|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 20/2025/HS-ST Ngày: 13-03-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Việt Trung.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Tuyến;
2. Bà Phan Thị Gái.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Nhàn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 124/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:
-
Trần Văn T, tên gọi khác: không có; sinh năm 1965 tại tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: Số A đường L, Khu phố D, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp, chức vụ: cán bộ Phòng Thanh tra pháp chế - Chi cục Kiểm lâm tỉnh Q (nguyên Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Q); trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn M, sinh năm 1940 và bà Dương Thị T1 (đã chết); có vợ Lê Thị Thu G, sinh năm 1970 và 02 con, lớn sinh năm 1994, nhỏ sinh năm 1998; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
-
Lê Thanh T2, tên gọi khác: không có; sinh năm 1966 tại tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: Số D đường N, Khu phố A, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp, chức vụ: Trưởng phòng Quản lý bảo vệ rừng và Bảo tồn thiên nhiên - Chi cục Kiểm lâm tỉnh Q (ngày 09/01/2024 bị tạm đình chỉ chức vụ); trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê D (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1942; có vợ Nguyễn Thị L1, sinh năm 1969 và 03 con lớn sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
-
Nguyễn Thị Thùy D1, tên gọi khác: không có; sinh năm 1986 tại tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: Khu phố A, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp, chức vụ: cán bộ Phòng Quản lý bảo vệ rừng và Bảo tồn thiên nhiên - Chi cục Kiểm lâm tỉnh Q; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu M1, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1954; có chồng Nguyễn Đăng H, sinh năm 1990 và 01 con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
-
Nguyễn Ngọc T4, tên gọi khác: không có; sinh năm 1978 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Đường N, khu phố T, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp, chức vụ: cán bộ Phòng Pháp chế và Điều tra xử lý vi phạm về lâm nghiệp (nguyên cán bộ Phòng Tổ chức - Xây dựng lực lượng và Tuyên truyền) - Chi cục Kiểm lâm tỉnh Q; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc T5, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1954; có vợ Thái Thị Thùy N1 (đã ly hôn) và 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
- Người bào chữa cho các bị cáo:
- + Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn T: Luật sư Đặng Quang L2 - Văn phòng L6, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Q; địa chỉ: Số C đường L, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
- + Người bào chữa cho bị cáo Lê Thanh T2: Luật sư Trần Đức A - Văn phòng luật sư T6 và cộng sự, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Q; địa chỉ: Số E đường L, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- + Chi cục Kiểm lâm tỉnh Q; địa chỉ: Số C đường T, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị - Do ông Trần H1 - Phó chi cục trưởng làm đại diện; có mặt.
- + Bà Nguyễn Thị M2 (nguyên Kế toán trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Q); địa chỉ: Khóm I, thị trấn D, huyện H, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
- + Bà Hoàng Thị Hà G1 - Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Quảng Trị (nguyên cán bộ Văn phòng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Q); địa chỉ: Số B đường H, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.
- + Ông Trần Khánh T7 - Chi cục Kiểm lâm tỉnh Q; địa chỉ: Số C đường T, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
- + Ông Trần Quang P - Chi cục Kiểm lâm tỉnh Q; địa chỉ: Số C đường T, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
- + Ông Đoàn Viết C - Chi cục Kiểm lâm tỉnh Q; địa chỉ: Số C đường T, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.
- + Ông Nguyễn Minh D2 - Chi cục Kiểm lâm tỉnh Q; địa chỉ: Số C đường T, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
- + Ông Lê Quang H2 - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng H3 (nguyên Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện H); địa chỉ: K+ G, đường H, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
- + Ông Nguyễn Văn K (nguyên Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm thị xã Quảng Trị); địa chỉ: Số nhà H đường T, phường T, thành phố H; có mặt.
- + Ông Võ Văn S (nguyên Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm Đ3); địa chỉ: Khu phố A, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
- + Ông Nguyễn Văn C1 - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm liên huyện G-C (nguyên Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện G); địa chỉ: Khu phố D, thị trấn G, huyện G, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.
- + Ông Đoàn Văn P1 - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện V; địa chỉ: Khu phố T, thị trấn H, huyện V, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
- + Ông Trần Đại Đ - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện H (nguyên Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Đ); địa chỉ: Khóm H, thị trấn D, huyện H, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
- + Ông Bùi Văn D3 - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện H; địa chỉ: thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.
- + Ông Nguyễn Văn T8 - Kiểm lâm địa bàn, Hạt Kiểm lâm huyện H; địa chỉ: thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
- + Công ty cổ phần I; địa chỉ: Số E đường B, phường X, thành phố H; vắng mặt.
- + Ông Đinh Phú H4 - nhân viên Công ty cổ phần I; địa chỉ: Số E đường B, phường X, thành phố H; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chi cục Kiểm lâm tỉnh Q là tổ chức hành chính trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Q, giúp Giám đốc Sở tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh T19 chức năng quản lý nhà nước chuyên ngành và tổ chức thực thi pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh. Chi cục Kiểm lâm có 05 phòng chuyên môn, 02 Trạm Kiểm lâm, Đội Kiểm lâm cơ động và 08 Hạt Kiểm lâm tại các huyện.
Công tác tài chính kế toán của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Q được thực hiện theo Thông tư 107/2017/TT-BTC ngày 10/10/2017 của Bộ T20 về việc hướng dẫn chế độ kế toán hành chính, sự nghiệp; các Hạt Kiểm lâm trực thuộc được hạch toán riêng biệt có chủ tài khoản và kế toán trưởng; tại Văn phòng Chi cục Kiểm lâm gồm các đơn vị Văn phòng Chi cục, Trạm Kiểm lâm thành phố Đ, Trạm Kiểm lâm thị xã Quảng Trị và Đội Kiểm lâm cơ động và Phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR), chủ tài khoản là Chi Cục trưởng.
Chi cục Kiểm lâm tỉnh Q hoạt động theo kế hoạch thu, chi hàng năm được Ủy ban nhân dân tỉnh Q phê duyệt, cuối năm được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở T21 xét duyệt quyết toán.
Ngày 08/6/2021, Chánh Thanh tra tỉnh Quảng Trị đã ra Quyết định thanh tra số 373/QĐ-TTr về:“Thanh tra việc chấp hành pháp luật về quản lý ngân sách và đầu tư xây dựng tại Chi cục Kiểm lâm tỉnh Q và các đơn vị trực thuộc”. Kết thúc thanh tra, Cơ quan thanh tra đã có kết luận trong đó nêu rõ nhiều sai phạm trong quản lý ngân sách và đầu tư xây dựng, như: Nhiều khoản chi thanh toán “vượt số lượng, khối lượng thực tế đơn vị thực hiện”; chi sai chế độ, định mức, tiêu chuẩn; lập hồ sơ thanh toán tiền diễn tập nhưng thực tế không tổ chức diễn tập... Kết thúc thanh tra, Cơ quan Thanh tra đã ban hành kết luận và đề nghị thu hồi sai phạm 1.063.040.000 đồng.
Ngày 17/9/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q nhận được văn bản số 158-CV/BNCTU ngày 10/9/2021 của Ban Nội chính Tỉnh ủy Quảng Trị về việc đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q chỉ đạo điều tra, xác minh làm rõ các sai phạm nêu tại Kết luận số 720/KL-TTr ngày 30/8/2021 của Chánh Thanh tra tỉnh đối với vụ việc xảy ra tại Chi cục Kiểm lâm tỉnh Q. Quá trình điều tra đã xác định như sau:
1. Hành vi phạm tội của Trần Văn T:
Với vai trò là Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, Trần Văn T có nhiệm vụ quản lý điều hành chung toàn bộ hoạt động của lực lượng kiểm lâm tỉnh Q; trực tiếp phụ trách công tác tổ chức, công tác tài chính - là chủ tài khoản, quyết định các khoản thu, chi của đơn vị. Trần Văn T đồng thời là Trưởng Ban quản lý Dự án nâng cao năng lực phòng cháy chữa cháy rừng giai đoạn 2016-2020 do Chi cục Kiểm lâm làm chủ đầu tư.
* Các khoản chi liên quan đến thi công vách ngăn kính thuộc nguồn kinh phí tự chủ:
Năm 2019, Chi cục Kiểm lâm ký 03 Hợp đồng kinh tế với Công ty TNHH MTV M3 (địa chỉ: A đường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị) và Công ty TNHH S1 (địa chỉ: 2 H, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị) thi công vách ngăn kính các phòng làm việc thuộc Văn phòng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Q. Tổng giá trị thanh toán theo các hợp đồng này là 125.854.250 đồng (34.724.250 đồng + 71.825.000 đồng + 19.305.000 đồng). Tuy nhiên, quá trình thực hiện, bà Nguyễn Thị M2 - Nguyên Kế toán trưởng Chi cục Kiểm đã trao đổi và được sự đồng ý của Trần Văn T về việc: đối với các hạng mục vách ngăn kính chỉ thi công một phần hoặc không thi công mà chỉ hợp thức chứng từ thanh toán, sau đó yêu cầu các doanh nghiệp nêu trên hoàn trả lại một phần hoặc toàn bộ số tiền theo hợp đồng đã ký.
Việc hoàn tất các chứng từ thanh toán, bà M2 hướng dẫn các cán bộ trong Phòng Tổ chức - Hành chính Chi cục Kiểm lâm (ông Lê Viết P2 và Lê Minh T9) thực hiện. Sau khi chuyển tiền thanh toán, các doanh nghiệp nêu trên hoàn trả lại tiền mặt cho bà M2 để bà M2 giao cho ông Lê Viết P2 và Lê Minh T9, Võ Đặng Xuân T10, là các cán bộ Phòng Tổ chức - Hành chính thanh toán các khoản chi phí mà Chi cục Kiểm lâm đã chi trước đó (chi ngoài dự toán). Cụ thể như sau:
- Tại giấy rút dự toán số 39/CKTX ngày 24/01/2019 Chi cục Kiểm lâm thực hiện việc rút dự toán 34.724.250 đồng để thanh toán ngăn vách kính phòng làm việc Khu D (Trạm Kiểm lâm thành phố Đ). Tuy nhiên, Chi cục Kiểm lâm chỉ thực hiện đóng vách ngăn kính với số tiền 19.627.250 đồng, số tiền còn lại 15.097.000 đồng để thanh toán một số công việc như: trả tiền thuê nhân công cắt cây, hạ tán một số cây xanh trong khuôn viên Văn phòng Chi cục và tại khu vực Đường I để phòng chống bão trong tháng 10/2018; thuê thợ sửa chữa hệ thống điện, khắc phục hư chập điện, thay thế các bóng đèn, ổ cắm...tại Văn phòng Chi cục trong tháng 11/2018; thuê thợ bảo dưỡng, vệ sinh, bơm ga 06 máy điều hòa nhiệt độ ở hội trường, phòng họp cơ quan, phòng làm việc của Lãnh đạo Chi cục trong tháng 01/2019.
- Tại giấy rút dự toán số 149/CKTX ngày 23/4/2019 Chi cục Kiểm lâm thực hiện việc rút dự toán 71.825.000 đồng để thanh toán ngăn vách kính tại Văn phòng Chi cục. Tuy nhiên, Chi cục Kiểm lâm chỉ thực hiện đóng vách ngăn kính với số tiền 9.872.000 đồng; số tiền còn lại 61.953.000 đồng, Chi cục đã sử dụng để thanh toán các khoản: sửa chữa, khắc phục những hư hỏng của cơ quan 30.000.000 đồng; chi tiếp khách 31.953.000đ.
- Tại giấy rút dự toán số 96/CKTX ngày 05/9/2019 Chi cục Kiểm lâm thực hiện việc rút dự toán: 19.305.000 đồng để thanh toán ngăn vách kính. Tuy nhiên, Chi cục Kiểm lâm không thực hiện hạng mục trên mà sử dụng tiền để thanh toán các khoản sau: thuê nhân công, vật liệu để xử lý, gia cố đoạn kè tường rào (bị nứt) của Chi cục giáp với Trường tiểu học N3; cắt 01 cây xanh mọc trên bờ kè tường rào trong tháng 8/2019; thuê nhân công, vật liệu để gia cố, giằng chống bão cho các mái tôn 03 khu nhà ga ra để xe ô tô và một số công trình tại Văn phòng Chi cục trong tháng 9/2019.
Tổng số tiền mà Trần Văn T và Nguyễn Thị M2 đã hợp thức hoá chứng từ khống để rút tiền từ ngân sách nhà nước là 96.355.000 đồng. Quá trình thanh tra, điều tra vụ án, Trần Văn T đã thừa nhận toàn bộ hành vi sai phạm đối với khoản kinh phí nêu trên. Sau khi có Kết luận thanh tra, Trần Văn T đã nộp khắc phục hậu quả số tiền 96.355.000 đồng vào tài khoản tạm giữ của Thanh tra tỉnh Quảng Trị.
* Tập huấn nghiệp vụ bảo vệ rừng cho lực lượng bảo vệ rừng không chuyên trách của chủ rừng và cấp xã thuộc nguồn sự nghiệp kinh tế:
Hàng năm Chi cục Kiểm lâm đều có kế hoạch tổ chức tập huấn nghiệp vụ bảo vệ rừng cho lực lượng bảo vệ rừng không chuyên trách của chủ rừng và cấp xã. Chi cục Kiểm lâm giao trực tiếp cho Phòng Quản lý bảo vệ rừng và Bảo tồn thiên nhiên tham mưu kế hoạch, chủ trì thực hiện kế hoạch. Kế hoạch này được thực hiện dựa trên kế hoạch nhiệm vụ được phê duyệt và nguồn kinh phí sự nghiệp kinh tế được bố trí trong năm.
Năm 2020, Chi cục Kiểm lâm được bố trí kinh phí từ nguồn sự nghiệp kinh tế là 50.000.000 đồng để tổ chức lớp tập huấn nêu trên. Ngày 12/11/2020, Phòng quản lý bảo vệ rừng bảo tồn thiên nhiên (QLBVR- BTTN) đã tham mưu lập Kế hoạch tập huấn nghiệp vụ bảo vệ rừng số 43/KH-KL (người lập kế hoạch là Nguyễn Thị Thùy D1 - cán bộ, Phòng QLBVR- BTTN do Lê Thanh T2 - Trưởng phòng ký xác nhận và Trần Văn T là người phê duyệt).
Do tình hình dịch bệnh và thiên tai lũ lụt nên không thể tổ chức các lớp diễn tập nêu trên, nếu không thanh toán thì khoản tiền này sẽ bị thu hồi, vì do sợ ảnh hưởng đến quyền lợi của Chi cục Kiểm lâm nên T đã thống nhất với T2 lập khống chứng từ để rút số tiền 50.000.000 đồng từ ngân sách nhà nước sau đó sẽ có kế hoạch sử dụng sau. Chủ trương lập khống chứng từ này, chỉ T và T2 biết không trao đổi, bàn bạc gì với tập thể Chi cục Kiểm lâm. Việc lập chứng từ khống do T2 trực tiếp thực hiện. Tổng số tiền mà T2 đã lập chứng từ khống để rút là 50.000.000 đồng, trừ đi chi phí 10% hoá đơn GTGT đã chi cho Công ty TNHH Đ4 còn lại là 48.690.909 đồng. Theo chỉ đạo của T, T2 giao số tiền này cho Hoàng Thị Hà G1 quản lý. Số tiền rút về bỏ ngoài sổ sách, không được thông qua tập thể Chi cục Kiểm lâm.
Sau khi có Kết luận thanh tra, Trần Văn T đã chỉ đạo thủ quỹ nộp khắc phục hậu quả số tiền 50.000.000 đồng (gồm: 48.690.909 đồng Tuyền giao cho thủ quỹ quản lý trước đó và 1.309.091 đồng do T bỏ thêm tiền cá nhân để khắc phục) vào tài khoản tạm giữ của Thanh tra tỉnh Quảng Trị.
* Diễn tập, tập huấn thuộc Dự án nâng cao năng lực phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) giai đoạn 2016-2020 thuộc nguồn dự phòng trung ương:
Dự án “Nâng cao năng lực Phòng cháy chữa cháy rừng giai đoạn 2016 - 2020” do C làm chủ đầu tư. Nguồn vốn được Ngân sách trung ương cấp theo Quyết định số 1304/QĐ-TTg ngày 07/10/2019 của Thủ tướng chính phủ về việc bổ sung vốn từ nguồn dự phòng ngân sách trung ương năm 2019 cho Bộ N4 và 30 địa phương để thực hiện dự án cấp bách về PCCCR và bảo vệ rừng năm 2019. Thời gian thực hiện dự án: Từ tháng 01/2020 đến tháng 12/2020.
Chi cục Kiểm lâm đã thành lập “Ban Quản lý dự án nâng cao năng lực PCCCR giai đoạn 2016 -2020” gồm 14 thành viên (Quyết định số 90/QĐ-CCKL ngày 28/2/2020 và Quyết định số 214/QĐ-CCKL ngày 03/8/2020 của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Q). Kết quả thực hiện, Ban Quản lý dự án đã tổ chức triển khai toàn bộ 13 hạng mục. Các hạng mục này do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Trị thông báo hạng mục và vốn. Trong 13 hạng mục này có 02 hạng mục “Diễn tập chữa cháy rừng cấp xã và chủ rừng” và “Tập huấn kỹ thuật chữa cháy rừng cho lực lượng bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng cấp xã (BVR-PCCR), các tổ, đội bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng thôn, bản”.
Năm 2020, do tình hình dịch bệnh và thiên tai lũ lụt nên không thể tổ chức các lớp tập huấn, diễn tập được, nếu không giải ngân thì các khoản tiền này sẽ bị thu hồi. Vì vậy, Trần Văn T và Lê Thanh T2 đã trao đổi và thống nhất với nhau về việc không tổ chức các cuộc tập huấn, diễn tập mà lập khống chứng từ để rút số tiền 879.042.000 đồng từ ngân sách nhà nước. Theo đó, việc lập khống chứng từ được chủ trương phân chia như sau:
- Hạng mục “Diễn tập chữa cháy rừng cấp xã và chủ rừng” được Chi cục Kiểm lâm tỉnh Q phê duyệt kinh phí là 320.000.000 đồng do Văn phòng Chi cục Kiểm lâm lập hồ sơ thanh toán 264.042.000 đồng.
- Hạng mục “Tập huấn kỹ thuật PCCCR cho lực lượng BVR-PCCR cấp xã, các tổ, đội BVR-PCCR thôn, bản” được Chi cục Kiểm lâm phê duyệt kinh phí 621.128.000 đồng để triển khai 41 lớp tập huấn. Sau đó các đơn vị đã lập hồ sơ thanh toán 615.000.000 đồng, trong đó, Văn phòng Chi cục Kiểm lâm thanh toán 270.000.000 đồng/18 lớp; các Hạt và Trạm kiểm lâm trực thuộc thanh toán 345.000.000 đồng/23 lớp.
Lê Thanh T2 là người chịu trách nhiệm hoàn tất các chứng từ để giải ngân kinh phí 04 lớp diễn tập PCCCR và 18 lớp tập huấn do Văn phòng Chi cục Kiểm lâm trực tiếp thực hiện. Toàn bộ số tiền mà Lê Thanh T2 lập chứng từ khống để rút là 534.042.000 đồng, trừ đi chi phí mua hoá đơn GTGT của Công ty TNHH Đ4 là 6.436.364 đồng. Còn lại 527.605.836 đồng, Trần Văn T chỉ đạo T2 giao cho thủ quỹ Hoàng Thị Hà G1 quản lý (theo dõi ngoài hệ thống sổ sách kế toán).
Ngoài ra, Trần Văn T chỉ đạo Lê Thanh T2 liên lạc qua điện thoại và trao đổi với 07 Hạt trưởng, Trạm trưởng về việc giao cho các đơn vị này thực hiện lập chứng từ khống thanh toán 23 lớp tập huấn với tổng số tiền 345.000.000 đồng để chuyển bộ phận kế toán gửi Kho bạc nhà nước tỉnh Q thanh toán nhằm rút tiền ngân sách nhà nước.
Quá trình thanh tra, Cơ quan Thanh tra phát hiện được hành vi lập khống chứng từ của Chi cục Kiểm lâm. Trong năm 2021, Chi cục Kiểm lâm không có kế hoạch nào để tổ chức các cuộc diễn tập, tập huấn nêu trên cho đến khi bị Cơ quan Thanh tra phát hiện và thu hồi số tiền này. Ngoài ra, theo văn bản số 1922/SKH-KTN ngày 20/11/2020 của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Trị gửi Chi cục Kiểm lâm nêu rõ: “Trong quá trình thực hiện dự án nếu có khó khăn, vướng mắc thì Chủ đầu tư phải báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh và cơ quan chuyên môn để kịp thời tháo gỡ nhằm đảm bảo giải ngân hết số vốn đã bố trí”. Tuy nhiên, Trần Văn T không báo cáo mà chủ trương lập khống chứng từ để rút tiền ngân sách nhà nước.
Sau khi có Kết luận thanh tra, Trần Văn T đã chỉ đạo thủ quỹ nộp khắc phục hậu quả số tiền 534.042.200 đồng (gồm: 527.605.836 đồng T2 đã giao cho thủ quỹ quản lý trước đó, còn lại 6.436.364 đồng do Lê Thanh T2 bỏ tiền cá nhân để khắc phục) vào tài khoản tạm giữ của Thanh tra tỉnh Quảng Trị. Riêng đối với số tiền 345.000.000 đồng, quá trình điều tra, 07 Hạt, trạm kiểm lâm đã tự nguyện nộp toàn bộ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra để khắc phục hậu quả.
* Các khoản chi gói thầu in bản tin kiểm lâm năm 2019 và 2020 thuộc nguồn sự nghiệp kinh tế:
Ngày 11/6/2019, Ủy ban nhân dân tỉnh Q có quyết định về việc phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu các gói thầu sử dụng nguồn sự nghiệp kinh tế năm 2019 do Chi cục Kiểm lâm quản lý (Đợt 1). Theo đó phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu gói thầu In ấn bản tin Kiểm lâm với giá gói thầu là 225.000.000 đồng.
Ngày 05/6/2020, Ủy ban nhân dân tỉnh Q có quyết định về việc phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu các gói thầu sử dụng nguồn sự nghiệp kinh tế năm 2020 do Chi cục Kiểm lâm quản lý (Đợt 1). Theo đó phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu gói thầu Bản tin Kiểm lâm với giá gói thầu là 204.000.000 đồng.
Tổng kinh phí được cấp năm 2019 và 2020 là: 429.000.000 đồng.
Chi cục Kiểm lâm tỉnh Q đã tiến hành ký hợp đồng in bản tin kiểm lâm theo từng tháng với Công ty Cổ phần I (gọi tắt là Công ty I), có địa chỉ tại E đường B, TP H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Theo hồ sơ thanh toán, thể hiện:
- Năm 2019, ký 12 hợp đồng để in 12 bản tin. 01 bản tin in 300 bản, giá trị là 16.000.000 đồng/1 bản tin. Tổng số tiền chuyển thanh toán theo hợp đồng là 192.000.000 đồng (theo các Giấy rút dự toán các số 32,33,34/CKKT ngày 20/6/2019, các số 44,45/CKKT ngày 18/7/2019, số 84/CKKT ngày 09/9/2019, số 87/CKKT ngày 04/9/2019, số 121/CKKT ngày 28/10/2019, số 122/CKKT ngày 28/10/2019, số 176/CKKT ngày 18/12/2019, số 177/CKKT ngày 18/12/2019, số 212/CKKT ngày 06/01/2020).
- Năm 2020, ký 12 hợp đồng để in 12 bản tin. 01 bản tin in 300 bản, giá trị là 16.000.000 đồng/1 bản tin. Tổng số tiền chuyển thanh toán theo hợp đồng là 192.000.000 đồng (theo các Giấy rút dự toán số 24, 25/CKKT ngày 19/6/2020, số 32/CKKT ngày 10/7/2020, các số 73,74/CKKT ngày 07/8/2020, các số 115,116/CKKT ngày 12/10/2020, các số 127,128/CKKT ngày 19/11/2020, số 178/CKKT ngày 07/12/2020, số 324/CKKT ngày 14/01/2021).
Tổng cộng năm 2019, 2020 in 7.200 bản; chuyển thanh toán tổng số tiền: 384.000.000 đồng.
Mặc dù trên hợp đồng thể hiện số lượng bản tin 02 năm là 7.200 bản, tuy nhiên Trần Văn T đã chủ trương và giao cho Nguyễn Ngọc T4 - cán bộ Phòng Tổ chức xây dựng lực lượng và Tuyên truyền Chi cục Kiểm lâm (thư ký Ban biên tập) liên hệ với Công ty I để thống nhất về việc in ấn bản tin thực tế với số lượng năm 2019 là 1.800 bản và năm 2020 là 2.400 bản, cụ thể:
- Năm 2019: Bản tin số 1-2: 300 bản; Bản tin 3-4: 300 bản; Số kỷ niệm (Bản tin 5-6): 300 bản; Bản tin 7-8: 300 bản; Bản tin 9-10: 300 bản; Số đặc biệt (Bản tin 11-12): 300 bản. Tổng: 1.800 bản.
- Năm 2020: Bản tin số 1-2: 300 bản; Bản tin 3-4: 300 bản; Bản tin 5-6: 300 bản; Bản tin 7-8: 300 bản; Bản tin 9-10: 600 bản; Bản tin 11-12: 600 bản. Tổng: 2.400 bản.
Việc in bản tin ít hơn so với hợp đồng nhằm mục đích giảm chi phí. Số tiền giảm do chênh lệch này được Công ty I chuyển lại bằng tiền mặt cho Trần Văn T (T không nhớ rõ người đưa tiền cho mình là ai, số tiền mà Công ty I đưa lại là bao nhiêu). Sau đó T giao cho Hoàng Thị Hà G1 - thủ quỹ cất giữ để chi tiếp khách, chi tiền thăm tết các đơn vị có liên quan theo chỉ đạo của T.
Sau khi có Kết luận thanh tra, Trần Văn T đã nộp khắc phục hậu quả số tiền 160.000.000 đồng do chênh lệch bản tin thực tế so với hợp đồng.
2. Hành vi phạm tội của Lê Thanh T2:
Lê Thanh T2 công tác tại Chi cục Kiểm lâm từ tháng 01/2009 đến tháng 01/2020 được bổ nhiệm Trưởng Phòng QLBVR-BTTN. Nhiệm vụ được phân công cụ thể: Quản lý điều hành các mặt công tác của Phòng QLBVR-BTTN; phụ trách theo dõi công tác phòng trừ sinh vật hại rừng; trực tiếp tham mưu cho lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Q các mặt công tác thuộc chức năng nhiệm vụ của phòng. Lê Thanh T2 còn là thành viên thường trực Ban quản lý dự án nâng cao năng lực PCCCR giai đoạn 2016-2020, chịu trách nhiệm lập kế hoạch, trực tiếp thực hiện hoạt động diễn tập, tập huấn thuộc dự án.
Với vai trò là Trưởng phòng Phòng QLBVR- BTTN, dưới sự chỉ đạo của Trần Văn T, Lê Thanh T2 trực tiếp lập các hồ sơ, chứng từ kế toán khống nhằm thanh toán kinh phí tập huấn nghiệp vụ bảo vệ rừng cho lực lượng bảo vệ rừng không chuyên trách của chủ rừng và cấp xã thuộc nguồn sự nghiệp kinh tế, gây thiệt hại cho nhà nước số tiền 50.000.000 đồng và thanh toán tập huấn, diễn tập của dự án nâng cao năng lực PCCCR thuộc nguồn dự phòng Trung ương gây thiệt hại cho nhà nước số tiền 879.042.000 đồng, cụ thể như sau:
* Tập huấn nghiệp vụ bảo vệ rừng cho lực lượng bảo vệ rừng không chuyên trách của chủ rừng và cấp xã thuộc nguồn sự nghiệp kinh tế
Sau khi thống nhất với Trần Văn T không tổ chức tập huấn mà lập chứng từ khống để rút số tiền 50.000.000 đồng từ ngân sách nhà nước như đã nêu ở trên, Lê Thanh T2 trực tiếp thực hiện việc lập chứng từ khống. Cụ thể:
- T2 liên hệ với hộ kinh doanh Trịnh Thị H5 (trú tại: Khu phố I, phường E, thành phố Đ) để lấy 02 hoá đơn bán hàng có nội dung: thanh toán tiền mua văn phòng phẩm và thanh toán tiền mua nước uống phục vụ tập huấn và hộ kinh doanh Trần Thị Diệu H6 (trú tại: Khu phố I, phường E, thành phố Đ) để lấy 02 hoá đơn bán hàng có nội dung: thanh toán tiền in market và phô tô tài liệu phục vụ tập huấn. Sau khi lấy được hoá đơn bán hàng, T2 đưa cho Nguyễn Thị Thùy D1 ký vào mục “người mua hàng” trên 04 hoá đơn (số 0074422 ngày 02/12/2020, số 0074421 ngày 02/12/2020, số 0044130 ngày 28/11/2020 và số 0044131 ngày 28/11/2020) với tổng số tiền là 11.600.000 đồng.
Ngoài ra, T2 còn yêu cầu D1 ký vào mục ký nhận, mục người lập trên Bảng kê văn phòng phẩm phục vụ 02 lớp tập huấn nghiệp vụ bảo vệ rừng cho lực lượng bảo vệ rừng không chuyên trách của chủ rừng và cấp xã năm 2020 (bảng kê ngày 23/11/2020).
- Tuyền liên hệ với ông Trương Đình C2 - Giám đốc Công ty TNHH Đ4 (trụ sở tại: Khu phố D, phường E, thành phố Đ) để lấy hoá đơn GTGT có nội dung: thanh toán tiền hợp đồng thuê giảng viên giảng dạy cho 02 lớp tập huấn và các chứng từ kèm theo gồm Hợp đồng kinh tế và nghiệm thu, thanh lý hợp đồng.
- Tuyền lập 02 danh sách học viên (mỗi danh sách 40 người) tham gia lớp tập huấn (họ tên trên danh sách được lấy từ danh sách tập huấn của những năm trước đó) và giả chữ ký của những người có trong danh sách vào mục ký nhận tiền (T2 có nhờ các cán bộ trong phòng giả chữ ký, mỗi người ký giả từ 03 đến 04 trường hợp, còn lại phần lớn do T2 ký giả). Sau đó, T2 ghi tên người lập bảng kê là Nguyễn Thị Thùy D1 và yêu cầu D1 ký vào mục người lập để thanh toán kinh phí “phụ cấp tiền ăn”, nhận “tài liệu và văn phòng phẩm” cho 80 học viên với tổng số tiền là 24.000.000 đồng; T2 ký xác nhận của Phòng QLBVR-BTTN.
Sau khi có các hoá đơn, chứng từ khống nêu trên, T2 lập giấy đề nghị thanh toán có nội dung chi được thể hiện trên từng hoá đơn, trình bộ phận kế toán để lập thủ tục giải ngân. Bộ phận kế toán do Trần Khánh T7 làm Kế toán trưởng căn cứ vào các hóa đơn và các chứng từ khác do Phòng QLBVR-BTTN cung cấp lập 05 Giấy rút dự toán ngày 08/12/2020 để chuyển tiền đến tài khoản của Trịnh Thị H5 (3.400.000 đồng và 3.200.000 đồng, tổng cộng 6.600.000 đồng), Trần Thị Diệu H6 (1.400.000 đồng và 3.600.000 đồng, tổng cộng 5.000.000 đồng) và Công ty TNHH Đ4 (14.400.000 đồng). Sau đó T2 gặp H5 để lấy số tiền 6.600.000 đồng, gặp H6 để lấy số tiền 5.000.000 đồng và gặp ông C2 để lấy số tiền 13.090.909 đồng (riêng Công ty TNHH Đ4 trừ 10% tiền thuế GTGT là 1.309.091 đồng, còn lại 13.090.909 đồng).
Đối với khoản tiền bồi dưỡng, tiền ăn (24.000.000 đồng) do thủ quỹ của Chi cục Kiểm lâm là bà Hoàng Thị Hà G1 rút. Sau khi rút về bộ phận kế toán lập phiếu chi số 16/CKKT ngày 10/12/2020, nội dung chi là “bồi dưỡng, tiền ăn cho người không hưởng lương tham gia 02 lớp huấn luyện nghiệp vụ BVR cho lực lượng không chuyên trách chủ rừng và cấp xã năm 2020”, trên chứng từ kế toán thể hiện đã chi như vậy nhưng thực tế không chi do không tổ chức tập huấn. Số tiền 24.000.000 đồng này G1 đưa cho T2 theo phiếu chi nêu trên. Những người có tên trong danh sách nêu trên gồm 40 người ở các xã T, B, H, Mò Ó, Đ1 huyện Đ1 và 40 người ở các xã H, Hướng V, Hướng L3, Hướng P, Hướng T11, H7 huyện H không được nhận số tiền 300.000 đồng/người.
Tổng số tiền mà T2 đã lập chứng từ khống để rút là 50.000.000 đồng, trừ đi chi phí 10% hoá đơn GTGT đã chi cho Công ty TNHH Đ4 còn lại là: 48.690.909 đồng (6.600.000 đồng + 5.000.000 đồng + 13.090.909 đồng + 24.000.000 đồng). Theo chỉ đạo của T, T2 giao số tiền 48.690.909 đồng cho Hoàng Thị Hà G1 quản lý.
* Diễn tập, tập huấn thuộc Dự án nâng cao năng lực phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) giai đoạn 2016-2020 thuộc nguồn dự phòng Trung ương:
Sau khi trao đổi và thống nhất với Trần Văn T về việc không tổ chức các cuộc tập huấn, diễn tập mà lập khống chứng từ để rút số tiền 879.042.000 đồng từ ngân sách nhà nước. Lê Thanh T2 là người chịu trách nhiệm hoàn tất các chứng từ để giải ngân kinh phí 04 lớp diễn tập PCCCR và 18 lớp tập huấn do Văn phòng Chi cục Kiểm lâm trực tiếp thực hiện, cụ thể:
- Đối với các mục thanh toán bắt buộc cần hóa đơn thì T2 trực tiếp liên hệ với các doanh nghiệp, hộ kinh doanh để lấy hoá đơn bán hàng, hoá đơn GTGT khống. Thực tế Chi cục Kiểm lâm không chi các khoản chi này mà chỉ hợp thức hóa bằng các hóa đơn chứng từ để rút tiền ngân sách. Trong các hóa đơn mà các tổ chức, cá nhân xuất cho Chi cục Kiểm lâm thì Công ty TNHH Đ4 lấy 10% tiền hóa đơn GTGT (6.436.364 đồng), còn lại các hộ kinh doanh khác không lấy tiền phần trăm hóa đơn. Sau khi lấy hoá đơn, T2 chỉ đạo Nguyễn Thị Thùy D1 và Nguyễn Minh D2 ký vào mục người mua hàng. Cụ thể:
+ Nguyễn Thị Thùy D1 ký vào mục người mua hàng trên 08 hoá đơn bán hàng (số G, 0074415, 0074416, 0074439, 0073585, 0073600, 0044139, 0044145) với tổng số tiền 81.000.000 đồng.
Ngoài ra, T2 còn yêu cầu D1 ký vào mục ký nhận, mục người lập trên Bảng kê văn phòng phẩm phục vụ 09 lớp tập huấn kỹ thuật chữa cháy rừng cho lực lượng BVR-PCCCR cấp xã, các tổ, Đội BVR-PCCCR thôn, bản (bảng kê ngày 02/11/2020 và bảng kê ngày 30/9/2020).
+ Nguyễn Minh D2 ký vào mục người mua hàng trên 05 hoá đơn bán hàng (số G, 0021748, 003738, 0000003 và 0001867) với tổng số tiền là 39.432.210 đồng.
Các khoản tiền sau khi được chuyển từ tài khoản của Chi cục Kiểm lâm đến tài khoản ngân hàng của các tổ chức cá nhân nêu trên (theo các giấy rút dự toán ngân sách), Lê Thanh T2 gặp trực tiếp các tổ chức, cá nhân này để lấy lại tiền mặt số tiền đã chuyển.
- Đối với các khoản rút tiền mặt để chi thanh toán tiền ăn cho các đối tượng tham gia tập huấn, diễn tập, T2 liên hệ với các Hạt Kiểm lâm huyện H, Đ, Hướng H3, Vĩnh L4, Gio L5, C, T, Đ nhờ lập các danh sách các cá nhân nhận tiền tham gia tập huấn, diễn tập sau đó các Hạt này gửi danh sách cho T2; một số danh sách Tuyền tự lập hoặc chỉ đạo các nhân viên lập. Tuyền chỉ đạo các cán bộ trong Phòng QLBVR-BTTN giả chữ ký của học viên ở mục người nhận và ký vào mục người lập, người chi tiền trên các bảng kê này, còn T2 ký xác nhận của Phòng QLBVR- BTTN. Cụ thể như sau:
+ Nguyễn Thị Thùy D1 lập và ký vào mục người lập trên 07 danh sách học viên tham gia lớp tập huấn PCCCR để hợp thức hoá chứng từ nhằm thanh toán kinh phí “phụ cấp tiền ăn” và nhận “văn phòng phẩm, tài liệu” cho các học viên với tổng số tiền là 73.500.000 đồng.
+ Nguyễn Minh D2 ký vào mục người lập trên 04 danh sách học viên tham gia lớp tập huấn PCCCR để hợp thức hoá chứng từ nhằm thanh toán kinh phí “phụ cấp tiền ăn” và nhận “văn phòng phẩm, tài liệu” cho các học viên với tổng số tiền là 42.000.000 đồng.
+ Đoàn Viết C ký vào mục người chi tiền trên 09 danh sách nhận tiền ăn, hỗ trợ tiền ăn cho cán bộ thôn, người dân trong thôn tham gia diễn tập PCCCR để hợp thức hoá chứng từ nhằm thanh toán kinh phí “tiền ăn cho người không hưởng lương tham gia diễn tập PCCCR” với tổng số tiền là 74.100.000 đồng.
+ Trần Quang P ký vào mục người lập trên 07 danh sách học viên tham gia lớp tập huấn PCCCR để hợp thức hoá chứng từ nhằm thanh toán kinh phí “phụ cấp tiền ăn” và nhận “văn phòng phẩm, tài liệu” cho các học viên với tổng số tiền là 73.500.000 đồng.
+ Lê Thanh T2 nhờ Nguyễn Văn T8 (kiểm lâm địa bàn - Hạt Kiểm lâm H) lập 03 danh sách nhận tiền ăn, hỗ trợ tiền ăn cho cán bộ thôn, người dân trong thôn tham gia diễn tập PCCCR; sau khi lập, T8 ký vào mục người chi tiền, tại mục ký nhận tiền chưa có chữ ký của các học viên. Sau đó T8 gửi 03 danh sách này cho T2. T2 đã sử dụng 03 danh sách này để hợp thức hoá chứng từ nhằm thanh toán kinh phí “tiền ăn cho người không hưởng lương tham gia diễn tập PCCCR” với tổng số tiền là 23.210.000 đồng.
Ngoài ra, T2 còn chỉ đạo D1 lập kế hoạch số 39/KH-KL ngày 14/10/2020 để tập huấn kỹ thuật chữa cháy rừng cho lực lượng BVR-PCCCR cấp xã, các tổ, Đội BVR-PCCCR thôn, bản năm 2020 cũng để hợp thức hoá cho việc giải ngân tiền.
Sau khi lập các danh sách nói trên, T2 đã lập Giấy đề nghị thanh toán và giao toàn bộ chứng từ cho bộ phận kế toán để làm thủ tục rút tiền từ Kho bạc nhà nước tỉnh Q. Cụ thể số tiền rút như sau:
+ Thanh toán tiền tập huấn kỹ thuật chữa cháy rừng cho lực lượng BVR-PCCCR cấp xã, các tổ, đội BVR-PCCCR thôn bản (18 lớp x 35 người/lớp x 15.000đồng/ngày/người x 02 ngày) theo giấy rút vốn đầu tư số 45/TTTUVÐT/201212 ngày 13/12/2020. Tổng cộng: 189.000.000 đồng.
+ Thanh toán tiền ăn cho những người không hưởng lương tham gia khảo sát hiện trường, dự buổi họp thôn và người dân tham gia diễn tập PCCCR theo giấy rút vốn đầu tư 46.3/RVĐT ngày 21/12/2020. Tổng cộng: 97.310.000 đồng.
Đối với các khoản tiền ăn nêu trên, Hoàng Thị Hà G1 là người đi rút tiền, sau đó giao lại cho Lê Thanh T2.
- Ngoài ra, đối với khoản thanh toán công tác phí cho 39 cán bộ thuộc Đội Kiểm lâm Cơ động và PCCCR, các Hạt Kiểm lâm Đakrông, Hướng H3 (mỗi người nhận 290.000 đồng đến 400.000 đồng), tổng cộng 12.300.000 đồng. Tuyền trao đổi và cung cấp thông tin cho Trần Khánh T7 về ngày diễn tập, địa điểm diễn tập và nhờ T7 liên hệ với Đội Kiểm lâm Cơ động và PCCCR, các Hạt Kiểm lâm Đakrông, Hướng Hóa hướng dẫn lập các Giấy đi đường để phục vụ thanh toán. Tiền được chuyển thông qua Kho bạc nhà nước tỉnh Q đến tài khoản ngân hàng của 39 cán bộ nêu trên, sau đó những người này rút tiền và giao lại cho T2, T2 giao lại cho Hoàng Thị Hà G1 quản lý.
Toàn bộ số tiền mà Lê Thanh T2 lập chứng từ khống để rút là 534.042.000 đồng, trừ đi chi phí mua hoá đơn GTGT của Công ty TNHH Đ4 là 6.436.364 đồng. Còn lại 527.605.836 đồng, theo chỉ đạo của Trần Văn T, T2 giao cho thủ quỹ Hoàng Thị Hà G1 quản lý (theo dõi ngoài hệ thống sổ sách kế toán).
Ngoài ra, vào khoảng tháng 12/2020, sau khi thống nhất với T, T2 liên lạc qua điện thoại và trao đổi với 07 Hạt trưởng, Trạm trưởng về việc Chi cục trưởng là Trần Văn T chỉ đạo các Hạt, Trạm thực hiện lập khống hồ sơ, chứng từ chi phí tổ chức 23 lớp tập huấn với tổng số tiền 345.000.000 đồng để chuyển bộ phận kế toán gửi K tỉnh thanh toán nhằm rút tiền ngân sách nhà nước. Tuyền đã phân công số tiền lập khống chứng từ của các Hạt, Trạm Kiểm Lâm như sau:
- Hạt Kiểm lâm huyện H lập khống chứng từ rút số tiền: 30.000.000 đồng.
- Trạm Kiểm lâm thị xã Quảng Trị lập khống chứng từ rút số tiền: 45.000.000 đồng.
- Trạm Kiểm lâm thành phố Đông Hà lập khống chứng từ rút số tiền: 15.000.000 đồng.
- Hạt Kiểm lâm huyện G lập khống chứng từ rút số tiền: 45.000.000 đồng.
- Hạt Kiểm lâm huyện V lập khống chứng từ rút số tiền: 75.000.000 đồng.
- Hạt Kiểm lâm huyện Đakrông lập khống chứng từ rút số tiền: 60.000.000 đồng.
- Hạt Kiểm lâm huyện H lập khống chứng từ rút số tiền: 75.000.000 đồng.
3. Hành vi phạm tội của Nguyễn Thị Thùy D1:
Nguyễn Thị Thuỳ Dương công tác tại Phòng QLBVR- BTTN từ năm 2016 đến nay, D1 được phân công nhiệm vụ: Theo dõi công tác phòng trừ sinh vật hại rừng; hướng dẫn, kiểm tra và dự báo tình hình sâu bệnh hại rừng; thực hiện nhiệm vụ tổng hợp, báo cáo định kỳ, đột xuất của phòng; các hoạt động đào tạo, tập huấn, nghiên cứu khoa học và một số nhiệm vụ khác khi được phân công.
Đối với nguồn kinh phí tập huấn nghiệp vụ bảo vệ rừng cho lực lượng bảo vệ rừng không chuyên trách của chủ rừng và cấp xã thuộc nguồn sự nghiệp kinh tế (50.000.000 đồng). D1 là người tham mưu lập kế hoạch số 43/KH-KL ngày 12/11/2020 về việc tổ chức lớp tập huấn nêu trên. Để thực hiện giải ngân nguồn kinh phí trên, khoảng đầu tháng 12/2020, T2 đưa cho D1 ký vào mục “người mua hàng” trên 04 hoá đơn (số G, 0074421, 0044130 và 0044131) với tổng số tiền là 11.600.000 đồng. Đồng thời, T2 chỉ đạo D1 ký vào mục người lập trên các danh sách học viên tham gia lớp tập huấn để thanh toán kinh phí “phụ cấp tiền ăn” cho 80 học viên với tổng số tiền là 24.000.000 đồng.
Đối với nguồn kinh phí tập huấn thuộc dự án nâng cao năng lực PCCCR: Khoảng 2 ngày sau khi ký các chứng từ khống của nguồn sự nghiệp kinh tế, T2 đã chỉ đạo D1 ký vào mục người mua hàng trên 08 hoá đơn bán hàng (số G, 0074415, 0074416, 0074439, 0073585, 0073600, 0044139, 0044145) với tổng số tiền 81.000.000 đồng. Ngoài ra, T2 chỉ đạo D1 lập 07 danh sách học viên tham gia lớp tập huấn và ký vào mục người lập trên 07 danh sách này để hợp thức hoá việc thanh toán tiền ăn cho 245 học viên với tổng số tiền là 73.500.000 đồng.
Quá trình lập, ký các hoá đơn, chứng từ nêu trên, bản thân D1 biết các lớp tập huấn, diễn tập không được thực hiện. Tuy nhiên, theo chỉ đạo của T2, D1 đã giúp cho T2 hoàn tất các chứng từ khống để thanh toán tiền. Tổng số tiền trên các hoá đơn, chứng từ mà D1 đã ký là 190.100.000 đồng (11.600.000 đồng + 24.000.000 đồng + 81.000.000 đồng + 73.500.000 đồng). Quá trình điều tra xác định D1 không được hưởng lợi gì từ việc này, mục đích thực hiện hành vi là vì chỉ đạo của cấp trên và vì lợi ích chung của đơn vị.
4. Hành vi phạm tội của Nguyễn Ngọc T4:
Nguyễn Ngọc T4 công tác tại Phòng Tổ chức xây dựng lực lượng và Tuyên truyền thuộc Chi cục Kiểm lâm từ năm 2017 đến tháng 7/2024 với nhiệm vụ là chuyên viên phụ trách công tác tuyên truyền. Đối với công tác biên tập bản tin Kiểm lâm, T4 được phân công làm thư ký, nhiệm vụ là biên tập, thiết kế, lên trang in bản tin, phối hợp với bộ phận kế toán thanh toán kinh phí bản tin kiểm lâm (tiền nhuận bút, in ấn).
Trong quá trình thực hiện việc in ấn và phát hành bản tin gặp một số khó khăn như: Các thành viên Ban biên tập đều được giao phụ trách các nhiệm vụ chuyên môn nhất định, việc tham gia ban biên tập là nhiệm vụ kiêm nhiệm dẫn đến nhiệm vụ biên tập chuẩn bị nội dung gặp khó khăn, tốn nhiều thời gian...nên mỗi tháng xuất bản một số là rất khó và chất lượng bản tin không được đảm bảo. Từ những khó khăn và tồn tại trên, Ban biên tập thống nhất giải pháp hai tháng in một lần (mỗi lần in 02 số). Theo chỉ đạo của Trần Văn T, Nguyễn Ngọc T4 liên hệ với Công ty I để thống nhất về việc in ấn bản tin với số lượng năm 2019 là 1.800 bản và năm 2020 là 2.400 bản. T4 biết việc in gộp bản tin 02 tháng nhằm mục đích giảm chi phí, tuy nhiên vẫn ký hợp đồng 01 tháng một lần và làm các chứng từ thanh toán là để giải ngân hết số tiền đã được phân bổ. Nhiệm vụ của T4 là biên tập, thiết kế, lên trang in bản tin... sau đó chuyển cho Công ty I và thống nhất in với số lượng nêu trên. T4 cũng chịu trách nhiệm tiếp nhận các hồ sơ chứng từ thanh toán từ Công ty I (hợp đồng kinh tế, biên bản thanh lý hợp đồng, biên bản giao nhận hàng hoá, hoá đơn GTGT...) để hoàn tất các chứng từ thanh toán, T4 đưa cho Trần Văn T ký vào Hợp đồng kinh tế, Biên bản thanh lý hợp đồng kinh tế; riêng T4 ký vào Biên bản giao nhận hàng hoá, Hoá đơn GTGT chuyển bộ phận kế toán làm thủ tục chuyển tiền thanh toán cho Công ty I.
Như vậy, trong 2 năm 2019 và 2020, Nguyễn Ngọc T4 đã thực hiện in bản tin kiểm lâm với số lượng 4.200 bản, nhưng hợp thức hoá chứng từ (thông qua các Hợp đồng kinh tế, nghiệm thu thanh lý hợp đồng, biên bản giao nhận hàng hoá, hoá đơn GTGT) để thanh toán với số lượng 7.200 bản (in thực tế ít hơn so với hợp đồng là 3.000 bản).
* Các kết luận giám định:
- Ngày 15/12/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định số 198/QĐ-CSKT với nội dung: “Việc lập khống chứng từ kế toán để rút số tiền 584.042.000 đồng (50.000.000 đồng chi diễn tập thuộc nguồn sự nghiệp kinh tế và 534.042.000 đồng chi diễn tập, tập huấn thuộc nguồn dự phòng trung ương) có làm thiệt hại tài sản Nhà nước không, nếu có thì thiệt hại bao nhiêu? Hành vi này vi phạm các quy định gì trong lĩnh vực kế toán; thu chi ngân sách nhà nước?”
Kết luận giám định ngày 28/02/2022 của Giám định viên tư pháp xác định:
“...Hành vi trên vi phạm về kế toán được quy định tại khoản 1 Điều 13 Luật Kế toán số 88/2015/QH13 ngày 20/11/2015 về các hành vi nghiêm cấm, quy định:
“1. Giả mạo, khai man hoặc thỏa thuận, ép buộc người khác giả mạo, khai man, tẩy xóa chứng từ kế toán hoặc tài liệu kế toán khác...”.
“3. Để ngoài sổ kế toán tài sản, nợ phải trả của đơn vị kế toán hoặc có liên quan đến đơn vị kế toán...”.
Xác định sai phạm do hành vi trên gây thiệt hại cho nhà nước số tiền 584.042.000 đồng...”
- Ngày 11/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 09/QĐ-CSKT với nội dung: “Việc lập khống chứng từ kế toán để rút số tiền 345.000.000 đồng có làm thiệt hại tài sản Nhà nước không, nếu có thì thiệt hại bao nhiêu? Hành vi này vi phạm các quy định gì trong lĩnh vực kế toán; thu chi ngân sách nhà nước?”
Kết luận giám định ngày 01/12/2023 của Giám định viên tư pháp xác định:
Hành vi trên vi phạm về kế toán được quy định tại Khoản 1, Điều 13 Luật Kế toán số 88/2015/QH13 ngày 20/11/2015 về các hành vi nghiêm cấm, quy định:
“1. Giả mạo, khai man hoặc thỏa thuận, ép buộc người khác giả mạo, khai man, tẩy xóa chứng từ kế toán hoặc tài liệu kế toán khác...”.
“3. Để ngoài sổ kế toán tài sản, nợ phải trả của đơn vị kế toán hoặc có liên quan đến đơn vị kế toán...”.
Xác định sai phạm do hành vi trên gây thiệt hại cho nhà nước số tiền 345.000.000 đồng.”
- Ngày 01/4/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 03/QĐ-CSKT để xác định các sai phạm liên quan đến khoản chi thi công vách ngăn kính.
Kết luận giám định ngày 15/6/2022 của Giám định viên tài chính xác định: Hành vi trên vi phạm quy định của nhà nước về kế toán: Giả mạo, khai man chứng từ kế toán...và không lập chứng từ kế toán khi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh được quy định tại điểm a, điểm d, Điều 8 tại Nghị định số 41/2018/NĐ-CP ngày 12/3/2018 của Chính phủ về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập. Trách nhiệm hành vi vi phạm nêu trên thuộc về chủ tài khoản và kế toán. Xác định sai phạm do hành vi nêu trên gây ra với số tiền: 96.355.000 đồng. Sai phạm này dẫn đến thiệt hại nhà nước với số tiền 96.355.000 đồng.
- Ngày 19/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đã có yêu cầu định giá tài sản số 1716/YC-CSKT để đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Quảng Trị xác định giá trị của “Bản tin kiểm lâm”.
Kết luận định giá tài sản số 07/KL-HĐĐGTS ngày 24/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xác định: Trị giá của bản tin kiểm lâm năm 2019, 2020, với số lượng 300 bản có giá 16.000.000 đồng. Như vậy, việc in thiếu số lượng 3.000 bản gây thiệt hại cho nhà nước số tiền là 160.000.000 đồng.
Cáo trạng số 117/CT-VKSQT-P1 ngày 30/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị truy tố các bị cáo Trần Văn T, Lê Thanh T2, Nguyễn Thị Thùy D1, Nguyễn Ngọc T4 về tội: “Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng” quy định tại Điều 221 Bộ luật Hình sự năm 2015, trong đó bị cáo Trần Văn T bị truy tố theo khoản 3, bị cáo Lê Thanh T2 bị truy tố theo điểm d khoản 2, các bị cáo Nguyễn Thị Thùy D1 và Nguyễn Ngọc T4 bị truy tố theo điểm a khoản 1 của điều luật.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Trần Văn T, Lê Thanh T2, Nguyễn Ngọc T4, Nguyễn Thị Thùy D1 phạm tội “Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng”.
- Về hình phạt:
- + Áp dụng khoản 3 Điều 221; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 1, 2 Điều 65 BLHS; xử phạt bị cáo Trần Văn T: 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- + Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 221; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 1, 2 Điều 65 BLHS; xử phạt bị cáo Lê Thanh T2 từ 24 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là từ 48 đến 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- + Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 221; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thùy D1 từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Thị Thùy D1.
- + Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 221; điểm v, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 BLHS, xử bị cáo Nguyễn Ngọc T4 từ 07 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Ngọc T4.
- - Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo T và bị cáo T2 đã nộp đủ số tiền thiệt hại nên không xem xét.
- - Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.
- + Số tiền 345.000.000 đồng do 07 Hạt, Trạm Kiểm lâm nộp lại hiện có tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị, cần tịch thu sung nộp ngân sách nhà nước.
- + Lưu bản gốc hồ sơ kế toán thu giữ của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Q trong hồ sơ vụ án.
- - Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Ý kiến của các bị cáo: Các bị cáo đều nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật; phạm tội không vì vụ lợi cá nhân; phối hợp tốt với cơ quan Công an trong quá trình giải quyết vụ án; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã khắc phục toàn bộ thiệt hại; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Trần Văn T: Đồng ý với Cáo trạng của VKSND tỉnh Quảng Trị truy tố đối với bị cáo về tội danh và khung hình phạt. Đề nghị HĐXX xem xét: Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải; không có mục đích vụ lợi; do bão, lũ, dịch bệnh nên chưa tổ chức được các đợt tập huấn, diễn tập theo kế hoạch; bị cáo đã khắc phục toàn bộ thiệt hại; trong công tác được tặng nhiều giấy khen, bằng khen, gia đình có người thân là người có công; cán bộ, công chức Chi cục Kiểm lâm có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị xử phạt bị cáo 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Trần Văn T: Đồng ý với Cáo trạng của VKSND tỉnh Quảng Trị truy tố đối với bị cáo về tội danh và khung hình phạt. Đề nghị HĐXX xem xét: Bị cáo nhận thức được hành vi sai phạm của mình, không có mục đích vụ lợi, lập khống chứng từ kế toán để giữ lại tiền khi nào có điều kiện sẽ tổ chức tập huấn, diễn tập; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, công việc ổn định. Đề nghị xử phạt bị cáo mức án 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
- Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người bào chữa của các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên tòa, một số người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có đơn xin xét xử vắng mặt hoặc vắng mặt không có lý do nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, đồng thời việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2]. Xét lời khai nhận hành vi của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:
Các bị cáo Trần Văn T, Lê Thanh T2, Nguyễn Thị Thùy D1, Nguyễn Ngọc T4 đã có hành vi lập khống hồ sơ, chứng từ kế toán, hợp thức hóa để rút tiền ngân sách nhà nước trong việc làm vách ngăn kính, tập huấn nghiệp vụ bảo vệ rừng, diễn tập phòng cháy chữa cháy rừng, in bản tin Kiểm lâm nên đã vi phạm Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 và khoản 1 Điều 13 Luật Kế toán năm 2015, trong đó: Trần Văn T với vai trò là Chi cục trưởng, chủ tài khoản đã thực hiện không đúng quy định của nhà nước về quản lý, thu chi ngân sách nhà nước, gây thiệt hại cho nhà nước số tiền 1.185.397.000 đồng; Lê Thanh T2 trực tiếp lập các hồ sơ, chứng từ kế toán khống gây thiệt hại cho nhà nước số tiền là 929.042.000 đồng; Nguyễn Thị Thùy D1 có hành vi giúp sức cho Lê Thanh T2 lập chứng từ kế toán khống để rút tiền gây thiệt hại cho nhà nước số tiền 190.100.000 đồng; Nguyễn Ngọc T4 thực hiện hợp thức hoá chứng từ để thanh toán nhiều hơn số lượng thực tế 3.000 bản tin Kiểm lâm gây thiệt hại cho nhà nước số tiền là 160.000.000 đồng.
Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị truy tố các bị cáo Trần Văn T, Lê Thanh T2, Nguyễn Thị Thùy D1, Nguyễn Ngọc T4 về tội “Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng” theo Điều 221 Bộ luật Hình sự, trong đó bị cáo T bị truy tố theo khoản 3, bị cáo T2 bị truy tố theo điểm d khoản 2, bị cáo D1 và bị cáo T4 bị truy tố theo điểm a khoản 1 của Điều luật là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Xét tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo:
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý Nhà nước trong lĩnh vực kế toán. Các bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện nên cần xử lý nghiêm.
[4]. Về vai trò của các bị cáo:
- Bị cáo Trần Văn T là Chi cục trưởng, chủ tài khoản, giữ vai trò chủ yếu trong việc đồng ý chủ trương lập khống hồ sơ, chứng từ kế toán để rút tiền ngân sách từ việc thanh toán tiền làm vách ngăn kính; tập huấn nghiệp vụ bảo vệ rừng, diễn tập PCCCR; in bản tin Kiểm lâm; sử dụng một phần số tiền có được để chỉ sửa chữa, bảo trì phòng làm việc, phòng, chống bão và một số hoạt động khác của cơ quan; bị cáo thực hiện không đúng quy định của nhà nước về quản lý, thu chi ngân sách nhà nước gây thiệt hại cho Nhà nước số tiền 1.185.397.000 đồng.
- Bị cáo Lê Thanh T2 là Trưởng phòng đã trực tiếp tham mưu, đề xuất bị cáo T việc lập khống hồ sơ, chứng từ để thanh toán tiền tập huấn nghiệp vụ bảo vệ rừng, diễn tập PCCCR; trực tiếp thực hiện cũng như phân công nhân viên dưới quyền thực hiện việc lập khống hồ sơ, chứng từ kế toán nên bị cáo giữ vai trò thực hành tích cực, gây thiệt hại cho Nhà nước số tiền 929.042.000 đồng.
- Các bị cáo Nguyễn Thị Thùy D1 và Nguyễn Ngọc T4 là nhân viên dưới quyền, thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của lãnh đạo cơ quan và quản lý phòng; biết việc lập khống chứng từ, hồ sơ để rút tiền ngân sách là sai phạm nhưng không báo cáo cơ quan, người có thẩm quyền xử lý mà vẫn thực hiện hành vi sai phạm nên là đồng phạm với vai trò giúp sức giản đơn, trong đó:
+ Bị cáo Nguyễn Thị Thùy D1 đã có hành vi giúp sức cho Lê Thanh T2 lập chứng từ kế toán khống để rút tiền gây thiệt hại cho Nhà nước số tiền 190.100.000 đồng;
+ Bị cáo Nguyễn Ngọc T4 là thư ký biên tập bản tin Kiểm lâm đã thực hiện hợp thức hoá chứng từ để thanh toán nhiều hơn số lượng thực tế 3000 bản tin Kiểm lâm, gây thiệt hại cho Nhà nước số tiền là 160.000.000 đồng.
[5]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS:
- Tình tiết tăng nặng: không có.
- Tình tiết giảm nhẹ:
+ Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
+ Bị cáo Trần Văn T đã tự nguyện khắc phục toàn bộ thiệt hại; có nhiều thành tích xuất sắc trong công tác được tặng thưởng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ năm 2015, Bằng khen của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Q, Bằng khen của Bộ trưởng Bộ N4 và được công nhận danh hiệu Chiến sỹ thi đua cơ sở nhiều năm; ngoài ra bố mẹ vợ của bị cáo được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba. Vì vậy, bị cáo được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
+ Bị cáo Lê Thanh T2 đã khắc phục hậu quả nộp lại số tiền 6.436.364 đồng; nhiều năm được công nhận danh hiệu chiến sỹ thi đua cơ sở, được tặng thưởng nhiều giấy khen trong công tác nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
+ Bị cáo Nguyễn Ngọc T4 được Bộ trưởng Bộ N4 tặng Bằng khen vì đã có nhiều thành tích xuất sắc đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và phát triển lực lượng Kiểm lâm tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2008 -2013 nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 BLHS.
+ Bị cáo Nguyễn Thị Thùy D1 được Công đoàn Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Q, Đoàn K1 các cơ quan và doanh nghiệp tỉnh tặng giấy khen trong công tác và các phong trào thi đua nên được thêm hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
Ngoài ra, cần xem xét thêm cho các bị cáo phạm tội không vì động cơ vụ lợi, tư lợi; phạm tội tại thời điểm tình hình bệnh Covid 19 và lũ lụt lịch sử nên không tập trung đông người để tổ chức được các đợt tập huấn, diễn tập theo kế hoạch; số tiền hợp thức hoá chứng từ rút từ ngân sách nhà nước được sử dụng một phần vào chi phí công việc chung của đơn vị, phần còn lại sẽ triển khai tập huấn, diễn tập khi đủ điều kiện; toàn bộ thiệt hại đã được các bị cáo khắc phục trước khi vụ án bị khởi tố; Chi cục Kiểm lâm và tập thể cán bộ, công chức, viên chức, người lao động của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Q có đơn xin giảm hình phạt cho các bị cáo nên các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
[6]. Xét tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và vai trò của các bị cáo, HĐXX thấy rằng:
Bị cáo Trần Văn T và Lê Thanh T2 được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS nên cần áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS để xử phạt các bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Ngoài ra, hai bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng và có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo và phù hợp với chính sách nhân đạo của nhà nước ta.
Bị cáo Nguyễn Thị Thùy D1 và Nguyễn Ngọc T4 có nhân thân tốt, là đồng phạm với vai trò giúp sức giản đơn, thực hiện hành vi phạm tội theo sự chỉ đạo của Lãnh đạo cơ quan, phòng. Do đó, chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo là phù hợp với vai trò, vị trí của các bị cáo trong vụ án. Xem xét hoàn cảnh gia đình của bị cáo D1 và bị cáo T4, thấy rằng: Bị cáo T4 đã ly hôn vợ, hiện đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 01 con nhỏ; bị cáo Dương hiện cũng đang nuôi dưỡng 01 con nhỏ, chồng bị cáo là nhân viên bán hàng của doanh nghiệp tư nhân, thu nhập không ổn định. Do đó, cần miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo.
[7]. Về trách nhiệm dân sự: Toàn bộ thiệt hại trong vụ án đã được các bị cáo khắc phục trước khi khởi tố vụ án nên HĐXX không xem xét.
[8]. Về các đối tượng liên quan:
- Đối với Hoàng Thị Hà G1 thủ quỹ Chi cục Kiểm lâm: việc G1 quản lý số tiền do T2 giao là theo sự chỉ đạo của T, việc chi số tiền trên như thế nào là do lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm quyết định. Sau khi chuyển công tác, G1 đã bàn giao số tiền này cho thủ quỹ mới. Vì vậy, không xem xét trách nhiệm của G1 trong vụ án này.
- Đối với 07 Hạt trưởng, Trạm trưởng Kiểm lâm gồm ông Lê Quang H2 (Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm H), ông Nguyễn Văn K (Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm thị xã Quảng Trị), ông Võ Văn S (Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm thành phố Đ3), ông Nguyễn Văn C1 (Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm G), ông Đoàn Văn P1 (Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm V), ông Trần Đại Đ (Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Đ), ông Bùi Văn D3 (Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm H): Theo phân công của Lê Thanh T2, các Hạt trưởng, Trạm trưởng nói trên đã chỉ đạo nhân viên kế toán và cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn lập chứng từ khống để thanh toán kinh phí cho các lớp diễn tập (từ 15.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng). Hành vi của các Hạt trưởng, Trạm trưởng nói trên đã vi phạm Luật Ngân sách nhà nước, Luật Kế toán năm 2015; tuy nhiên thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra là dưới 100.000.000 đồng, các cá nhân trên chưa bị xử lý kỷ luật, xử lý hành chính về hành vi vi phạm quy định về kế toán nên không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã có văn bản gửi Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Q đề nghị xem xét xử lý kỷ luật về Đảng và chính quyền đối với 07 Hạt trưởng, Trạm trưởng và các cá nhân khác có liên quan.
- Đối với bà Nguyễn Thị M2 là Kế toán trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Q (nghỉ hưu theo chế độ từ tháng 10/2020) không làm đúng trách nhiệm của mình, cố ý thực hiện trái các quy định của nhà nước về kế toán, thu chi ngân sách nhà nước, gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước số tiền 96.355.000 đồng. Tuy nhiên thiệt hại do bà M2 gây ra dưới 100 triệu đồng, bà M2 chưa bị xử lý kỷ luật hay xử lý hành chính về các hành vi vi phạm quy định của nhà nước về kế toán nên hành vi không đủ yếu tố cấu thành tội phạm.
- Đối với 02 doanh nghiệp làm vách ngăn là Công ty TNHH MTV M3 và Công ty TNHH S1: Các doanh nghiệp này đã thi công vách ngăn kính và hoàn trả tiền theo yêu cầu của Chi cục Kiểm lâm, 02 doanh nghiệp này không biết số tiền được hoàn trả lại Chi cục Kiểm lâm thực hiện vào nội dung gì, vì vậy không có trách nhiệm của 02 doanh nghiệp nêu trên trong vụ án này.
- Đối với các doanh nghiệp, hộ kinh doanh xuất hoá đơn khống và bán hoá đơn trái phép cho Chi cục Kiểm lâm và 07 Hạt, trạm Kiểm lâm, gồm: Công ty TNHH MTV Đ4; Công ty TNHH MTV N5; các hộ kinh doanh Trịnh Thị H5, Trần Thị Diệu H6, Hồ Sỹ T12, Nguyễn Thị Bích Đ2, Phạm Thị H8, Trần Việt Q, Dương Thị T13, Khương Trung D4, Hoàng Thị Hoài T14, Nguyễn Thị Miên T15, Hoàng Thị Ánh N2, Nguyễn Văn D5, Trần Thị T16, Trần Đức D6, Lê Đức T17, Lê Thị A1, Trần Thị T18. Xét thấy, số hoá đơn mà các đơn vị nêu trên xuất khống và bán trái phép dưới 10 tờ, thu lợi bất chính dưới 30.000.000 đồng, nên không xem xét trách nhiệm hình sự của các doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp và hộ kinh doanh nêu trên. Hành vi xuất khống hoá đơn và bán trái phép hoá đơn của các doanh nghiệp, hộ kinh doanh nêu trên có dấu hiệu vi phạm pháp luật hành chính về thuế, hoá đơn nên Cơ quan Cảnh sát điều tra thông báo về hành vi vi phạm trên cho Cục thuế tỉnh Q để chỉ đạo các đơn vị có liên quan kiểm tra, xử lý theo quy định của pháp luật.
- Đối với Trần Khánh T7 - kế toán trưởng Chi cục Kiểm lâm từ ngày 12/11/2020 (trước đó ông T7 là kế toán viên của Văn phòng Chi cục). Quá trình điều tra xác định bị cáo T và bị cáo T2 không trao đổi, bàn bạc, thoả thuận gì với T7 về việc lập chứng từ khống để thanh toán các khoản kinh phí diễn tập, tập huấn. Vì vậy, không có căn cứ để xem xét trách nhiệm trong vụ án này.
- Đối với Trần Quang P, Đoàn Viết C, Nguyễn Minh D2 (cán bộ Phòng QLBVR-BTTN) đã ký vào mục người mua hàng, người lập trên các hoá đơn, chứng từ kế toán theo chỉ đạo của Lê Thanh T2 để phục vụ thanh toán kinh phí diễn tập, tập huấn. Phục, C, D2 tin tưởng vào việc ký chứng từ là để rút tiền nhằm mục đích phục vụ cho diễn tập, tập huấn; còn việc diễn tập, tập huấn vào thời điểm nào thì do lãnh đạo CCKL quyết định. Đồng thời các cá nhân này cũng không tham gia vào việc rút số tiền nêu trên, không được hưởng lợi gì từ việc này. Số tiền trên các hồ sơ, chứng từ mà từng cá nhân ký lập là dưới 100.000.000 đồng; P, C, D2 chưa bị xử lý kỷ luật hay xử lý hành chính về các hành vi vi phạm quy định về kế toán nên không đủ cơ sở để xem xét trách nhiệm hình sự của P, C, D2 trong vụ án này. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã có văn bản gửi Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Q đề nghị xem xét xử lý kỷ luật về Đảng và chính quyền đối với P, C, D2.
- Đối với Nguyễn Văn T8 (kiểm lâm địa bàn - Hạt Kiểm lâm H) đã ký vào mục người lập trên 03 danh sách nhận tiền ăn liên quan đến nguồn kinh phí diễn tập. 03 danh sách này, T2 nhờ Thành lập, sau khi lập T8 ký vào mục người lập và chuyển cho T2. Tuyền sử dụng danh sách này vào mục đích gì, có tổ chức tập huấn hay không, T8 không biết. Vì vậy, không xem xét trách nhiệm của T8 trong vụ án này.
- Đối với Đinh Phú H4 - nhân viên Công ty I đã in cho Chi cục Kiểm lâm tỉnh Q 4.200 bản là theo yêu cầu của Chi cục Kiểm lâm. Ông H4 không biết việc ký kết hợp đồng và thanh toán tiền giữa các bên. Vì vậy, không có cơ sở xem xét trách nhiệm của ông H4 trong vụ án này.
[9]. Về biện pháp ngăn chặn:
Do các bị cáo được hưởng án treo và cải tạo không giam giữ nên cần áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để huỷ bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo.
[10]. Về xử lý vật chứng:
- Số tiền bị cáo T và bị cáo T2 nộp vào tài khoản của Thanh tra tỉnh đã được sung nộp ngân sách nhà nước nên HĐXX không xem xét.
- Số tiền 07 Hạt, Trạm Kiểm lâm nộp 345.000.000 đồng hiện có tại tài khoản của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị: cần sung nộp ngân sách nhà nước.
- Đối với chứng từ kế toán bản gốc là tài liệu chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo nên được lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
[11]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Trần Văn T, Lê Thanh T2, Nguyễn Thị Thùy D1, Nguyễn Ngọc T4 phạm tội: “Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng".
- Về hình phạt:
- - Áp dụng khoản 3 Điều 221; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 1, khoản 2 Điều 65 BLHS; xử phạt bị cáo Trần Văn T: 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 13/3/2025.
- Giao bị cáo Trần Văn T cho Ủy ban nhân dân Phường A2, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục.
- - Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 221; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 1, khoản 2 Điều 65 BLHS; xử phạt bị cáo Lê Thanh T2: 30 (ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Giao bị cáo Lê Thanh T2 cho Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục.
- Gia đình các bị cáo Trần Văn T, Lê Thanh T2 có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách của án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 và khoản 1, khoản 2 Điều 94 Luật thi hành án hình sự.
- Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- - Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 221; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thùy D1: 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh Q nhận được quyết định thi hành án. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Thị Thùy D1.
- Giao bị cáo Nguyễn Thị Thùy D1 cho Ủy ban nhân dân Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục.
- - Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 221; điểm v, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 BLHS, xử bị cáo Nguyễn Ngọc T4 07 (bảy) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh Q nhận được quyết định thi hành án. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Ngọc T4.
- Giao bị cáo Nguyễn Ngọc T4 cho Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục.
- Gia đình các bị cáo Nguyễn Thị Thùy D1 và Nguyễn Ngọc T4 có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự.
- Về biện pháp ngăn chặn:
- Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Hủy bỏ các Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 169, 170, 171, 172/2024/HSST-LCĐKNCT, ngày 11/12/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Trị lần lượt đối với các bị cáo Trần Văn T, Lê Thanh T2, Nguyễn Thị Thùy D1, Nguyễn Ngọc T4.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Số tiền 345.000.000 đồng (ba trăm bốn mươi lăm triệu đồng) (do các Hạt, Trạm Kiểm lâm giao nộp lại để khắc phục hậu quả).
- Số tiền này hiện có tại tài khoản số 3949.0.105.4172.00000 của Văn phòng Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị, theo Uỷ nhiệm chi số 01/2025 ngày 12/02/2025 của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu, môi trường (Phòng C3), Công an tỉnh Q.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Trần Văn T, Lê Thanh T2, Nguyễn Thị Thùy D1, Nguyễn Ngọc T4, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Việt Trung |
Bản án số 20/2025/HS-ST ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ về vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 20/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trầ Văn T cu ngf động phạm bị truy tố về tội k "Vi phạm quy định của nhà nước về kế toán gây hậu quả nghiêm trong"
