|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU Bản án số: 20/2025/HS-ST Ngày 21-02-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thu Hiền
Các hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Hậu
- Ông Nguyễn Văn Thuận
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số 13/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Tấn D; sinh ngày 20/02/1990 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nơi cư trú: thôn T, xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Thợ cắt tóc; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tấn A (đã chết) và bà Trần Thị M, sinh năm 1963, bị cáo có vợ là Lê Thị T (đã ly hôn) và 02 người con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2018; Tiền sự: Không; Tiền án: Không.
Bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên toà).
- Bị hại: Bà Phan Lệ C, sinh năm 1982
Địa chỉ: ấp S, xã S, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 40 phút ngày 17/9/2018, Nguyễn Tấn D điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision màu đen, BKS: 59C1-552.00, đi từ huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về nhà tại thôn T, xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Khi đi đến khu vực thuộc ấp S, xã S, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, D thấy bà Phan Lệ C đang điều khiển xe máy đi một mình cùng chiều phía trước, trong túi quần trước bên trái của bà C có một điện thoại di động hiệu S Grand Prime, bị hở một phần ra ngoài nên D nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại trên của bà C. D liền điều khiển xe mô tô chạy từ phía sau lên áp sát bên trái xe bà C rồi dùng tay phải giật chiếc điện thoại trong túi quần của bà C nhưng bị bà C phát hiện, nhanh tay giữ chiếc điện thoại lại nên D không lấy được điện thoại và điều khiển xe bỏ chạy. D điều khiển xe chạy về nhà tại thôn T, xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Sau đó, D để lại chiếc xe mô tô ở nhà rồi bỏ trốn khỏi địa phương.
Ngày 24/9/2024, Nguyễn Tấn D đã đến Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 188/KL của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự UBND thị xã P, kết luận: 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy Grand Prime, được mua vào khoảng tháng 3/2017 tính đến ngày 17/9/2018 có giá trị là 2.093.000 đồng.
- Về xử lý vật chứng:
Cơ quan CSĐT đã thu giữ 01 xe mô tô Honda Vision màu đen, BKS: 59C1-552.00, số khung, số máy (không rõ) tại nhà của Nguyễn Tấn D. D khai nhận xe mô tô trên do D mượn của một người bạn (không rõ nhân thân, lai lịch). Hiện vật chứng trên đã được chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ bảo quản chờ xử lý.
- Về trách nhiệm dân sự: Bà Phan Lệ C không yêu cầu bị cáo bồi thường gì đồng thời xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại bản Cáo trạng số 20/CT-VKS ngày 10 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ đã truy tố Nguyễn Tấn D về tội: “Cướp giật tài sản” theo điểm d Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ thực hiện quyền công tố trình bày lời luận tội đã phân tích, đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi của bị cáo gây ra; phân tích nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn D phạm tội “Cướp giật tài sản”, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm d Khoản 2 Điều 171, điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 65; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Tấn D mức án 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô Honda Vision màu đen, BKS: 59C1-552.00, thu giữ tại nhà của Nguyễn Tấn D. D khai nhận xe mô tô trên do D mượn của một người bạn (không rõ nhân thân, lai lịch). Quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu của chiếc xe nên cần trả lại cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã P tiếp tục điều tra, xác minh chủ sở hữu, khi có kết quả xử lý sau.Về trách nhiệm dân sự: Bà C không có yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét giải quyết.Tại phiên tòa, Nguyễn Tấn D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo đúng như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ đã truy tố và không có ý kiến gì về luận tội của Kiểm sát viên. Bị cáo nói lời sau cùng xin được Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về tố tụng:
Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Trong quá trình điều tra, truy tố; Cơ quan điều tra, điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, các tài liệu, chứng cứ được thu thập đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi cũng như quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về tội danh và điều luật truy tố:
Lời khai nhận tội tại phiên tòa của Nguyễn Tấn D phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 12 giờ 40 phút ngày 17/9/2018 tại khu vực ấp S, xã S, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Nguyễn Tấn D đã có hành vi điều khiển xe mô tô BKS: 59C1-552.00 chạy áp sát xe mô tô của bà Phan Lệ C rồi dùng tay phải giật chiếc điện thoại S trị giá 2.093.000 đồng của bà C đang để trong túi quần phía trước bên trái nhưng bị bà C phát hiện dùng tay giữ lại nên D chưa chiếm đoạt được tài sản.
Do đó hành vi phạm tội của Nguyễn Tấn D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Như vậy, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân:
[3.1]. Về tình tiết tăng nặng: Không có.
[3.2]. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã ra đầu thú về hành vi phạm tội của mình, bà C có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo hiện là lao động chính trong gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Do đó, cần áp dụng điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[3.3]. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
[4]. Về mức hình phạt: Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây nguy hiểm cho bị hại và người đi đường, ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội tại địa phương. Bị cáo là công dân đã trưởng thành, ý thức hành vi chạy xe thực hiện hành vi cướp giật tài sản của người khác là nguy hiểm và trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Tuy nhiên cần xem xét quá trình thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa chiếm đoạt được tài sản, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, có vợ đã ly hôn và hiện nay bị cáo đang trực tiếp nuôi 02 con trong độ tuổi đến trường có xác nhận của chính quyền địa phương, bị cáo hiện có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo. Do đó cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ để giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung, thể hiện tính khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo.
[5]. Về trách nhiệm dân sự: Bà C không yêu cầu bị cáo bồi thường. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6]. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô hiệu HONDA số loại Vision, màu đen, BKS: 59C1-552.00, qua xác minh nguồn gốc phương tiện xác định người đăng ký chủ sở hữu đối với BKS: 59C1-552.00 là bà Nguyễn Thị Thu H. Bà H khai trước đây bà là chủ sở hữu của chiếc xe mô tô nhãn hiệu FUSIN, số loại C110, màu đen xám, BKS: 59C1-552.00, năm 2018 bà đã bán lại xe cho một tiệm mua xe cũ tại thành phố Hồ Chí Minh. Bị cáo D xác định vào năm 2018 bị cáo mượn chiếc xe trên của một người bạn ngoài xã hội (không rõ nhân thân, lai lịch). Đến nay Cơ quan cảnh sát điều tra vẫn chưa xác minh được chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe trên nên Hội đồng xét xử cần trả lại cho Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh chủ sở hữu hợp pháp, khi có kết quả sẽ xử lý sau.
[7]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tấn D phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tấn D phạm tội “Cướp giật tài sản”;
1. Áp dụng điểm d Khoản 2 Điều 171; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn D 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án (ngày 21/02/2025).
Giao bị cáo Nguyễn Tấn D cho Ủy ban nhân dân xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp Nguyễn Tấn D thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, nếu phạm tội mới thì phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Bộ luật hình sự.
2. Về xử lý vật chứng: Giao trả cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu HONDA, số loại Vision, màu đen, được gắn biển số: 59C1-552.00, số máy và số khung đã bị tẩy xoá nên không xác định được, xe đã cũ, hư hỏng và không hoạt động. (Theo phiếu trả lời xác minh xe gắn biển số 59C1-552.00 là xe nhãn hiệu FUSIN, số loại C110, màu đen xám, số máy: 152FMH-359329, số khung: VDTDCH015DT-359329, thông tin xe khác hoàn toàn với xe giao nhận thực tế).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 39/BB-CCTHADS ngày 10/01/2025 giữa Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ và Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Phú Mỹ).
3. Về án phí Hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Tấn D phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
4. Trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thu Hiền |
Bản án số 20/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về cướp giật tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 20/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tấn D phạm tội Cướp giật tài sản
