Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĨNH BẢO

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

 

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số: 20/2025/HS-ST

Ngày 21-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Đức Vịnh.

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Nguyễn Văn Quyết

Bà Nguyễn Thị Tâm

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Công Khanh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Nghĩa - Kiểm sát viên.

- Người tiến hành tố tụng khác tại điểm cầu thành phần: Bà Vũ Thị T - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm (Trụ sở Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng) và điểm cầu thành phần (Trại tạm giam Công an thành phố H), xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 11/2025/HS-ST ngày 21 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2025, đối với các bị cáo:

  1. Phạm Thị H, sinh ngày 12/9/1982 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn D và bà Dương Thị T1; có chồng là Vũ Văn T2 và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 04/6/2024 đến ngày 13/6/2024 chuyển tạm giam đến nay, có mặt.
  2. Lưu Hữu T3, sinh ngày 05/3/1989 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn C, xã N, huyên A (N là phường N, quận A), thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Trung L và bà Nguyễn Thị T4; có vợ là Nguyễn Thị N và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 04/6/2024 đến ngày 13/6/2024 chuyển tạm giam đến nay, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Phạm Văn T5, sinh năm 1988; nơi cư trú: Thôn D, xã A, huyện A (N là phường A, quận A), thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Mai Xuân L1, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 30/5/2024, tại khu nhà trọ của ông Mai Xuân L1, sinh năm 1969 ở thôn N, xã T, huyện V. Tổ công tác Công an huyện V phối hợp cùng Công an xã T tiến hành kiểm tra, xác minh phát hiện tại phòng trọ số 8 của Nguyễn Trọng N1, sinh năm 1983 ở xã H, huyện V trong khu nhà trọ của ông L1 có 03 đối tượng có biểu hiện nghi vấn liên quan đến việc Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, gồm: Phạm Văn T5, Phạm Thị H và Lưu Hữu T3. Khám xét tại ngăn kéo gầm giường nơi 03 đối tượng đang ngồi, tổ công tác thu giữ được 01 bình thủy tinh có gắn nắp nhựa màu đỏ được đục 02 lỗ, bên trong có dung dịch không màu (ký hiệu M1); 01 hộp giấy hình hộp chữ nhật, màu đỏ, trên nắp hộp có dòng chữ LASOCAL bên trong có 01 đoạn ống nhựa màu trắng dài 32,5cm, đường kính 0,5cm (ký hiệu M2); 01 đoạn ống nhựa màu đỏ có sọc kẻ màu trắng dài 1,7cm, đường kính 0,5cm bên trong bám dính chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M3); 01 túi nilon màu trắng có mép viền màu xanh kích thước (2,5x3)cm bên trong bám dính chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M4); 01 túi nilon màu trắng có mép viền màu đỏ kích thước (2x2)cm bên trong bám dính chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M5); 01 túi nilon màu trắng có mép viền màu trắng kích thước (1,5x1,5) cm bên trong bám dính chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M6); 01 túi nilon màu trắng có mép viền màu xanh kích thước (1,5x1,5)cm bên trong bám dính chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M7). Tổ công tác tiến hành lập biên bản vụ việc, thu giữ niêm phong số ma tuý và bộ dụng cụ nêu trên, thu của Phạm Thị H 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu vàng đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu bạc; thu của Lưu Hữu T3 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9 màu xanh; thu của Phạm Văn T5 01 điện thoại di động nhãn hiệu HONOR màu xanh và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade mang biển kiểm soát 15B1-442.97.

Quá trình điều tra xác định được: Khoảng 22 giờ ngày 29/05/2024, Phạm Thị H đang ở nhà tại thôn C, xã T, huyện V thì có Phạm Văn T5 nhắn tin cho H với nội dung hỏi thăm H và muốn gặp H. H có nhắn tin lại cho T5 và rủ T5 về V chơi. T5 nói đang ở T cùng với bạn là Lưu Hữu T3 khoảng một tiếng đồng hồ nữa thì sẽ về đến V. Sau đó, H đi đến phòng trọ số 8 của Nguyễn Trọng N1 ở thôn N, xã T, huyện V. Khi đến nơi, H có nhờ N1 cho mượn phòng để đón T5 đến chơi, N1 đồng ý. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, T5 và T3 về đến khu vực đèn xanh đèn đỏ tại ngã ba xã T, huyện V rồi gọi điện cho H ra đón rồi dẫn T5 và T3 đến phòng trọ của N1. Mọi người ngồi nói chuyện một lúc thì H rủ T5 mua ma tuý về sử dụng. Tuy nhiên, H và T5 đều nói không có tiền thì T3 nói có 300.000 đồng để mua ma tuý. H nhờ N1 mua ma tuý giúp mọi người, N1 đồng ý. Sau đó, T3 dùng số tài khoản 013913972 mang tên Lưu Hữu T3 tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (V) chuyển khoản đến số tài khoản 0384649411 mang tên Nguyễn Trọng N1 tại Ngân hàng Q1 (M1) số tiền 500.000 đồng (trong đó có 300.000 đồng để mua ma túy và 200.000 đồng T3 nhờ N1 nạp tiền cho trò chơi trên điện thoại). N1 đi ra ngoài khoảng 05 phút rồi quay về mang theo 01 đoạn ống màu đỏ kẻ sọc trắng có kích thước dài 1,7cm, đường kính 0,5cm, được hàn kín hai đầu (H, T3 khai là ma tuý). Sau đó, N1 lấy từ trong gầm giường ra bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 bình thuỷ tinh có nắp màu đỏ được đục sẵn 02 lỗ bên trên nắp, bên trong bình có nước; 01 tẩu (coóng) thuỷ tinh và 01 đoạn ống hút bằng nhựa màu trắng. Núi có gắn tẩu, ống hút vào bình thuỷ tinh và cắt đoạn ống hút màu đỏ có chứa ma tuý đổ vào trong tẩu. Sau đó N1 lấy bật lửa khò nóng tẩu có chứa ma tuý lên và cho N1, H, T5, T3 cùng nhau sử dụng. Sau khi hút hết số ma tuý trong tẩu thì mọi người ngồi chơi điện thoại với nhau đến sáng. Đến khoảng 06 giờ ngày 30/05/2024, T5 rời khỏi phòng trọ đi làm. Khoảng 19 giờ cùng ngày T5 đi về phòng trọ của N1 và cùng H, T3, N1 đi ăn cơm. Đến khoảng 20 giờ 30 phút ngày 30/05/2024, N1 đi làm còn T5, T3, H ở tại phòng trọ của N1. Đến khoảng 23 giờ ngày 30/05/2024, Công an huyện V kết hợp cùng Công an xã T tiến hành kiểm tra và thu giữ vật chứng như nêu trên.

Ngày 31/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V tiến hành khám nghiệm hiện trường tại phòng trọ số 8 của Nguyễn Trọng N1 tại thôn N, xã T, huyện V và khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Thị H, Lưu Hữu T3 nhưng không thu giữ được tài liệu, đồ vật gì có liên quan đến vụ án.

Tại bản Kết luận giám định số 642/TB-KTHS ngày 07/6/2024 của phòng K Công an thành phố H kết luận giám định về ma túy như sau:

“Chất lỏng không màu đựng trong chai thủy tinh của mẫu M1 gửi giám định có thể tích 05ml, tìm thấy chất ma túy, loại: Methamphetamine,không đủ cơ sở xác định hàm lượng, khối lượng chất ma túy trên.

01 ống hút nhựa màu trắngcủa mẫu M2 gửi giám định tìm thấy chất ma túy, loại: Methamphetamine,không đủ cơ sở xác định khối lượng chất ma túy trên.

Tinh thể bám dính 01 đoạn ống hút nhựa của mẫu M3 gửi giám định là ma túy, loại: Methamphetamine,không đủ điều kiện xác định khối lượng chất ma túy trên.

Tinh thể bám dính 01 vỏ túi nilon của mẫu M4 là ma túy, loại: Methamphetamine,không đủ điều kiện xác định khối lượng chất ma túy trên.

Tinh thể bám dính 01 vỏ túi nilon của mẫu M5 là ma túy, loại: Methamphetamine,không đủ điều kiện xác định khối lượng chất ma túy trên.

Tinh thể bám dính 01 vỏ túi nilon của mẫu M6 là ma túy, loại: Methamphetamine,không đủ điều kiện xác định khối lượng chất ma túy trên.

Tinh thể bám dính 01 vỏ túi nilon của mẫu M7 là ma túy, loại: Methamphetamine,không đủ điều kiện xác định khối lượng chất ma túy trên”.

Tại bản Kết luận giám định số 643/TB-KTHS ngày 03/6/2024 của phòng K Công an thành phố H kết luận giám định về nước tiểu của Phạm Văn T5, Phạm Thị H, Lưu Hữu T3 như sau: “Các mẫu nước tiểu ghi tên Phạm Văn T5 (mẫu M1), Phạm Thị H (mẫu M2), Lưu Hữu T3 (mẫu M3) gửi giám định đều tìm thấy chất ma túy, loại: Methamphetamine”.

Tại bản Kết luận giám định số 3031/KL-KTHS ngày 10/10/2024 của phòng K Công an thành phố H đã trích xuất thông tin danh bạ, cuộc gọi, cuộc trò chuyện Facebook, cuộc trò chuyện M, cuộc trò chuyện Zalo trên điện thoại thu giữ của Phạm Văn T5, Phạm Thị H, Lưu Hữu T3. Theo T5, H, T3 cho biết đây là các cuộc gọi, cuộc trò chuyện thông thường trong sinh hoạt hàng ngày, không có nội dung liên quan đến việc sử dụng trái phép chất ma tuý tại phòng trọ của Nguyễn Trọng N1.

Với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, ngày 13/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định khởi tố bị can và lệnh tạm giam đối với các bị cáo Phạm Thị H và Lưu Hữu T3 về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý theo khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Tại bản Cáo trạng số: 15/CT-VKS ngày 20/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng đã truy tố các bị cáo Phạm Thị H và Lưu Hữu T3 về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo Phạm Thị H và Lưu Hữu T3 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Kết thúc phần tranh tụng Kiểm sát viên trình bày lời luận tội khẳng định: Việc truy tố các bị cáo Phạm Thị H và Lưu Hữu T3 về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo Phạm Thị H và Lưu Hữu T3 mỗi bị cáo từ 08 năm 06 tháng tù đến 09 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm: 01 chai thuỷ tinh của mẫu M1, 02 đoạn ống hút nhựa của mẫu M2, mẫu M3 và các vỏ túi nilon của các mẫu (từ mẫu M4 đến mẫu M7) sau giám định được niêm phong lại trong bì giấy theo dấu niêm phong số 642MT/PC09 và chữ ký của giám định viên; 01 hộp giấy hình hộp chữ nhật, màu đỏ, trên nắp hộp có dòng chữ LASOCAL; trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu vàng đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu bạc cho Phạm Thị H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9 màu xanh cho Lưu Hữu T3; 01 điện thoại di động nhãn hiệu HONOR màu xanh cho Phạm Văn T5. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đã suy nghĩ và thấy rằng hành vi của mình là sai trái và vi phạm pháp luật, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, để các bị cáo sớm được trở về là có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, thành phố Hải Phòng, của Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến và khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về tội danh và khung hình phạt: Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Phạm Thị H và Lưu Hữu T3 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa là rõ ràng, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, biên bản vụ việc ngày 30/5/2024, lời khai của người làm chứng, kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 23 giờ 05 phút ngày 29/5/2024, tại phòng trọ số 8 của Nguyễn Trọng N1 ở thôn N, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng. Phạm Thị H, Lưu Hữu T3 và Nguyễn Trọng N1 đã có hành vi mua ma túy và dụng cụ để sử dụng ma túy là loại Methamphetamine sau đó rủ Phạm Văn T5 cùng sử dụng trái phép chất ma tuý. Do đó, hành vi của các bị cáo Phạm Thị H và Lưu Hữu T3 đã phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" với tình tiết định khung quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Đối với Nguyễn Trọng N1, do sau khi bị phát hiện đã bỏ trốn và đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ra Quyết định khởi tố bị can và Quyết định truy nã đối với N1 đến nay chưa bắt được.
  3. Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy mà còn xâm phạm trật tự trị an xã hội, đồng thời là nguyên nhân phát sinh các loại tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và đặc điểm nhân thân của bị cáo.
  4. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
  5. Về vai trò của các bị cáo: Giữa các bị cáo không có sự bàn bạc, câu kết chặt chẽ khi thực hiện hành vi phạm tội nên đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo H là người khởi xướng, bị cáo T3 là người bỏ tiền để mua ma tuý nên Hội đồng xét xử đánh giá hai bị cáo có vai trò ngang nhau.
  6. Về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  7. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy: Về tội danh, khung hình phạt và điều luật mà Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ nên cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.
  8. Ngoài hình phạt chính các bị cáo có thể phải chịu hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử thấy, bản thân các bị cáo làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
  9. Về vật chứng: Đối với 01 chai thuỷ tinh của mẫu M1, 02 đoạn ống hút nhựa của mẫu M2, mẫu M3 và các vỏ túi nilon của các mẫu (từ mẫu M4 đến mẫu M7) sau giám định được niêm phong lại trong bì giấy theo dấu niêm phong số 642MT/PC09 và chữ ký của giám định viên; 01 hộp giấy hình hộp chữ nhật, màu đỏ, trên nắp hộp có dòng chữ LASOCAL. Đây là các công cụ, phương tiện phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ; đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu vàng đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu bạc là của Phạm Thị H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9 màu xanh là của Lưu Hữu T3 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu HONOR màu xanh là của Phạm Văn T5. Quá trình điều tra xác định được đây là các tài sản hợp pháp và không liên quan gì đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên trả lại cho bị cáo Phạm Thị H, Lưu Hữu T3 và anh Phạm Văn T5.
  10. Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade mang biển kiểm soát 15B1-442.97 thu giữ của anh Phạm Văn T5. Theo anh T5 cho biết, anh T5 mua chiếc xe này năm 2020, có giấy tờ mua bán nhưng đã bị mất. Do thời gian đã lâu anh T5 không nhớ mua của ai. Qua xác minh xe được đăng ký mang tên Nguyễn Hoàng P ở số F L, quận L, thành phố Hải Phòng, nhưng hiện nay anh P không có mặt tại địa phương nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V tiếp tục tạm giữ để xác minh, xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.
  11. Đối với Phạm Văn T5 không có hành vi bàn bạc, trao đổi, giúp sức cho việc sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng trọ số 8 của Nguyễn Trọng N1 nên không cấu thành tội phạm; hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của T5, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V chuyển Công an huyện V để ra quyết định xử phạt hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ là đúng quy định của pháp luật.
  12. Đối với ông Mai Xuân L1 là chủ khu nhà trọ, nơi các bị cáo tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nhưng ông L1 không biết, không được hưởng lợi ích gì từ việc này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V không xử lý đối với ông L1 là đúng quy định của pháp luật.
  13. Đối với Nguyễn Trọng N1, do sau khi phạm tội đã bỏ trốn nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ra Quyết định khởi tố bị can và Quyết định truy nã. Đến nay, chưa bắt được Núi nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ra Quyết định tách vụ án hình sự đối với N1 để tiếp tục điều tra, xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.
  14. Đối với người đã bán ma tuý cho Nguyễn Trọng N1 do chưa xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V tiếp tục xác minh, xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.
  15. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  16. Về quyền kháng cáo bản án: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố các bị cáo Phạm Thị H và Lưu Hữu T3 đồng phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

    Xử phạt:

    - Bị cáo Phạm Thị H 08 (T) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/6/2024.

    - Bị cáo Lưu Hữu T3 08 (Tám) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/6/2024.

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 chai thuỷ tinh của mẫu M1, 02 đoạn ống hút nhựa của mẫu M2, mẫu M3 và các vỏ túi nilon của các mẫu (từ mẫu M4 đến mẫu M7) sau giám định được niêm phong lại trong bì giấy theo dấu niêm phong số 642MT/PC09 và chữ ký của giám định viên; 01 hộp giấy hình hộp chữ nhật, màu đỏ, trên nắp hộp có dòng chữ LASOCAL; trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu vàng đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu bạc cho bị cáo Phạm Thị H; trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9 màu xanh cho bị cáo Lưu Hữu T3; trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu HONOR màu xanh cho anh Phạm Văn T5. Toàn bộ vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/01/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo.
  3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 6; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc các bị cáo Phạm Thị H và bị cáo Lưu Hữu T3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án đối với phần có liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - Công an TP. Hải Phòng (PC 01, PV 06, PC 10);
  • - Sở tư pháp thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND huyện Vĩnh Bảo;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Vĩnh Bảo;
  • - Các bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
  • - Lưu: Hành chính tư pháp, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Hoàng Đức Vịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HS-ST ngày 21/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý (criminal case)

  • Số bản án: 20/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HSST
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger