|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TRÀ VINH TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 20/2025/HS-ST
Ngày: 18 - 02 - 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh S
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Kiên Ngọc T
Ông Trần Văn Ú
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Vũ L, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh tham gia phiên tòa:
Ông Tưởng Phước L - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 122/2024/HSST ngày 13 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 05/2025/HSST-QĐ, ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 10 tháng 9 năm 1999, tại tỉnh Trà Vinh.
Nơi cư trú: ấp T, xã H, huyện C, tỉnh T; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: nữ; con ông Nguyễn Văn B (chết) và bà Đào Thị H, sinh năm 1968; chồng: Nguyễn Thành C, sinh năm 1997; con: 02 người, lớn nhất sinh năm 2018, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án: không: tiền sự: không; bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
Lê Thị Thanh D, sinh năm 1998 (có mặt).
Nơi cư trú: ấp L, xã T, huyện T, tỉnh T.
Người làm chứng:
1/Huỳnh Thị Hồng H, sinh năm 1996 (vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp Đ, xã P, huyện T, tỉnh T.
2/Tạ Thị Kim C, sinh năm 1998 (vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp Q, xã H, huyện C, tỉnh T.
3/Nguyễn Thị Thuỳ N, sinh năm 1992 (vắng mặt)
Nơi cư trú: số 363, khóm 8, phường Q, thành phố T, tỉnh T.
4/Lương Thị Bé D, sinh năm 2003 (vắng mặt)
Nơi cư trú: đường 2B, khóm 2, phường W, thành phố T, tỉnh T.
5/Huỳnh Thị Ngọc T, sinh năm 2002 (vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp H, xã P, huyện C, tỉnh T.
6/Tô Anh T1, sinh năm 1990 (vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp 7A, xã A, huyện C, tỉnh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ ngày 18 tháng 4 năm 2024, do có mâu thuẫn trên mạng xã hội Facebook nên bị cáo Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 10 tháng 9 năm 1999, nơi thường trú ấp T, xã H, huyện C, tỉnh T và chị Lê Thị Thanh D, sinh năm 1998, nơi thường trú ấp L, xã T, huyện T, tỉnh T có hẹn nhau đến đoạn đường không tên, trước đại lý bia Phú Lộc thuộc khóm 4, phường 1, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh để giải quyết mâu thuẫn. Sau khi bị cáo N đi ăn cùng hai người bạn là Huỳnh Thị Hồng H, sinh ngày 20 tháng 3 năm1996, nơi thường trú ấp Đ, xã P, huyện T, tỉnh T và Tạ Thị Kim C, sinh ngày 25 tháng 7 năm 1998, cư trú ấp Q, xã H, huyện C, tỉnh T, khi về đến đoạn đường trước đại lý bia Phú Lộc bị cáo Nh gặp chị D để nói chuyện, còn H và C ngồi chờ bị cáo trên ghế đá gần đó.
Khi đến điểm hẹn thì bị cáo N thấy nhóm của D có 05 người gồm: (1) Huỳnh Thị Ngọc T, sinh ngày 05 tháng 10 năm 2002, nơi thường trú ấp H, xã P, huyện C, tỉnh T; (2) Lương Thị Bé D, sinh ngày 01 tháng 01 năm 2003, nơi thường trú số 42, khóm 5, phường Q, thành phố T, tỉnh T; (3) Nguyễn Thị Thùy N, sinh ngày 12 tháng 01 năm 1992, nơi thường trú khóm 4, thị trấn C, huyện T, tỉnh T; (4) Tô Anh T, sinh ngày 11 tháng 9 năm 1990, nơi thường trú ấp 7A, xã A, huyện C, tỉnh T và (5) Lê Thị Thanh D.
Trong lúc bị cáo N và chị D nói chuyện với nhau có xảy ra cự cải dẫn đến đánh nhau, chị D xông vào dùng tay không đánh bị cáo N trước nhưng bị cáo đỡ được nên không trúng, chị D tiếp tục dùng chân phải đá trúng vùng ngực bị cáo Nhung, lúc này bị cáo N liền lấy cây dao chiều dài 15,7cm, cán dao màu xanh dài 8,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 7,2cm mang theo sẵn trong người ra cầm trên tay phải bằng cách mũi dao hướng xuống đâm về phía người chị D nhiều lần theo hướng từ trên xuống, từ trái qua phải và ngược lại trúng vào khu vực vai phải, đùi phải của chị D gây vết thương làm chảy máu, sau đó chị T1 và chị N đến căn ngăn
thì hai bên không còn đánh nhau, còn chị Bé D thì đưa chị D vào bệnh viện đa khoa tỉnh Trà Vinh cấp cứu.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 178/KLTTCT-2024 ngày 25 tháng 6 năm 2024 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Trà Vinh kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019, của Bộ trưởng Bộ Y tế Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, giám định Pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của nạn nhân Lê Thị Thanh D tại thời điểm giám định là: 12% (Mười hai phần trăm) áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
Cơ chế hình thành vết thương trên người nạn nhân Lê Thị Thanh D là:
- Do ngoại lực tác động trực tiếp.
- Vật gây ra thương tích trên là: Vật cứng có cạnh sắc nhọn.
- Hướng tác động từ trên xuống.
Về tình tiết tăng nặng: Không
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, tự nguyện bồi thường thiệt hại và bị hại Lê Thị Thanh D có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, gia đình bị cáo có cha ruột là ông Nguyễn Văn B là người có công với cách mạng được Chủ tịch nước tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất, Huân chương chiến sĩ vẽ vang hạng ba; Thủ tướng Chính phủ tặng Kỷ niệm chương Chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù, đầy. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được xem xét cho bị cáo.
Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) cây dao chiều dài 15,7cm, cán dao màu xanh dài 8,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 7,2cm.
Xử lý vật chứng: Không
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 15 tháng 7 năm 2024, bị cáo Nguyễn Thị Hồng N đã bồi thường phần trách nhiệm dân sự số tiền 100.000.000 đồng cho chị Lê Thị Thanh D, chị D đã nhận đủ số tiền và làm đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Nhung.
Trong vụ án trên, chị Lê Thị Thanh D đã có hành vi dùng chân phải đá trúng vùng ngực của bị cáo N nhưng không gây ra thương tích. Quá trình điều tra, bị cáo Nhung không yêu cầu xử lý đối với hành vi của chị D. Tuy nhiên, xét thấy hành vi của chị D đã vi phạm vào điểm a, khoản 5, điều 7, Nghị định 144/2021/NĐ-CP, ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chính Phủ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Trà Vinh đã đề nghị Trưởng Công an thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi của Lê Thị Thanh D bằng hình thức phạt tiền, mức phạt 6.500.000 đồng.
- Đối với Huỳnh Thị Hồng H, Tạ Thị Kim C, Huỳnh Thị Ngọc T, Lương Thị Bé D, Nguyễn Thị Thùy N, Tô Anh T1 không có tham gia đánh nhau và cũng
không biết trước vụ đánh nhau giữa bị cáo N và chị D sẽ diễn ra nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét xử lý.
Tại bản Cáo trạng số: 06/CT-VKS-HS ngày 10 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh đã truy tố Nguyễn Thị Hồng N về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Hồng N phạm tội “Cố ý gây thương tích” như bản Cáo trạng đã nêu. Sau khi phân tích, đánh giá các tình tiết, chứng cứ của vụ án và nhân thân của bị cáo. Vị đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b,s khoản 1,khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hồng N từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Đồng thời đề nghị xử lý tang vật chứng và buộc bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Trà Vinh, Điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Thị Hồng N đã khai nhận: Do có mâu thuẩn trước đó, nên bị cáo và chị Lê Thị Thanh D có hẹn nhau đến đoạn đường không tên, trước đại lý bia Phú Lộc thuộc khóm 4, phường 1, thành phố Trà Vinh để giải quyết mâu thuẩn. Vào khoảng 17 giờ ngày 18 tháng 4 năm 2024 bị cáo Nguyễn Thị Hồng N và chị D gặp nhau tại điểm hẹn, tại đây khi gặp nhau hai bên tiếp tục xảy ra cải nhau, chị D liền dùng chân phải đá trúng vào vùng ngực của bị cáo, bị cáo liền lấy cây dao chiều dài 15,7cm, cán dao màu xanh dài 8,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 7,2cm mang theo sẵn trong người ra cầm trên tay phải đâm về phía người chị D nhiều cái trúng vào khu vực vai phải, đùi phải của chị D gây thương tích với tỷ lệ thương tật là 12% (Mười hai phần trăm).
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người bị hại và tang vật chứng đã thu giữ. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Thị Hồng N đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Như Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng không bổ sung tài liệu, đồ vật và không đề nghị triệu tập thêm người tham gia tố tụng. Xác định tư cách người tham gia tố tụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Xét thấy bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh truy tố bị cáo Nguyễn Thị Hồng N về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là phù hợp với quy định của pháp luật, không oan, không sai.
[4] Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của người khác. Trong vụ án này mặc dù giữa bị cáo và bị hại có mâu thuẩn không lớn nhưng bị cáo đã dùng dao một loại hung khí nguy hiểm đâm vào người chị D dẫn đến tổn hại thương tật là 12%, hành vi của bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến trật tự chung. Do đó, cần xử lý nghiêm đối với bị cáo để nhằm răn đe phòng ngừa chung.
Tuy nhiên; khi phạm tội bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã khắc phục hậu quả cho bị hại số tiền 100.000.000 đồng; bị hại cũng có lỗi; bị hại làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Mặc khác, bị cáo có cha là ông Nguyễn Văn B được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất và đang nuôi 02 con nhỏ. Nghĩ nên xem đây là những tình tiết giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo đề nghị của Viện kiểm sát là có cơ sở.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Lê Thị Thanh D đã nhận 100.000.000 đồng tiền khắc phục hậu quả từ bị cáo và tại phiên tòa hôm nay chị D không có yêu cầu. Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Đối với người làm chứng: chị Huỳnh Thị Hồng H, Tạ Thị Kim C, Nguyễn Thị Thùy N, Lương Thị Bé D, Huỳnh Thị Ngọc T và Tô Anh T1 có lời khai phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra.
[6] Về vật chứng: 01 cây dao chiều dài 15,7cm, cán dao màu xanh dài 8,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 7,2cm là công cụ bị cáo dùng để thực hiện tội phạm. Nghĩ nên tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo, bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Hồng N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hồng N 02 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm, kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn Thị Hồng N cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh T giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Lê Thị Thanh D không có yêu cầu, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 cây dao chiều dài 15,7cm, cán dao màu xanh dài 8,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 7,2cm.
Căn cứ: Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Nguyễn Thị Hồng N nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án sơ thẩm xử công khai, báo cho bị cáo, bị hại biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Thanh S |
Bản án số 20/2025/HS-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TRÀ VINH về hình sự sơ thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 20/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Hồng N phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hồng N 02 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm, kể từ ngày tuyên án.
