chỗ; cháu T bị thương đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện nhưng do thương tích nặng đã tử vong vào khoảng 20 giờ cùng ngày 03/7/2024.
Ngày 06/7/2024, Nguyễn Đức V giao nộp: 01 Giấy phép lái xe số [...] ngày 01/02/2021 do Sở Giao thông vận tải tỉnh V cấp mang tên Nguyễn Đức V; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm sát 20C- 255.28 mang tên chủ xe Đỗ Thị H1; 01 Giấy chứng nhận kiểm định số 20002024 đối với xe ô tô biển kiểm sát 20C- 255.28; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô mang tên Đỗ Thị H1.
Ngày 03/7/2024, Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra nồng độ cồn, kiểm tra việc sử dụng chất ma túy đối với Nguyễn Đức V, kết quả đo nồng độ cồn 0.000mg/L, âm tính với ma túy.
1. Kết quả khám nghiệm hiện trường:
Hiện trường vụ tai nạn giao thông là tại đường T địa phận tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang mặt đường nhựa, đường thẳng, bằng phẳng, không có chướng ngại vật che khuất tầm nhìn. Lòng đường rộng 07m; hai bên mép đường có cống thoát nước mỗi bên rộng 0,90m; giữa đường có vạch kẻ sơn màu vàng nét đứt, loại vạch đơn báo hiệu phân chia các làn đường ngược chiều, xe được phép cắt qua để sử dụng làn ngược chiều từ cả hai phía.
Lấy chiều hướng từ trung tâm thị trấn T để xác định bên phải (P), bên trái (T) trong mô tả hiện trường.
Qua quan sát hiện trường thấy: Không có biển báo cấm dừng xe, cấm đỗ xe; không có biển báo khu vực đông dân cư.
Ghi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết:
- (1) là nạn nhân Nguyễn Hoàng S tử vong tại chỗ.
- (2) là xe mô tô 98D1-999.57.
- (3) là xe ô tô tải 20C-255.28.
- (4) dấu vết máu loang kích thước (1,80 x 0,70)m.
- (5) là dấu vết mảnh nhựa vỡ trên diện (7 x 2)m.
Xác định điểm mốc và một trong các mép đường nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn:
Lấy cột điện ký hiệu số nằm ngoài mép đường bên phải làm mốc định vị.
Lấy mép đường bên trái hướng đi từ trung tâm thị trấn T đi Cầu V2 làm chuẩn.
Mô tả theo số thứ tự vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết:
- (1): Ở trạng thái nằm ngửa trên phần đường bên phải, đầu (1) hướng ra mép phải đường, hai chân (1) hướng ra mép trái đường; mặc ngoài áo cộc tay màu đen trắng đỏ, quần đùi màu đen, quần áo ướt; mặc áo mưa màu tím trắng chùm kín vùng đầu, hở mặt, khoảng cách đo từ đỉnh đầu (1) đến mép trái đường là 4,9m và đo đến mốc định vị là 6,90m; khoảng cách đo từ giữa hai chân (1) đến mép trái đường là 3,45m.
- (2): Ở trạng thái đứng chếch và ở phần bên trái đường, đầu (2) hơi chếch hướng vào mép trái đường, đuôi (2) chếch hướng hướng đi Cầu Vát. Khoảng cách đo từ tâm trục bánh trước (2) đến mép đường (T) là 2,10 m và đo đến mốc định vị là 10,10m; khoảng cách đo từ tâm trục sau (2) đến mép đường (T) là 2,20m và đo đến mốc định vị là 9,40m, đo đến đầu trục bánh sau bên trái (3) là 0,45m.
- (3): Ở trạng thái dừng, đỗ sát mép trái đường, song song với mép trái đường, đầu (3) hướng đi trung tâm thị trấn T, đuôi (3) hướng đi Cầu Vát. Khoảng cách đo từ tâm trục bánh trước bên trái (3) đến mép đường (T) là 1,58m và đo đến mốc định vị là 11,60m. T3 trục bánh trước và trục bánh sau bên phải (3) trùng với mép đường (T) và một phần rãnh thoát nước bên trái.
- (4): Dạng chảy loang từ đầu (1) ra phần mép đường (P), điểm gần nhất (4) cách mép đường (T) là 4,90m.
- (5): Nằm rải rác giữa phần đường bên phải và bên trái, xung quanh vị trí của (1), (2), (3). Điểm gần nhất (5) cách mép đường (T) là 1,50m.
Phương tiện thu được:
Xe mô tô biển kiểm soát 98D1-999.57 và xe ô tô biển kiểm soát 20C- 255.28.
Kết quả khám nghiệm phương tiện:
- Khám xe ô tô biển kiểm soát 20C-255.28.
Đầu dưới chắn thùng sau bên trái bị hằn lõm, hướng từ sau về trước, phần mặt ngoài có dấu vết chùi sạch bụi đất trên diện (32x34)cm; phần góc khung sắt tương ứng bị hằn lõm hướng từ sau về trước, mặt ngoài bị bong tróc sơn trên diện (26x7)cm; phần khe hở với khung kim loại phía sau thùng xe găm kẹp các mảnh nhựa màu trắng không rõ hình.
Cụm chi tiết ốp kim loại đầu dưới bên trái phía sau thùng xe: Núm cao su phía sau, đầu ngoài có dấu vết chà sát cao su, găm kẹp mảnh nhựa màu đen trên diện (3,5x3,5)cm; đầu dưới bị đẩy cong, biến dạng hướng từ sau về trước; mặt ngoài phía sau bị chà sát kim loại có dấu hiệu đã han rỉ bám dính chất màu đen (nghi sơn) trên diện (8x6,2)cm, phần mặt ngoài phía sau còn lại có dấu vết chùi sạch bụi đất trên diện (16x15)cm; núm cao su bên trái bị chà sát phần đầu ngoài trên diện (3x2)cm, phần mặt ngoài tại vị trí tương ứng có dấu vết chùi sạch bụi đất trên diện (12x9)cm.
Khung kim loại đèn hậu phía sau bên trái bị đẩy cong hướng từ sau về trước, từ trái qua phải, phần đầu trên bên trái bị gãy kim loại.
Mặt ngoài phía sau và bên trái khung kim loại làm giá đỡ bình nước có dấu vết chà sát kim loại, chùi sạch bụi đất trên diện (44x16)cm.
Đầu dưới phía sau bên trái cánh cửa thùng xe bị hằn lõm, hướng từ trái qua phải.
Ốp nhựa đèn sườn phía sau cùng bên trái bị vỡ khuyết.
Chắn bùn phía sau bánh sau bên trái bị dập vỡ khuyết rách nhựa trên diện (25x25)cm.
- Khám xe mô tô biển kiểm soát 98D1-999.57.
Xe mô tô không có gương chiếu hậu hai bên.
Đầu ngoài tay nắm bên trái có dấu vết chà sát kim loại, bám dính chất bột màu trắng trên diện (2,1x1,7)cm.
Phía ngoài đầu tay nắm bên phải có dấu vết mài sát sơn trên diện (2,2x1,5)cm.
Tay phanh: Đầu tay phanh bị gãy khuyết kim loại; mặt trước phần còn lại có dấu vết chà sát kim loại trên diện (12,5x0,3)cm.
Cụm chi tiết nhựa: Ốp đồng hồ, ốp mặt nạ phía trước đầu xe bị vỡ khuyết nhựa.
Khung kim loại kết nối giữa trục bánh trước với khung tay nắm bị đẩy cong hướng từ trước về sau, từ dưới lên trên.
Khung kim loại thân xe bị đẩy cong hướng từ trước về sau, từ dưới lên trên (cong gập tại vị trí phía dưới giá kim loại phía trước yên xe, phía sau mặt đồng hồ).
Cánh yếm bên phải bị vỡ khuyết, chỉ còn lại một phần đầu trên.
Cánh yếm bên trái: Đầu dưới bật khỏi vị trí cố định, bị gẫy, vỡ tại nhiều vị trí.
Đầu ngoài để chân chính bên trái có dấu vết mài sát cao su trên diện (3,5x3)cm.
Đầu ngoài để chân phụ bên trái có dấu vết chà sát kim loại có dấu hiệu đã han rỉ trên diện (2,3x0,8)cm.
Chân phanh bị đẩy cong hướng từ trước về sau, phần mặt ngoài phía trước có dấu vết chà sát, chùi sạch bụi đất trên diện (17x1,5)cm.
Cụm chi tiết kim loại giữa hai khung kim loại tay nắm và ốc cố định kim loại liền kề phía trước có dấu vết hằn lõm, mài sát, khuyết kim loại trên diện (6x2)cm.
Ốp nhựa đèn xi nhan phía sau bên trái bị nứt vỡ, khuyết nhựa.
Tay nắm bên phải có dấu vết chà sát, rách khuyết cao su trên diện (18x3)cm.
Tại Kết luận giám định số 1687/KL-KTHS ngày 31/7/2024 của Phòng K-Công an tỉnh B, kết luận:
1. Dấu vết lõm, trượt xước kim loại, bám dính chất màu đen, hướng từ sau ra trước ở mặt ngoài cụm chi tiết kim loại phía sau bên trái thành thùng và bên trái thanh kim loại thành thùng của xe ô tô biển kiểm soát 29C-255.28 (ảnh 8, 9 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết vỡ khuyết cụm chi tiết ốp nhựa đầu xe và dấu vết lõm, trượt xước kim loại, hướng từ trước ra sau ở đầu ốc cố định thanh kim loại tay lái với trục lái của xe mô tô biển kiểm soát 98D1-999.57 (ảnh 9, 10, 18 bản ảnh khám phương tiện).
Dấu vết lõm, trượt xước kim loại, hướng từ sau ra trước ở góc dưới bên trái thanh chắn thùng phía sau của xe ô tô biển kiểm soát 20C-255.28 (ảnh 5 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết lõm kim loại, rách cao su, bám dính chất màu trắng ở mặt ngoài tay phanh và đầu tay nắm bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 98D1-999.57 (ảnh 8 bản ảnh khám phương tiện).
Dấu vết chùn cong, trượt xước kim loại, bám dính chất màu đen, hướng từ sau ra trước ở giá đỡ đèn tín hiệu phía sau bên trái và thanh kim loại giá đỡ bình nước của xe ô tô biển kiểm soát 20C-255.28 (ảnh 10, 11 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết chùn cong kim loại, hướng từ trước ra sau ở
đầu tay nắm bên phải và dấu vết vỡ khuyết cánh yếm bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 98D1-999.57 (ảnh 8, 13 bản ảnh khám phương tiện).
2. Hệ thống dấu vết mảnh nhựa vỡ trên mặt đường ký hiệu số 5 phù hợp với quá trình va chạm, các chi tiết nhựa trên xe ô tô biển kiểm soát 20C-255.28 và xe mô tô biển kiểm soát 98D1-999.57 gãy vỡ, rơi trên mặt đường tạo nên.
3. Xe mô tô biển kiểm soát 98D1-999.57 va chạm với xe ô tô biển kiểm soát 20C-255.28 trên mặt đường, tại góc thành thùng bên trái của xe ô tô và vị trí xe mô tô đổ trên mặt đường (trong diện dấu vết mảnh nhựa vỡ ký hiệu số 5), thuộc chiều phương tiện chuyển động bên trái theo hướng thị trấn T4 đi cầu V.
4. Căn cứ vào chiều hướng dấu vết va chạm trên hai phương tiện xác định, tại thời điểm xảy ra va chạm xe mô tô biển kiểm soát 98D1-999.57 chuyển động theo hướng cầu V đi thị trấn T4 va chạm với xe ô tô biển kiểm soát 20C-255.28 ở phía trước cùng chiều.
Không xác định được tại thời điểm xảy ra va chạm, xe ô tô biển kiểm soát 20C-255.28 đang chuyển động hay dừng đỗ.
5. Không xác định được trước thời điểm xảy ra tai nạn, xe mô tô biển kiểm soát 98D1-999.57 có va chạm với phương tiện khác hay không, do sau khi xảy ra va chạm với xe ô tô biển kiểm soát 20C-255.28 các chi tiết nhựa, kim loại trên xe mô tô vỡ khuyết, chùn cong, biến dạng.
6. Không xác định được tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học.
Tại các Kết luận định giá tài sản số 49/KL- HĐĐGTS và 50/KL-HĐĐGTS ngày 01/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện H, kết luận: Trị giá thiệt hại tài sản của các bộ phận bị hư hỏng của xe ô tô 20C- 255.28 và xe mô tô 98D1-999.57 lần lượt là 2.350.000 đồng (hai triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng) và 4.320.000 đồng (bốn triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng).
Kết quả khám nghiệm tử thi:
Khám nghiệm tử thi Nguyễn Hoàng S:
Khám bên ngoài:
- Trang phục và các vật dụng mang theo: Mặc ngoài áo sơ mi cộc tay màu đen, trắng, đỏ; quần đùi màu đen, quần lót màu đen. Quần áo ướt, bám dính bụi đất, máu không đông.
- Nhận dạng tử thi: Được gia đình xác định là cháu Nguyễn Hoàng S, sinh năm 2007, trú tại tổ dân phố D, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
- Chiều dài tử thi: 1,72 m. Thể tạng phát triển bình thường.
- Tình trạng tử thi: Đang trong giai đoạn mềm lạnh.
- Các dấu vết tổn thương trên cơ thể:
- Vùng đầu: Tóc đen để trung bình, ướt, bám dính máu không đông, hai mắt khép kín, đồng tử giãn to; lỗ tai trái, hai lỗ mũi và khoang miệng có máu không đông.
- Vùng trán, cung mày, má phải: có diện xây sát da, bầm tím, kích thước (14x10)cm.
- Vùng cằm trái có diện xây sát da, kích thước (4,5x2)cm.
- Vùng cổ phải, phía trước xương đòn phải có diện xây sát da, bầm tím, kích thước (15x5)cm.
- Mặt mu, bàn ngón tay phải có nhiều vết bầm tím, sây xát da, kích thước (11x9)cm.
- Mặt sau cổ tay, mu bàn tay trái có diện xây sát da nông, bầm tím, kích thước (10x3)cm.
- Mặt trước 1/3 giữa cẳng chân phải có diện xây sát da, bầm tím, kích thước (11x7)cm.
- Mặt mu bàn chân phải có diện bầm tím da, kích thước (4x3)cm.
- Sờ nắn kiểm tra thấy: Gãy đốt sống cổ C3.
- Kiểm tra các cơ quan khác không phát hiện tổn thương.
- Mổ tử thi (hoặc một phần tử thi):
- Kiểm tra khoang mũi, miệng thấy có nhiều máu đông, không đông lẫn dịch nhầy, số lượng nhiều khi bị thay đổi tư thế.
- Răng, xương hàm không tổn thương.
- Thăm dò trong bằng bơm kim tiêm khoang lồng ngực, khoang ổ bụng không thấy máu; hõm ức thu mẫu máu tử thi.
Mẫu thu để giám định: Thu mẫu máu tử thi Nguyễn H5.
Khám nghiệm tử thi Đoàn Minh T:
Khám bên ngoài:
- Trang phục và các vật dụng mang theo: Mặc ngoài áo phông cộc tay màu trắng, quần dài màu đen, bên trong mặc quần lót màu đen (quần áo được gia đình thay mới).
- Nhận dạng tử thi: Được gia đình xác định là cháu Đoàn Minh T, sinh năm 2007, trú tại thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang.
- Chiều dài tử thi: 1,71 m. Thể tạng phát triển bình thường.
- Tình trạng tử thi: Đang trong giai đoạn mềm lạnh.
- Các dấu vết tổn thương trên cơ thể:
- Vùng đầu: Tóc đen cắt ngắn, hai mắt khép kín, đồng tử giãn to; hai lỗ mũi, hai lỗ tai khô, miệng khép kín, lưỡi trong cung răng.
- Vùng trán phải có diện xây sát, bầm tím da, kích thước (4x3)cm, phía dưới mắt phải có diện xây sát da, kích thước (2x1)cm.
- Ngực và vai phải có diện xây sát, bầm tím da, kích thước (12x6)cm.
- Mặt trước khuỷu tay phải có diện bầm tím da, kích thước (5x2)cm. Mu bàn ngón tay phải có nhiều vết xây sát da trên diện (6x4,5)cm.
- Mặt trước ngoài cẳng tay trái có diện xây sát, bầm tím da, kích thước (13x5)cm.
- Vùng ngực, bụng được băng gạc y tế màu trắng, tháo băng gạc kiểm tra thấy: Vùng ngực phải và bụng hai bên có nhiều vết xây sát, bầm tím, rách da
trên diện (46x26)cm. Trên diện này tại chính giữa vùng ngực bụng có vết mổ nằm dọc được khâu bằng 11 mũi chỉ dài 24cm.
- Sờ nắn thấy gãy cung trước các xương sườn 4,5,6,7 bên phải.
- Đùi gối, cẳng chân phải có nhiều vết xây sát, bầm tím da trên diện (42x12)cm.
- 1/3 dưới đùi gối, 1/3 trên cẳng chân trái có vết sây xát da, kích thước (24x12)cm.
- Vùng bụng trái có vết rạch đặt dẫn lưu khoang ổ bụng còn chảy dịch màu đỏ.
Mổ tử thi (hoặc một phần tử thi):
- Giải phẫu qua vết rách da vùng bụng phải thấy: Bầm dập tổ chức dưới da, cơ. Tổ chức nội tạng dập nát lồi ra ngoài.
- Chọc hút bằng bơm kim tiêm khoang lồng ngực và khoang ổ bụng thấy có nhiều máu không đông.
Mẫu thu để giám định: Thu mẫu máu tử thi Đoàn Minh T.
Tại Kết luận giám định tử thi số 1626/KLGĐTT-KTHS ngày 24/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:
* Các kết quả chính:
- Trên cơ thể Nguyễn Hoàng S có các tổn thương bầm tím, sây sát da tập trung tại vùng: Đầu, mặt, cổ, hai tay và chân phải.
- Lỗ tai trái, hai lỗ mũi và khoang miệng có máu không đông.
- Gãy đốt sống cổ C3.
- Kiểm tra khoang mũi thấy có nhiều máu đông, không đông lẫn dịch nhầy, số lượng nhiều khi thay đổi tư thế.
* Kết luận:
- Nguyên nhân chết của Nguyễn Hoàng S do đa chấn thương: Chấn thương sọ não, gãy đốt sống cổ C3.
- Cơ chế hình thành dấu vết:
Các tổn thương bầm tím, xây sát da được hình thành do tác động với vật tày, có các hình dạng và diện tiếp xúc khác nhau tạo nên. Trong đó, tổn thương nền sọ gây tràn máu khoang mũi miệng, gãy đốt sống C3 do tiếp xúc với vật tày, lực tác động mạnh trực tiếp và vặn xoắn vùng cổ tạo nên.
Tại Kết luận giám định tử thi số 1691/KLGĐTT-KTHS ngày 01/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:
* Các kết quả chính:
- Trên cơ thể Đoàn Minh T có các tổn thương bầm tím, xây sát, rách da tập trung tại vùng: Mặt, ngực, bụng và tứ chi.
- Gãy cung trước các xương sườn 4,5,6,7 bên phải.
- Giải phẫu qua vết rách da vùng bụng phải thấy: Bầm dập tổ chức dưới da, cơ, tổ chức nội tạng dập nát, lồi ra ngoài.
- Thăm dò trong bằng bơm kim tiêm khoang lồng ngực, khoang ổ bụng có nhiều máu không đông.
* Kết luận:
- Nguyên nhân chết của Đoàn Minh T do đa chấn thương: Chấn thương ngực, bụng.
- Cơ chế hình thành dấu vết:
Các tổn thương bầm tím, xây sát, rách da được hình thành do tác động với vật tày, có các hình dạng và diện tiếp xúc khác nhau tạo nên. Trong đó, tổn thương gãy các xương sườn và dập nát nội tạng được hình thành do tiếp xúc với vật tày, lực tác động mạnh trực tiếp tạo nên.
Tại Kết luận định giá số 49, số 50/KL-HDĐ GTS ngày 01/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H, kết luận: Trị giá tài sản của các bộ phận bị hư hỏng của xe ô tô 20C- 255.28 và xe mô tô 98D1- 999.57 lần lượt là 2.350.000đồng và 4.320.000đồng.
Ngày 25/7/2024, Sở Giao thông vận tải tỉnh B cung cấp thông tin xác định Nguyễn Đức V có Giấy phép lái xe hạng C số [...] cấp ngày 01/02/2021, ngày hết hạn 01/02/2026.
Bị cáo Nguyễn Đức V khi đỗ xe ô tô không có tín hiệu báo cho người điều khiển phương tiện khác biết; xe đỗ chiếm một phần đường xe chạy nhưng rời khỏi xe V không thực hiện đúng biện pháp an toàn là đặt biển báo nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe để người điều khiển phương tiện khác biết. Vi phạm quy định tại điểm a, d khoản 3, Điều 18 Luật Giao thông đường bộ dẫn đến cháu Đoàn Minh T điều khiển xe mô tô trong thời tiết trời mưa hạn chế tầm nhìn không quan sát thấy xe ô tô đỗ đã va chạm vào phía thùng sau xe ô tô. Hậu quả làm cháu T và cháu S tử vong.
Về trách nhiệm dân sự: Trong giai đoạn điều tra, bị cáo Nguyễn Đức V đã bồi thường cho gia đình các cháu Nguyễn Hoàng S, cháu Đoàn Minh T mỗi gia đình 150.000.000 đồng. Đến nay, ông Đoàn Văn S1 là bố đẻ cháu T và ông Nguyễn Văn H2 là bố đẻ cháu S là người đại diện hợp pháp của các bị hại, không tiếp tục yêu cầu bồi thường dân sự và xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho V.
Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra xác định chiếc xe ô tô biển kiểm soát 20C-255.28 là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của vợ chồng Nguyễn Đức V, Đỗ Thị H1 (đăng ký xe ô tô mang tên Đỗ Thị H1); chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98D1-999.57 của chị Nguyễn Thu H4, chị H4 không biết em trai là Nguyễn Hoàng S tự ý lấy xe mô tô sử dụng. Ngày 18/10/2024 và ngày 03/11/2024, Cơ quan điều tra đã trả chị Đỗ Thị H1: 01 chiếc xe ô tô biển kiểm soát 98C-285.59, 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm sát 20C- 255.28; 01 Giấy chứng nhận kiểm định số 20002024 đối với xe ô tô biển kiểm sát 20C- 255.28; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS mang tên Đỗ Thị H1. Ngày 15/10/2024 trả lại xe mô tô biển kiểm soát 98D1- 999.57 cho chị Nguyễn Thu H4 là có căn cứ.
[10.2] Đối với vật chứng còn lại là 01 Giấy phép lái xe tên Nguyễn Đức V, Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng cần trả lại cho bị cáo.
Từ những nội dung trên, bản Cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 21 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang đã truy tố
bị cáo Nguyễn Đức V về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm đ khoản2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Đức V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Người đại diện theo uỷ quyền của những người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người vắng mặt tại phiên tòa.
Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Đỗ Thị H1 trình bày đã nhận lại chiếc xe ô tô và các giấy tờ, chị không có yêu cầu đề nghị gì trong vụ án. Người làm chứng bà La Thị L vẫn giữ nguyên lời khai như bà đã trình bày trong quá trình điều tra bà cũng không có yêu cầu đề nghị gì.
Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Về hình phạt: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức V 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Đức V cho UBND xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
2. Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe hạng C, số [...] mang tên Nguyễn Đức V do Sở Giao thông vận tải tỉnh V cấp ngày 01/02/2021.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Nguyễn Đức V chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận gì đối với đại diện Viện kiểm sát.
Thực hiện lời nói sau cùng bị cáo trình bày đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hội đồng xét xử xét thấy hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, người đại diện theo uỷ quyền của những người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến kết quả xét xử. Căn cứ quy định tại Điều 292 và Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án.
[3] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức V khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, tang vật chứng thu được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ 00 phút 14 giây ngày 03/7/2024, tại tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện H bị cáo Nguyễn Đức V điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 20C-255.28, đỗ ở rìa đường tỉnh lộ 296, đỗ chiếm 1 phần đường. Khi rời khỏi xe Việt không có tín hiệu báo và không đặt biển cảnh
báo nguy hiểm phía trước, phía sau xe để cho người điều khiển phương tiện khác biết. Hậu quả làm cháu Đoàn Minh T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98D1-999.57 chở phía sau cháu Nguyễn Hoàng S trong điều kiện trời mưa, tầm nhìn hạn chế, không quan sát thấy xe ô tô đang đỗ, đã để cụm chi tiết nhựa đầu xe, đầu ốc cố định thanh kim loại tay lái, trục bánh xe, tay phanh, đầu tay nắm bên phải của xe mô tô do cháu T điều khiển va chạm vào cụm chi tiết kim loại phía sau bên trái thành thùng, bên trái thanh kim loại thành thùng và góc dưới bên trái thanh chắn thùng phía sau của xe ô tô do V đang đỗ dẫn đến cháu T, cháu S tử vong. Hành vi của bị cáo Nguyễn Đức V đã vi phạm định tại điểm a, d khoản 3, Điều 18 Luật Giao thông đường bộ.
[4] Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Đức V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm đ khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Nguyên nhân xảy ra tai nạn được xác định do lỗi hỗn hợp của cả bị cáo Nguyễn Đức V và bị hại cháu Đoàn Minh T, cháu Nguyễn Hoàng S. Trong đó, bị cáo Nguyễn Đức V khi đỗ xe ô tô không có tín hiệu báo cho người điều khiển phương tiện khác biết; xe đỗ chiếm một phần đường xe chạy nhưng rời khỏi xe không thực hiện đúng biện pháp an toàn là đặt biển báo nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe để người điều khiển phương tiện khác biết dẫn đến cháu Đoàn Minh T điều khiển xe mô tô trong thời tiết trời mưa hạn chế tầm nhìn không quan sát thấy xe ô tô đỗ đã va chạm vào phía thùng sau xe ô tô. Hậu quả làm cháu T và cháu S tử vong. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc đỗ xe ô tô dưới lòng đường không đặt biển cảnh bảo an toàn, gây thiệt hại tính mạng, sức khỏe và tài sản của người khác. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa và bản Luận tội của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa tại phiên tòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức V về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[5] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy:
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình các bị hại. Đại điện hợp pháp của hai bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.
[6] Qua đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử thấy bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Được người đại diện hợp pháp của hai bị hại có đơn đề nghị xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, ngoài phần lỗi của bị cáo thì các bị hại cũng có một phần lỗi. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội không nhất thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội, mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục và ấn định thời gian thử thách cũng có đủ điều kiện cải tạo bị cáo thành công dân tốt cho gia đình và xã hội. Để bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như các quy định của pháp luật về xử lý mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên cần được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và
lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo có nghề nghiệp là lái xe ngoài ra không có công việc nào khác, đây là nghề nghiệp chính của bị cáo để nuôi sống bản thân và gia đình vì vậy không nhất thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề đối với bị cáo như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Đức V đã bồi thường cho gia đình bị hại các cháu Nguyễn Hoàng S, cháu Đoàn Minh T. (Do anh Đoàn Văn S1 là bố đẻ cháu T và ông Nguyễn Văn H2 là bố đẻ cháu S là người đại diện của các bị hại) mỗi gia đình số tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng). Đến nay anh Đoàn Văn S1 và ông Nguyễn Văn H2 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[9] Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Đỗ Thị H1 là chủ sở hữu chiếc xe ô tô biển kiểm soát 98C-285.59. Chị Đỗ Thị H6 là chủ sở hữu chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98D1- 999.57 không có yêu cầu bồi thường đối với thiệt hại của xe ô tô và xe mô tô do vậy Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[10] Về xử lý vật chứng:
[10.1] Vật chứng đã xử lý: Quá trình điều tra xác định chiếc xe ô tô biển kiểm soát 20C-255.28 là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của vợ chồng Nguyễn Đức V, Đỗ Thị H1 (đăng ký xe ô tô mang tên Đỗ Thị H1); chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98D1- 999.57 của chị Nguyễn Thu H4, chị H4 không biết em trai là Nguyễn Hoàng S tự ý lấy xe mô tô sử dụng. Ngày 18/10/2024 và ngày 03/11/2024, Cơ quan điều tra đã trả chị Đỗ Thị H1: 01 chiếc xe ô tô biển kiểm soát 98C-285.59, 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm sát 20C- 255.28; 01 Giấy chứng nhận kiểm định số 20002024 đối với xe ô tô biển kiểm sát 20C- 255.28; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS mang tên Đỗ Thị H1. Ngày 15/10/2024 trả lại xe mô tô biển kiểm soát 98D1- 999.57 cho chị Nguyễn Thu H4 là có căn cứ.
[10.2] Đối với vật chứng còn lại là 01 Giấy phép lái xe tên Nguyễn Đức V, Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng cần trả lại cho bị cáo.
[11] Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hhội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Đức V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[12] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.
[13] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức V 03 (ba) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (25/03/2025).
Giao bị cáo cho UBND xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết
định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đức V 01 Giấy phép lái xe hạng C, số [...] mang tên Nguyễn Đức V do Sở Giao thông vận tải tỉnh V cấp ngày 01/02/202.
3. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Đức V phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
Án xử công khai sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Đức Nhường |
Bản án số 20/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 20/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức V phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
