Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC LINH

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 20/2025/HS-ST

Ngày: 27-02-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Vân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Trọng Kim

Ông Nguyễn Đức Binh

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Tấn Sang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Đinh Công Quảng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Phạm Ngọc N, sinh năm 1995 tại Bình Thuận. Nơi cư trú: Thôn A, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận;

    Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Không xác định được; Con bà: Phạm Thị L, sinh năm: 1951; Phạm Ngọc N là con một trong gia đình. Bị cáo chưa có vợ con.

    Tiền án, Tiền sự: Không.

    Bị cáo hiện đang tại ngoại theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)

  2. Họ và tên: Bùi Hoàng Thanh P, sinh năm 2001 tại Bình Thuận. Nơi cư trú: Thôn A, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận;

    Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: lớp 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông:Nguyễn Hoàng T (đã chết);

    Con bà: Bùi Thị T1, sinh năm: 1965; gia đình có 03 anh chị em, Bùi Hoàng Thanh P là con thứ 3 trong gia đình. Bị cáo có vợ tên Hà Thị Thanh T2, sinh năm: 2005. Bị cáo chưa có con.

    Tiền án, Tiền sự: Không.

    Bị cáo hiện đang tại ngoại theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm: 2000; Nơi cư trú: Số nhà A, đường số A, tổ E, thôn H, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. (Có mặt)

Người làm chứng:

  • - Chị Trần Thị Hồng T3, sinh năm 2005; Nơi cư trú: Số nhà A, đường số A, tổ E, thôn H, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. (Có mặt)
  • - Lâm Thiên T4, sinh năm 2003; Nơi cư trú: Số nhà A, đường số A, tổ C, thôn F, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 15 phút ngày 13/9/2024 thực hiện cao điểm tấn công trấn áp tội phạm, Công an xã N tiến hành kiểm tra căn nhà số A, đường A, tổ E, thôn H, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận của Nguyễn Văn C. Công an xã N phát hiện tại phòng ngủ (phòng số 1) của Nguyễn Văn C có 04 đối tượng gồm Phạm Ngọc N, Bùi Hoàng Thanh P, Lâm Thiên T4 và Nguyễn Văn C, tại phòng bếp (phòng S) có Trần Thị Hồng T3. Công an xã N tiến hành kiểm tra thu giữ tại phòng ngủ của Nguyễn Văn C 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy và lập biên bản sự việc ghi nhận hiện trường, cụ thể như sau: Tại phòng ngủ ghi nhận Nguyễn Văn C đang nằm ngủ trên giường. Dưới nền có 03 đối tượng gồm Phạm Ngọc N ngồi ở cánh cửa ra vào phòng, Lâm Thiên T4 ngồi đối diện với N, Bùi Hoàng Thanh P ngồi tựa lưng vào giường ngủ của Nguyễn Văn C; Tại phòng bếp có Trần Thị Hồng T3 đang ru con ngủ trên võng.

Quá trình điều tra xác định được: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 13/9/2024, Bùi Hoàng Thanh P đến nhà Phạm Ngọc N rủ N đi chơi. Sau đó, P chở N đến nhà Nguyễn Văn C tại thôn H, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Khi đến nhà anh C, N và P thấy Nguyễn Văn C đang ngủ, còn Lâm Thiên T4 đang ngồi sử dụng điện thoại. Lúc này, Phạm Ngọc N và Bùi Hoàng Thanh P rủ nhau mua ma túy về sử dụng, P đưa cho N 20.000 đồng, Phạm Ngọc N góp 80.000 đồng. Phạm Ngọc N liên lạc với một người tên T5 (không rõ họ tên, địa chỉ) hỏi mua ma túy. Người tên T5 hẹn Phạm Ngọc N lấy ma túy tại sân vận động thuộc thôn F, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Phạm Ngọc N đi xe mô tô đến sân vận động gặp T5 và mua 100.000 đồng ma túy rồi mang về nhà Nguyễn Văn C. Khi mua ma túy về đến nhà Nguyễn Văn C thì Nguyễn Văn C vẫn còn nằm ngủ trên giường, Lâm Thiên T4 cũng nằm trong phòng của C và đang sử dụng điện thoại. Lúc này, Phạm Ngọc N và Bùi Hoàng Thanh P đi xuống nhà bếp, N đưa ma túy vừa mua cho P, N lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy (nỏ) của Nguyễn Văn C để trên kệ ti vi dưới nhà bếp của C đưa cho P, Bùi Hoàng Thanh P đỗ hết bịch ma túy vào nỏ, Phạm Ngọc N dùng quẹt ga hơ nỏ đến khi có làn khói trắng bay lên, Phạm Ngọc N cầm nỏ hít làn khói trắng bay lên từ nỏ vào trong người, sau đó đưa nỏ cho Bùi Hoàng Thanh P cùng hít. Khi N và P đang sử dụng ma túy thì Trần Thị Hồng T3 (là vợ Nguyễn Văn C) ôm con nhỏ đến và bảo Phạm Ngọc N và Bùi Hoàng Thanh P đi chổ khác. Phạm Ngọc N, Bùi Hoàng Thanh P bỏ bộ dụng cụ sử dụng ma túy tại khu vực bếp và đi lên phòng ngủ của Nguyễn Văn C. Trần Thị Hồng T3 cầm bộ dụng cụ sử dụng ma túy mà P và N vừa sử dụng lên bỏ trước phòng ngủ của Nguyễn Văn C, một lúc sau Công an xã N ập vào bắt quả tang.

Tang vật thu giữ gồm:

  • - 01 (một) ống thủy tinh uốn cong một đầu được thổi phồng hình cầu có bám dính chất màu nâu. Trong quá trình lập biên bản sự việc, ống thủy tinh bị rơi vỡ thành nhiều mảnh, bên trong các mảnh vỡ có bám dính chất màu nâu (Mẫu M) được niêm phong trong phong bì có chữ ký của Đặng Hoàng N1, Nguyễn Thanh T6, Phạm Ngọc N, Bùi Hoàng Thanh P và dấu tròn màu đỏ của Công an xã N.
  • - 01 (một) bật lửa màu trắng; 01 (một) bật lửa màu đỏ.

Tại Kết luận giám định số 1201/KL-KTHS ngày 25/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,0167gam là Methamphetamine (BL77).

Tại Phiếu xét nghiệm của Trung tâm y tế huyện Đ ngày 13/9/2024 xác định Bùi Hoàng Thanh P, Phạm Ngọc N dương tính với Định tính Amphetamine (BL 61-62).

Tại Cáo trạng số 09/CT-VKSĐL-HS ngày 16/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh đã truy tố bị cáo Phạm Ngọc N và Bùi Hoàng Thanh P về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh: Giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc N, Bùi Hoàng Thanh P phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • - Về hình phạt:
  • Áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc N mức án án từ 02 năm 6 tháng đến 03 năm tù.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Bùi Hoàng Thanh P mức án án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
  • - Về vật chứng:
  • Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
  • Tịch thu, tiêu hủy:
  • - 01 (một) ống thủy tinh và nhiều mãnh vỡ thủy tinh được niêm phong trong phong bì số 1201, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K công an tỉnh B
  • - 01 (một) bật lửa màu trắng; 01 (một) bật lửa màu đỏ.

- Ý kiến của các bị cáo: Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản sự việc; biên bản niêm phong đồ vật; biên bản xác định hiện trường; kết luận giám định; lời khai của người làm chứng và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở để xác định:

Vào khoảng 12 giờ 30 ngày 13/9/2024, tại nhà Nguyễn Văn C thuộc số A, đường A, thôn H, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận Công an xã N phát hiện bắt quả tang Phạm Ngọc N, Bùi Hoàng Thanh P có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Cụ thể, cùng ngày Phạm Ngọc N và Bùi Hoàng Thanh P cùng rủ nhau mau ma túy về sử dụng, P góp 20.000 đồng, N góp 80.000 đồng để mua ma túy. Phạm Ngọc N là người trực tiếp đi mua ma túy. Sau đó tại nhà Nguyễn Văn C, Phạm Ngọc N lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy (nỏ) của Nguyễn Văn C để trên kệ tivi đưa cho Bùi Hoàng Thanh P. Phạm Ngọc N đưa ma túy cho Bùi Hoàng Thanh P, P lấy ma túy bỏ vào nỏ, Nam hơ quẹt cho đến khi có làn khói trắng bốc lên từ nỏ, N hít làn khói trắng rồi đưa cho P cùng hít. Theo Kết luận giám định số 1201/KL-KTHS ngày 25/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, chất rắn màu nâu (ký hiệu M) mà Phạm Ngọc N và Bùi Hoàng Thanh P sử dụng là Methamphetamine, đây là chất nằm trong danh mục các chất ma túy quy định tại Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. Do đó hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người và đúng tội.

Xét thấy hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý về các chất ma túy của Nhà nước, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, các bị cáo góp phần làm phức tạp thêm tình hình an ninh trật tự tại địa phương, là gánh nặng cho gia đình và xã hội. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, trong suốt quá trình điều tra và xét xử bị cáo nhận thức rõ được hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào là hành vi vi phạm pháp luật và bị nghiêm cấm, nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu bản thân. Do đó cần có mức hình phạt thật nghiêm minh để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành một công dân tốt có ích cho xã hội và cũng để răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

[2.1] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

  • - Về tình tiết tăng nặng: Không có.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Phạm Ngọc N, Bùi Hoàng Thanh P thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • - Về nhân thân: Bị cáo Phạm Ngọc N, Bùi Hoàng Thanh P không có tiền án, tiền sự nên Hội đồng xét xử nhận định các bị cáo có nhân thân tốt.

[2.2] Về hình phạt chính: Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích và phòng ngừa chung cho xã hội. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo Phạm Ngọc N giữ vai trò quan trọng, bị cáo N góp tiền mua ma túy nhiều hơn và trực tiếp liên hệ và đi mua ma túy để sử dụng. Do đó cần áp dụng mức hình phạt đối bị cáo Nam cao hơn là phù hợp với quy định của pháp luật.

[2.3] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có công việc ổn định, không có tài sản nên không xem xét phạt tiền.

[3] Về xử lý vật chứng:

  • - 01 (một) ống thủy tinh và nhiều mãnh vỡ thủy tinh được niêm phong trong phong bì số 1201, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K công an tỉnh B là vật cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
  • - 01 (một) bật lửa màu trắng; 01 (một) bật lửa màu đỏ là vật không còn giá trị sử dụng, do đó cần tịch thu, tiêu hủy.

[5] Đối với đối tượng tên T5 theo lời khai của Phạm Ngọc N: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tiến hành xác minh nhưng chưa làm rõ được nhân thân lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh và xử lý sau.

[6] Đối với Nguyễn Văn C, Lâm Thiên T4, Trần Thị Hồng T3: Trong suốt quá trình Bùi Hoàng Thanh P và Phạm Ngọc N tổ chức sử dụng ma túy tại nhà Nguyễn Văn C thì Nguyễn Văn C nằm ngủ, Lâm Thiên T4 sử dụng điện thoại cá nhân. Nguyễn Văn C và Lâm Thiên T4 không biết và cũng không tham gia tổ chức sử dụng ma túy cùng Phạm Ngọc N và Bùi Hoàng Thanh P. Việc Phạm Ngọc N, Bùi Hoàng Thanh P lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy của Nguyễn Văn C và tổ chức sử dụng ma túy tại nhà C là tự ý, không có sự đồng ý của Nguyễn Văn C; Trần Thị Hồng T3 có chứng kiến việc Bùi Hoàng Thanh P và Phạm Ngọc N tổ chức sử dụng ma túy, T3 không tham gia và la đuổi Bùi Hoàng Thanh P và Phạm Ngọc N đi nơi khác. Do đó hành vi của Nguyễn Văn C, Lâm Thiên T4, Trần Thị Hồng T3 không có căn cứ xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.

[7] Xét các đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, áp dụng điều luật, hình phạt, xử lý vật chứng: Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên cần chấp nhận.

[8] Về án phí: Các bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Tuyên bố các bị cáo Phạm Ngọc N, Bùi Hoàng Thanh P phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

  • - Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bắt thi hành án.
  • - Xử phạt bị cáo Bùi Hoàng Thanh P 02 (hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bắt thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu, tiêu hủy:

  • - 01 (một) ống thủy tinh và nhiều mãnh vỡ thủy tinh được niêm phong trong phong bì số 1201, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K công an tỉnh B.
  • - 01 (một) bật lửa màu trắng; 01 (một) bật lửa màu đỏ.

(Vật chứng trên đang lưu giữ tại chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 06/02/2025)

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc các bị cáo Nguyễn Nhật N3, Bùi Hoàng Thanh P mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 27/02/2025).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - Cơ quan CSĐT công an huyện Đức Linh;
  • - Nhà tạm giữ công an huyện Đức Linh;
  • - Chi cục THADS huyện Đức Linh;
  • - Bị cáo; Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu VP, HSVA./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thu Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về vụ án hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 20/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Ngọc N, Bùi Hoàng Thanh P -"Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger