|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 112/2025/HS-ST
Ngày: 03 - 3 -2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Đông;
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Đăng Vạn;
- Ông Mai Thanh Giàu;
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Tân, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị H - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai, vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
1. Họ tên: Bùi Ngọc T Tên gọi khác: Không có Giới tính: Nam
Sinh năm: 1994 Tại: Hà Nội
Hộ khẩu thường trú: Đội 8, Thôn T, P, M, Hà Nội.
Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không
Nghề nghiệp: Thợ xăm Trình độ học vấn: 08/12
Họ và tên cha: Bùi Ngọc H1 Sinh năm 1966
Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị M. Sinh năm 1971
A, chị, em ruột: Gia đình có 02 người con, bị can là con thứ nhất.
Vợ: Hoàng Thị Thắm S năm 1998
Con: Bùi Tường Vi S1 năm 2016
Con: Bùi Ngọc Minh H2 Sinh năm 2018
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ ngày 03/08/2024 sau đó chuyển sang tạm giam từ ngày 12/08/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Họ tên: Huỳnh Trọng NTên gọi khác: Không có Giới tính: Nam
Sinh năm: 1988 Tại: Thành phố Hồ Chí Minh
Hộ khẩu thường trú: số I T, Khu phố A, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Phật giáo
Nghề nghiệp: Không Trình độ học vấn: 12/12
Họ và tên cha: Huỳnh Văn L Sinh năm 1956
Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Y Sinh năm 1958
A, chị, em ruột: Gia đình có 02 người con, bị can là con thứ 2.
Vợ: Trần Hồng Xa S2 năm 1990
Con: Huỳnh Ngọc Như Ý Sinh năm 2018
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 10/6/2011, Ủy ban nhân dân Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định số 57/QĐ-UBND áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chấp hành xong ngày 28/05/2013.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 12/8/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Họ tên: Lê Văn Phi H3 Tên gọi khác: Không có Giới tính: Nam
Sinh năm: 1955 Tại: Thành phố Hồ Chí Minh
Hộ khẩu thường trú: số I N, khu phố G, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nơi cư trú: A 34/12H QL 50, ấp B, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; (BL: 202)
Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không
Nghề nghiệp: Không Trình độ học vấn: 01/12
Họ và tên cha: Thái Phi H4 (đã chết)
Họ và tên mẹ: Hồ Thị N1 (đã chết)
Anh, chị, em ruột: Gia đình có 04 người con, bị can là con thứ nhất.
Vợ: Lê Thị Ngọc Hồng S3 năm 1977
Con: Lê Hồng P Sinh năm 2011
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 03/8/1995, Lê Văn Phi H3 bị Tòa án nhân dân Quận 8 xử phạt 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự theo Bản án số 106/STHS. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/7/2005, đã đóng án phí.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 12/8/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 14 giờ 50 phút ngày 03/08/2024, Bùi Ngọc T điều khiển xe mô tô biển số 29K4 - 5714 có biểu hiện nghi vấn nên Tổ tuần tra 363 Công an thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra T phát hiện trên xe của T có 01 hộp giấy catton bên trong có 01 gói nylong bên trong chứa chất bột màu trắng là ma túy và 01 kim tiêm chưa sử dụng. Công an phường B đã lập biên bản quả tang đối với Bùi Ngọc T về hành vi trên.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Bùi Ngọc T khai nhận: Ngày 03/08/2024 T nhắn tin với Huỳnh Trọng N qua Zalo Huỳnh N2 để mua ma túy về sử dụng và được giao qua xe ôm công nghệ. T sử dụng tài khoản ngân hàng V số 1018287864 tên Bùi Ngọc T chuyển tiền 800.000 đồng vào số tài khoản số 0906072122 BV B tên Huỳnh Trọng N. Sau đó T đến địa điểm nhận ma túy tại địa chỉ số C N, Khu phố B, phường A, thành phố T, trên đường về thì bị tổ 363 Công an thành phố T kiểm tra phát hiện bắt giữ. Ngoài ra T khai trước đây cũng mua ma túy từ N 04 lần đến 05 lần, mỗi lần mua với giá 800.000 đồng và sử dụng số tài khoản trên chuyển tiền vào tài khoản 9906072122 Ngân hàng V tên Huỳnh Trọng N.
Qua truy xét phát hiện Huỳnh Trọng Nghĩa là đối tượng bán ma túy cho Bùi Ngọc T. Quá trình kiểm tra N tự nguyện giao nộp 01 gói nylong chứa chất bột màu trắng (nghĩa khai là H5). Huỳnh Trọng N khai nhận: gói ma túy trên N mua của Lê Văn Phi H3 tại khu vực Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh về sử dụng và bán lại cho Bùi Ngọc T khi có nhu cầu. T và N có quen biết nhau trước đây, Khi T có nhu cầu sử dụng ma túy sẽ chuyển tiền cho N vào tài khoản cá nhân Nghĩa số tài khoản ngân hàng V số 9906072122 và BV B số 0906072122 cùng đứng tên Huỳnh Trọng N. Khi nhận tiền xong N liên lạc với H3 qua số điện thoại 0933.534.xxx để mua ma tuý, N đến dưới chân cầu N, Quận H theo điểm hẹn để gặp trực tiếp và giao dịch mua bán ma túy với H3, thanh toán bằng tiền mặt, mỗi lần mua với giá 450.000 đồng và bán lại cho T 800.000 đồng, hưởng chênh lệch 350.000 đồng. N thừa nhận bán ma tuý cho Bùi Ngọc T khoảng 04 đến 05 năm lần.
Mở rộng truy xét tiến hành mời Lê Văn Phi H3 về trụ sở Công an P2, Quận H, thành phố Hồ Chí Minh để làm việc. H3 khai bán vé số dạo quanh khu vực Quận H, thành phố Hồ Chí Minh, ngoài ra H3 còn mua ma tuý để bán cho Huỳnh Trọng N. Hồng đến hẻm I N, Phường A, Quận H, thành phố Hồ Chí Minh để gặp mặt trực tiếp người phụ nữ (không rõ lai lịch) hỏi mua ma tuý và thanh toán cho người phụ nữ bằng tiền mặt với giá 400.000 đồng. Sau đó bán lại cho N với giá 450.000 đồng, H3 chỉ bán ma tuý cho N và bán khoảng 04 đến 05 lần, không bán cho ai khác.
Kết luận giám định số 9286/KL-KTHS ngày 09/08/2024 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận: Chất bột màu trắng được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,4432 gam ma túy loại Heroine (thu của Bùi Ngọc T). (Bút lục 279)
Kết luận giám định số 9361/KL-KTHS ngày 14/08/2024 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận: Bột màu trắng được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,3176g gam ma túy loại Heroine (thu của Huỳnh Trọng N). (Bút lục 280)
Kết luận giám định số 9473/KL-KTHS ngày 14/08/2024 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận: Bột màu trắng được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,4451g gam ma túy loại Heroine (thu của Lê Văn Phi H3). (Bút lục 281)
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng:
* Thu giữ của Bùi Ngọc T:
- - 01 hộp giấy catton hình chữ nhật; 01 túi nylong có quai xách; 01 kim tiêm chưa qua sử dung; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax;
- - 01 gói niêm phong bên trong chứa mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: Bột màu trắng có khối lượng 0,4010 gam là H5 có chữ ký của giám định viên Võ La Bảo Y1.
- - 01 xe mô tô biển số 29K4 – 5714. Qua xác minh xe trên của bà Nguyễn Thị L1 đứng tên chủ sở hữu. Qua làm việc bà L1 cho biết có đứng tên giùm cho người cháu dưới quê xe trên để đi lại, giấy tờ và xe bà L1 đã giao hết cho người cháu. Do đã lâu nên bà L1 không còn nhớ thông tin về người cháu cũng như xe trên. Bùi Ngọc T khai nhận xe trên T mua lại của một người không rõ lai lịch với giá 16.000.000 đồng vào năm 2021. (Bút lục 248-250, 254-256, 273).
* Thu của Huỳnh Trọng N:
- - 01 điện thoại di động hiệu Samsung A11, màu đen;
- - 01 gói niêm phong bên trong chứa mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: Bột màu trắng có khối lượng 0,2884 gam là H5 có chữ ký của giám định viên Huỳnh Thanh T1.
* Thu của Lê Văn Phi H3
- - 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A10, màu xanh; 01 điện thoại di động hiệu Nokia 6700 màu đen;
- - 01 gói niêm phong bên trong chứa mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: Bột màu trắng có khối lượng 0,4101 gam là H5 có chữ ký của giám định viên Lê Thị H6.
- - 01 xe mô tô ba bánh tự chế gắn biển số 53P8-7259. Qua xác minh xe trên của ông Bùi Đình D địa chỉ 3 P, Phường E, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên chủ sở hữu. Qua xác minh không có đương sự tên Bùi Đình D sống tại địa chỉ trên. Lê Văn Phi H3 khai nhận xe trên mua tại vựa ve chai (không nhớ địa chỉ) trên địa bàn Quận H để di chuyển hằng ngày. (Bút lục 245-246, 258, 274)
(Vật chứng đang lưu kho theo Biên bản giao nhận tang tài vật số 160 ngày 17/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức)
Cáo trạng số: 74/CT-VKSTPTĐ ngày 16 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố bị cáo Bùi Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2915 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Truy tố Huỳnh Trọng N; Lê Văn Phi H3 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2915 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Tại phiên tòa:
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T giữ nguyên nội dung Bản cáo trạng số 74/CT-VKSTĐ ngày 16/01/2025 và đề nghị:
- - Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; xử phạt: Bùi Ngọc T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- - Áp dụng Khoản 2, Khoản 5 Điều 251; xử phạt:
- Huỳnh Trọng N từ 08 tám năm 06 tháng đến 09 năm về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
- Lê Văn Phi H3 từ 09 chín năm 06 tháng đến 10 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
- Buộc Huỳnh Trọng N; Lê Văn Phi H3 mỗi người nộp phạt từ 5.000.000đ (Năm triệu đồng) đến 10.000.000đ (mười triệu đồng);
- - Vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xử lý theo Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
- - Trách nhiệm chịu án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
- - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi thực hiện tố tụng; Quyết định tiến hành tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo xác nhận không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xem xét hành vi phạm tội của các bị cáo. Do vậy; Hội đồng tiếp tục xét xử theo khoản 2 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; biên bản bắt người và các chứng cứ, tang vật khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 14 giờ 50 phút ngày 03/08/2024 tại trước số D N, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Công an phường B, thành phố T bắt quả tang Bùi Ngọc T tàng trữ 0,4432 gam loại Heroine. T khai mua từ Huỳnh Trọng N về để sử dụng. Hành vi nêu trên của Bùi Ngọc T đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Cơ quan điều tra khám xét thu giữ của Huỳnh Trọng N 0,3176g ma tuý loại Heroin. N khai mua của Lê Văn Phi H3 về sử dụng và bán lại cho các con nghiện. N khai nhận đã bán ma túy cho T 04 đến 05 lần. Mỗi lần bán N thu lời từ 200.000 đến 350.000đ. Hành vi nêu trên của Huỳnh Trọng N đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Khám xét người Lê Văn Phi H3, Cơ quan Công an thu giữ 0,4451g ma tuý loại Heroin. Số ma túy này H3 khai mua của người không quen biết về bán lại kiếm lời, và thừa nhận đã bán ma túy cho Huỳnh Trọng N 04 đến 05 lần. Mỗi lần bán thu lời từ 200.000 đến 350.000đ. Hành vi nêu trên của Lê Văn Phi H3 đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Khoản 2 Điều 251 quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ,...”. Tuy nhiên; Xét bị cáo Huỳnh Trọng N; Lê Văn Hồng P1 mỗi người thu lợi bất chính 350.000₫ x 4= 1.400.000đ; bản thân không có việc làm ổn định, sức khỏe yếu nên buộc mỗi bị cáo chịu mức phạt 5.000.000₫ là phù hợp.
Đối với người bán ma túy cho Lê Văn Phi H3, hiện chưa biết nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
[3] Các bị cáo nhất trí với tội danh, điều luật, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đã truy tố và luận tội tại phiên tòa. Như vậy, Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố bị cáo Bùi Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Huỳnh Trọng N; Lê Văn Phi H3 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền quản lý các chất gây nghiện của cơ quan nhà nước, không đúng nếp sống văn minh của xã hội. Tuy nhiên xét các bị cáo thành khẩn khai báo, Lê Văn P1 H3 là người khuyến khuyết mất một chân, sức khỏe yếu. Bùi Ngọc T, Huỳnh Trọng N có cha mẹ già yếu nên áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
[5] Về vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Tịch thu tiêu hủy các công cụ, phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội:
Tịch thu sung công quỹ nhà nước: Số tiền thu lợi bất chính từ việc mua bán trái phép chất ma túy.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
[7] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào Điều 249; Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Bùi Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Huỳnh Trọng N; Lê Văn Phi H3 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt Bùi Ngọc T 01(Một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn từ tính từ ngày 03/8/2024.
Áp dụng Khoản 2, Khoản 5 Điều 251; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; xử phạt;
Huỳnh Trọng N 08 (T2) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 12/8/2024.
Lê Văn Phi H3 08 (T2) năm 06 (S4) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 12/8/2024.
Buộc Huỳnh Trọng N; Lê Văn Phi H3 mỗi bị cáo nộp phạt 5.000.000đ (Năm triệu đồng) và 1.400.000đ (Một triệu bốn trăm đồng) tiền thu lợi bất chính.
2. Căn cứ vào Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy các công cụ, phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội:
- - 01 hộp giấy catton hình chữ nhật; 01 túi nylong có quai xách; 01 kim tiêm chưa qua sử dung; 01 gói niêm phong bên trong chứa mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: Bột màu trắng có khối lượng 0,4010 gam là H5 có chữ ký của giám định viên Võ La Bảo Y1. 01 gói niêm phong bên trong chứa mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: Bột màu trắng có khối lượng 0,2884 gam là H5 có chữ ký của giám định viên Huỳnh Thanh T1. 01 gói niêm phong bên trong chứa mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: Bột màu trắng có khối lượng 0,4101 gam là H5 có chữ ký của giám định viên Lê Thị H6. 01 xe mô tô ba bánh tự chế gắn biển số 53P8-7259.
Tịch thu sung công quỹ nhà nước:
- - 01 xe mô tô biển số 29K4 – 5714. 01 điện thoại di động hiệu Samsung A11, màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax; 01 điện thoại di động hiệu S5 A10, màu xanh; 01 điện thoại di động hiệu Nokia 6700 màu đen;
(Vật chứng đang lưu kho theo Biên bản giao nhận tang tài vật số 160 ngày 17/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức;
3. Căn cứ Điều 106;135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc:
Bùi Ngọc T; Huỳnh Trọng N; Lê Văn Phi H3 mỗi người phải chịu 200,000₫ (Hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm;
4. Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Đông |
Bản án số 112/2025/HS-ST ngày 03/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự
- Số bản án: 112/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 13 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai, vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 605/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024
