Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/HS-ST

Ngày: 14/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Bắc

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Lài

Ông Trần Văn Việt

Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Đài Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Thạch - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 151/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 163/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2025/HPT-QĐ ngày 08 tháng 01 năm 2025, Thông báo mở lại phiên tòa số 34/2025/TB-TA ngày 28 tháng 02 năm 2025 đối với:

Bị cáo: Trần Hoàng T, sinh năm 1981 tại Đồng Nai; Thường trú: khu phố T, thị trấn P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Tạm trú: Chung cư E, khu phố A, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên Chúa; Con ông Trần Minh H (sinh năm 1956) và bà La Thị Tuyết L (sinh năm 1959); đã ly hôn vợ là Nguyễn Thị Ngọc Y (sinh năm 1984) và có 02 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2009.

Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Bản án số 108/2024/HS-ST ngày 21 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 08 (T1) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Đang chấp hành án tại Trại giam X – Bộ C. (có mặt)

* Bị hại: Ông Phạm Hoàng M, sinh năm 1992; Địa chỉ: ấp Q, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (có mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Lê Thị Tuyết T2, sinh năm 1995; Địa chỉ: Số E Đ, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)

- Ông Nguyễn Quốc Đ, sinh năm 1987; Địa chỉ: khu phố L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)

* Người làm chứng: Bà Phan Thị Thảo N, sinh năm 1991; Địa chỉ: ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo hồ sơ vụ án và theo diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 26/9/2023, chị Lê Thị Tuyết T2, sinh năm 1995, Giám đốc Công ty TNHH D, địa chỉ tại số E Đ, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (viết tắt là Công ty D) ký Hợp đồng (HTA-HD.../2023) cho Trần Hoàng T thuê chiếc xe ô tô KIA K3 biển số 72A-607.60 giá 800.000 đồng/ngày, thời hạn từ ngày 26/9/2023 đến ngày 02/10/2023. T đã thanh toán cho Công ty D 24 triệu đồng (gồm: đặt cọc 20 triệu đồng, thanh toán tiền thuê 4 triệu đồng/5 ngày) và được anh Nguyễn Quốc Đ là nhân viên Công ty D giao xe.

Quá trình sử dụng xe, do cần tiền tiêu xài, T nảy sinh ý định làm giả giấy tờ xe rồi dùng thủ đoạn gian dối đem xe kèm giấy tờ giả chính chủ để cầm cố vay tiền nhằm mục đích chiếm đoạt tiền của người nhận cầm cố. Thông qua mạng xã hội Facebook, T thuê người đàn ông tên T3 (chưa rõ lai lịch) làm giả Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô KIA K3 biển số 72A-607.60 có số seri 72 000408 đứng tên Trần Hoàng T do Thượng tá Lê Quang T4 – Phó Trưởng phòng CSGT Công an tỉnh B ký cấp ngày 15/3/2023 với giá 2,5 triệu đồng.

Sáng 01/10/2023, T điều khiển xe ô tô KIA K3 biển số 72A-607.60 đến Công ty D liên hệ xin gia hạn hợp đồng thuê xe nhưng Công ty D không đồng ý do T chưa thanh toán xong tiền thuê. T lái xe đi, hẹn sẽ quay lại trả tiền và ký hợp đồng gia hạn thuê xe.

Trưa ngày 01/10/2023, T đem xe ô tô KIA K3 biển số 72A-607.60 và giấy tờ xe giả liên hệ với anh Phạm Hoàng M (sinh năm 1992; trú tại ấp Q, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai), dùng thủ đoạn gian dối cầm cố chiếc xe kèm theo giấy tờ xe giả chính chủ để vay 250 triệu đồng, lãi suất 5%/tháng nhưng lại viết thành giấy bán xe. Tin tưởng là thật nên anh M nhận cầm cố chiếc xe kèm theo giấy tờ xe giả rồi giao 250 triệu đồng cho T vay mà không biết thực chất đã bị T lừa dối để chiếm đoạt.

Chiều ngày 01/10/2023, T trở lại Công ty D liên hệ thuê thêm chiếc xe ô tô Mercedes CLA 250 biển số 51H-651.73 giá 1.000.000 đồng/ngày và đã thanh toán cho Công ty D 50 triệu đồng (gồm: 20 triệu đồng đặt cọc và 30 triệu đồng thuê xe). Đối với chiếc xe ô tô KIA K3 biển số 72A-607.60, T nói dối cho người khác mượn sử dụng nên xin gia hạn nhưng Công ty D không đồng ý do T chưa thanh toán tiền thuê xe và yêu cầu T phải trả lại chiếc xe này. Sau đó, T quản lý, sử dụng chiếc xe Mercedes CLA 250 biển số 51H-651.73 đến ngày 03/10/2023 thì Công an quận B, Thành phố Hồ Chí Minh bắt giữ về hành vi “Tổ chức chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo Điều 255 Bộ luật Hình sự và tạm giữ chiếc xe này để điều tra trong một vụ án khác.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã khởi tố Trần Hoàng T về các tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 4 Điều 175 và khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự để điều tra theo quy định.

* Kết luận giám định số 166/KL-KTHS-TL ngày 21/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh B xác định: “01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô mang tên Trần Hoàng T, số 72000408 đề ngày 15/3/2023 (ký hiệu A) là giả”.

Quá trình điều tra, Trần Hoàng T đã khai nhận hành vi như trên, công nhận kết quả điều tra, kết quả giám định. Lời khai của T phù hợp với lời khai của các ông/bà Phạm Hoàng M, Lê Thị Tuyết T2, Nguyễn Quốc Đ; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Qua đánh giá diễn biến của vụ án, tính chất hành vi và động cơ, mục đích của bị cáo T, nhận thấy: Công ty D ký Hợp đồng (HTA-HD.../2023) cho T thuê xe KIA K3 biển số 72A-607.60 và thỏa thuận cho T thuê thêm xe Mercedes CLA 250 biển số 51H-651.73 là các giao dịch dân sự. Quá trình sử dụng xe KIA K3 biển số 72A-607.60 thì T mới nảy sinh ý định thuê làm giả giấy tờ xe rồi dùng thủ đoạn đem xe và giấy tờ giả cầm cố cho anh Phạm Hoàng M vào ngày 01/10/2023 để vay số tiền 250 triệu đồng, lãi suất 5%/tháng nhưng thực chất là lừa dối chiếm đoạt số tiền 250 triệu đồng của anh M chứ T không có ý thức chiếm đoạt xe nên trong vụ án này anh M mới là bị hại. Vì thời hạn thuê xe KIA K3 biển số 72A-607.60 trong hợp đồng chưa hết (hiệu lực đến ngày 02/10/2023) và hiện Công ty D đã nhận lại xe này; còn xe Mercedes CLA 250 biển số 51H-651.73 thì các bên không xác định thời hạn thuê xe, nên Công ty D không phải là bị hại mà chỉ là người có quyền lợi liên quan đến vụ án này đối với những chiếc xe và tiền cho thuê xe.

Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC02) Công an tỉnh B kết luận và đề nghị truy tố Trần Hoàng T về các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 và điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng quy định.

* Vật chứng:

- Đối với xe ô tô KIA K3 biển số 72A-607.60: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã giao trả cho anh Nguyễn Quốc Đ (đại diện Công ty D) theo quy định.

- Đối với xe ô tô biển số 51H-651.73: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B, Thành phố Hồ Chí Minh thu giữ khi bắt giữ T được xử lý trong vụ án khác.

- Đối với 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe KIA K3 biển số 72A-607.60 có số seri 72 000408 đứng tên Trần Hoàng T do Phòng C1 Công an tỉnh B ký cấp ngày 15/3/2023, kết quả giám định là giả: đang lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

* Phần giải quyết dân sự:

Bị hại Phạm Hoàng M yêu cầu bị cáo Trần Hoàng T bồi thường 250 triệu đồng. Bị cáo chưa bồi thường.

* Các vấn đề khác có liên quan:

- Đối với tượng Tín (chưa rõ lai lịch) mà bị cáo T thuê làm giả giấy tờ xe qua mạng xã hội Facebook với giá 2,5 triệu đồng: Cơ quan điều tra đang tiếp tục truy xét, khi nào đủ cơ sở sẽ xử lý sau theo quy định.

- Đối với chị Lê Thị Tuyết T2, Giám đốc Công ty D đã nhận lại 02 chiếc xe trước khi khởi tố vụ án. Bị cáo Trần Hoàng T khai không có ý thức chiếm đoạt xe ô tô mà chỉ có động cơ mục đích chiếm đoạt tiền cầm cố xe nên anh M mới là bị hại trong vụ án này; còn Công ty D chỉ là người có quyền lợi liên quan đến dịch vụ cho thuê xe trong vụ án này.

2. Tại Cáo trạng số 137/CT-VKSBRVT-P2 ngày 19 tháng 9 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu truy tố bị cáo Trần Hoàng T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự và “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức” theo điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

3. Tại phiên tòa, trong bản luận tội vị đại diện Viện Kiểm sát đã nêu các tình tiết vụ án, tính chất nguy hiểm trong hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử:

3.1. Tuyên bố bị cáo Trần Hoàng T phạm các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”; đề nghị hình phạt:

3.1.1. Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Hoàng T 08 (T1) – 10 (M1) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;

3.1.2. Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 341, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Hoàng T 03 (Ba) – 05 (Năm) năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của cả hai tội buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung từ 11 (Mười một) - 15 (Mười lăm) năm tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt với hình phạt 08 (T1) năm tù tại Bản án số 108/HS-ST ngày 21 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh thành hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành.

3.2. Trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo bồi thường cho bị hại Phạm Hoàng M 250 triệu đồng.

3.3. Xử lý vật chứng: đã giải quyết xong.

4. Đối đáp và tranh luận tại phiên toà:

4.1. Bị cáo Trần Hoàng T: không bào chữa và không có ý kiến tranh luận.

4.2 Bị hại Phạm Hoàng M và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: không có ý kiến tranh luận.

5. Trong lời nói sau cùng, bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, hối lỗi về hành vi phạm tội của bản thân, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

6. Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

[1] Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã tuân thủ nghiêm chỉnh theo thủ tục tố tụng trong việc thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và Điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại và những người tham gia tố tụng khác, kết luận giám định, kết luận định giá tài sản và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có căn cứ xác định nội dung vụ án như sau:

Ngày 26/9/2023, Trần Hoàng T thuê xe ô tô hiệu KIA K3 biển số 72A-607.60 của Công ty TNHH D, sau đó thuê làm giả Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô KIA K3 biển số 72A-607.60 đứng tên mình; và ngày 01/10/2023 bị cáo dùng thủ đoạn gian dối đem xe và giấy tờ giả cầm cố cho anh Phạm Hoàng M để vay tiền nhưng lại viết thành giấy bán xe, khiến anh M tưởng giả là thật, nhận cầm cố xe ô tô kèm theo giấy tờ giả và giao tiền; chiếm đoạt của anh Phạm Hoàng M 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng), tiêu xài cá nhân hết.

Như vậy, có đủ căn cứ xác định bị cáo Trần Hoàng T phạm các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự, đúng như truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:

Là công dân trưởng thành, phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, bị cáo nhận thức rõ quyền sở hữu hợp pháp về tài sản là khách thể được pháp luật bảo vệ, phải tôn trọng, mọi hành vi xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản sẽ bị pháp luật nghiêm trị. Nhưng để có tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo cố tình thuê người làm giả giấy tờ đăng ký xe đối với chiếc xe ô tô bị cáo đã thuê sử dụng, rồi đem xe này cùng với giấy tờ giả, đưa ra thông tin gian dối khiến bị hại tưởng giả là thật về việc bị cáo có quyền cầm cố, chuyển nhượng xe, nhận tiền và chiếm đoạt của bị hại 250.000.000 đồng. Quá trình lừa dối, chiếm đoạt tiền của bị hại, bị cáo đã thuê người làm giả và sử dụng Giấy chứng nhận đăng ký xe giả ghi nhận thông tin bị cáo là chủ sở hữu xe ô tô, khiến bị hại tưởng giả là thật, chuyển tiền cầm cố xe theo yêu cầu của bị cáo. Việc làm giả, sử dụng giấy tờ giả của bị cáo để lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở mức nghiêm trọng, đã xâm phạm hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính cơ quan nhà nước về con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác.

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến hai khách thể bảo vệ của Luật Hình sự là quyền sở hữu tài sản của công dân, hoạt động đúng đắn trong quản lý hành chính và uy tín của cơ quan Nhà nước, tổ chức; ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương; thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Vì vậy, phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện, để đảm bảo tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục và đấu tranh phòng ngừa chung, đồng thời nêu cao tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa. Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt chung cho các tội; áp dụng khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt với bản án bị cáo đang phải chấp hành thành hình phạt chung, buộc bị cáo phải chấp hành.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng.

[4.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại Phạm Hoàng M yêu cầu bị cáo Trần Hoàng T bồi thường toàn bộ số tiền 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng) bị chiếm đoạt. Đây là yêu cầu hoàn toàn hợp pháp của bị hại, nên cần tuyên buộc bị cáo bồi thường toàn bộ thiệt hại về tài sản theo yêu cầu của bị hại.

[6] Về vật chứng:

Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ 01 (Một) Giấy chứng nhận giả ghi nhận thông tin đăng ký xe KIA K3 biển số 72A-607.60 có số seri 72 000408 đứng tên Trần Hoàng T do Phòng C1 Công an tỉnh B ký cấp ngày 15/3/2023.

[7] Vấn đề khác có liên quan trong vụ án:

Đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục truy xét đối với đối tượng tên T3 (chưa rõ lai lịch) đã được bị cáo Trần Hoàng T thuê làm giả giấy tờ xe qua mạng xã hội Facebook để xử lý theo quy định của pháp luật.

[8] Về án phí:

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo luật định.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố: bị cáo Trần Hoàng T phạm các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

1.1. Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Hoàng T 08 (T1) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;

1.2. Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 341, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Hoàng T 03 (Ba) năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”;

1.3. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội buộc bị cáo Trần Hoàng T phải chấp hành là 11 (Mười một) năm tù.

1.4. Áp dụng khoản 1 Điều 56, điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp với hình phạt 08 (T1) năm tù của Bản án số 108/2024/HS-ST ngày 21 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, thành hình phạt chung buộc bị cáo Trần Hoàng T phải chấp hành là 19 (Mười chín) năm tù, tính từ ngày 04/10/2023.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự; buộc bị cáo Trần Hoàng T bồi thường cho bị hại Phạm Hoàng M 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Án phí sơ thẩm:

Bị cáo Trần Hoàng T phải nộp 12.700.000 đồng (Mười hai triệu bảy trăm nghìn đồng), gồm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 12.500.000 đồng (Mười hai triệu năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

4. Quyền kháng cáo:

Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (14/3/2025), bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;
  • - Trại giam Xuân Lộc – Bộ Công an;
  • - Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;
  • - Thi hành án hình sự tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu (3): Văn phòng, Tòa Hình sự, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trần Minh Bắc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HS-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 20/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Hoàng T - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger