|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 20/2025/HS-ST Ngày: 20-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Vũ Bình.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đặng Thành Nam.
Ông Bùi Văn Sinh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị T, sinh ngày 01-01-1974 tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1952 (chết) và con bà Trần Thị T1, sinh năm 1954 (chết); Anh chị em ruột: 06 người, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; có chồng Huỳnh M T2sinh năm 1972 (đã ly hôn); có một người con sinh năm 2001; tiền án: Chưa có; tiền sự: Chưa có; Tạm giam: Không; Tạm giữ: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Công ty cổ phần C
Địa chỉ: Ấp R, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T2– Chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn T3 ông Nguyễn Văn T4– Chức vụ: Chuyên viên quản lý dự án Công ty cổ phần C (có mặt).
Các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Lê Thị Kim T5 sinh năm 1982 (có mặt).
- Phạm Văn T6sinh năm 1972 (có mặt).
- Phạm Thanh D1sinh ngày 17-9-2007 (có mặt).
Cùng cư trú: Ấp R, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp
Người đại diện hợp pháp của Phạm Thanh D1là chị Lê Thị Kim T6 năm 1982 và anh Phạm Văn T7 năm 1972 (cha và mẹ ruột của D1 (có mặt).
Các người làm chứng:
- Phù Văn T7sinh năm 1980 (có mặt).
Cư trú: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp
- Nguyễn Huỳnh S năm 1967 (có mặt).
Cư trú: Ấp R, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty cổ phần C1 chỉ: Ấp R, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Thápcó hợp đồng thuê bị cáo Nguyễn Thị T nấu cơm cho công nhân Công ty ăn hàng ngày.
Ngày 04-12-2024, bị cáo Nguyễn Thị T đã lén lút trộm cắp tài sản các thanh sắt của Công ty bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Khoảng 14 giờ, ngày 04-12-2024, bị cáo T lấy điện thoại; nhãn hiệu Samsung; màu xanh số 0395538459 gọi cho chị Lê Thị Kim T8 số 0981337794, ngụ ấp R, xã T là người mua phế liệu, ve chai; hỏi “cưng có mua phế liệu hay không”, T5trả lời “ừ”; bị cáo T nói “xuống công ty cân ve chai”; T5hỏi “cân ve chai gì”; bị cáo T trả lời “cân mấy thanh sắt” thì T5đồng ý. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, T5kêu con ruột là Phạm T9 D1chạy xe mô tô không nhớ biển số kéo theo xe đẩy đến Công ty thì bị cáo T ra mở cửa chính rồi D1chạy vào nhà kho nơi để các thanh sắt. Lúc này, bị cáo Thỏi D1“cân bao nhiêu tiền một ký”; D1nói “1 ký là 7.000 đồng”; bị cáo T đồng ý, chỉ cho D1cân 23 thanh sắt đã lựa sẵn trước đó. Sau đó, D1đem lần lượt các thanh sắt để lên cân đồng hồ loại 100kg để cân, khoảng 05 phút sau, ông Phù V T7nhân viên bảo vệ của Công ty đi chăm sóc cây xanh gần đó về gặp D1đang
cân sắt đến khiêng tiếp khoảng 02 đến 03 thanh sắt để lên cân, rồi hỏi D1“sắt này em mua hả gì” D1trả lời “sắt này cô bán” rồi ông T7bỏ đi, ông T7không biết bị cáo T trộm cắp rồi bán. Khi cân xong, D1thông báo cho bị cáo Thà là 23 thanh sắt có tổng trọng lượng là 234kg với số tiền là 1.638.000 đồng, bị cáo T lấy 1.500.000 đồng, còn 138.000 đồng bị cáo T cho D1 và D1chở sắt đến nhà bà nội tên Nguyễn Thị N dưới sàn nhà không có ai ở, rồi chạy xe về nhà của D1.
Lần thứ hai: Khoảng 15 giờ cùng ngày, bị cáo T gọi cho T5nói “em ơi xuống cân cho chị một xe nữa nhe” T5đồng ý; T5kêu D1chạy xuống Công ty cân sắt nữa nên D1điều khiển xe mô tô kéo theo xe đẩy chạy đến nơi cân sắt trước đó, lúc này bị cáo T chỉ 28 thanh sắt đã lựa sẵn trước đó. D1đem lần lượt các thanh sắt để lên cân đồng hồ loại 100kg để cân. Khi cân xong, D1thông báo cho bị cáo Thà là 28 thanh sắt có tổng trọng lượng là 205kg với số tiền là 1.435.000 đồng, bị cáo T lấy 1.300.000 đồng, còn 135.000 đồng cho lại D1và D1chở về để chung với các thanh sắt đã mua trước đó.
Đến khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 17-12-2024, ông Nguyễn Văn T10 quản lý Công ty cổ phần C2 kiểm tra phát hiện sắt bị mất nên đến Công an trình báo sự việc. Do nghi vấn bị cáo Thà là người lấy trộm nên Công an mời bị cáo T về làm việc, tại đây bị cáo T thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu trên.
Trong quá trình điều tra, người đại diện Công ty cổ phần C3 ông Nguyễn Văn T4 cho rằng bị mất trộm tổng cộng 362 thanh sắt, 11 thanh Inox, 02 kệ Inox, nhưng qua điều tra bị cáo Nguyễn Thị T11 thừa nhận trộm cắp tổng cộng 51 thanh sắt.
Vật chứng của vụ án thu giữ:
- 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung, màu xanh, bên trong có sim số 0395538459 đã qua sử dụng do bị cáo Nguyễn Thị T giao nộp.
- 23 thanh sắt, đã qua sử dụng, gồm: 06 thanh sắt vuông, có ghi chữ Tôn Đ, kích thước 100mm x 100mm, độ dày 1,4mm, chiều dài 06 mét; 08 thanh sắt vuông, có ghi chữ Tôn Đ, kích thước 90mm x 90mm, độ dày 1,4mm, chiều dài 06 mét; 03 thanh sắt hình chữ nhật, có ghi chữ Tôn Đ, kích thước 50mm x 100mm, độ dày 1,4mm, chiều dài 06 mét; 06 thanh sắt hình chữ nhật, có ghi chữ Tôn Đ, kích thước 40mm x 80mm, độ dày 1,4mm, chiều dài 06 mét.
- 28 thanh sắt, đã qua sử dụng, gồm: 12 thanh sắt hình chữ nhật, có ghi chữ Tôn Đ, kích thước 40mm x 80mm, độ dày 1,4mm, chiều dài 4,56 mét; 02 thanh sắt vuông, có ghi chữ Tôn Đ, kích thước 90mm x 90mm, độ dày 1,4mm, chiều dài 4,5 mét; 01 thanh sắt vuông, có ghi chữ Tôn Đ, kích thước 90mm x 90mm, độ dày 1,4mm, chiều dài 4,03 mét; 02 thanh sắt vuông, có ghi chữ Tôn Đ, kích thước 90mm x 90mm, độ dày 1,4mm, chiều dài 3,2 mét; 01 thanh sắt chữ U, kích thước 50mm x 100mm, độ dày 1,4mm, chiều dài 4,97 mét, tất cả các thanh sắt trên do Phạm Thanh D1giao nộp.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 04/KL-HĐĐG, ngày 07 tháng 02 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T:
- 06 thanh sắt vuông, có ghi chữ Tôn Đ, kích thước 100mm x 100mm, độ dày 1,4mm, chiều dài 06 mét, đã qua sử dụng. Giá trị định giá 405.000 đồng/cây x 6 cây = 2.433.600 đồng.
- 08 thanh sắt vuông, có ghi chữ Tôn Đ, kích thước 90mm x 90mm, độ dày 1,4mm, chiều dài 06 mét, đã qua sử dụng. Giá trị định giá 333.600 đồng/cây x 8 cây = 2.668.800 đồng.
- 03 thanh sắt hình chữ nhật, có ghi chữ Tôn Đ, kích thước 50mm x 100mm, độ dày 1,4mm, chiều dài 06 mét, đã qua sử dụng. Giá trị định giá 275.200 đồng/cây x 3 cây = 825.600 đồng.
- 18 thanh sắt hình chữ nhật, có ghi chữ Tôn Đ, kích thước 40mm x 80mm, độ dày 1,4mm, chiều dài 06 mét, đã qua sử dụng. Giá trị định giá 219.200 đồng/cây x 18 cây = 3.945.600 đồng.
- 10 thanh sắt hình chữ nhật, có ghi chữ Tôn Đ, kích thước 40mm x 80mm, độ dày 1,4mm, chiều dài 4,56 mét, đã qua sử dụng. Giá trị định giá 219.200 đồng/cây x 10 cây = 2.192.000 đồng
- 02 thanh sắt vuông, có ghi chữ Tôn Đ, kích thước 90mm x 90mm, độ dày 1,4mm, chiều dài 4,5 mét, đã qua sử dụng. Giá trị định giá 250.200 đồng/cây x 2 cây = 500.400 đồng.
- 01 thanh sắt vuông, có ghi chữ Tôn Đ, kích thước 90mm x 90mm, độ dày 1,4mm, chiều dài 4,03 mét, đã qua sử dụng. Giá trị định giá 224.000 đồng/cây x 1 cây = 224.000 đồng.
- 02 thanh sắt vuông, có ghi chữ Tôn Đ, kích thước 90mm x 90mm, độ dày 1,4mm, chiều dài 3,2 mét, đã qua sử dụng. Giá trị định giá 250.200 đồng/cây x 2 cây = 500.400 đồng.
- 01 thanh sắt chữ U, kích thước 50mm x 100mm, độ dày 1,4mm, chiều dài 4,97 mét, đã qua sử dụng. Giá trị định giá 227.900 đồng/cây x 1 cây = 227.900 đồng. Tổng giá trị tài sản là 13.518.300 đồng.
Tại Cáo trạng số: 19/CT-VKSTH ngày 19-5-2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị T12 tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Nguyễn Thị T thừa nhận toàn bộ hành vi của bị cáo như nội dung Cáo trạng truy tố, bị cáo thừa nhận hành vi của bị cáo là có lỗi và vi phạm pháp luật.
Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện Công ty cổ phần C3 ông Nguyễn Văn T4 cho rằng bị mất trộm tổng cộng 362 thanh sắt, 11 thanh Inox, 02 kệ Inox nhưng bị cáo Nguyễn Thị T11 thừa nhận trộm cắp tổng cộng 51 thanh sắt. Ông Nguyễn Văn T13 nhất theo trình bày của bị cáo T14 thanh sắt bị mất trộm còn lại khi nào cơ quan Điều tra làm việc được sẽ yêu cầu xử lý sau, không yêu cầu bồi thường gì khác và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phần luận tội, Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Nguyễn Thị T12 tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; người đại diện của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ đó, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T15 án từ 09 tháng tù đến 01 năm tù.
Đối với Lê Thị Kim T5là người mua sắt và Phạm Thanh D1là người cân, chở sắt của bị cáo T16 tổng cộng 51 thanh sắt, còn Phù V T7là người cân tiếp các thanh sắt cùng với D1, những người này không biết các thanh sắt nêu trên do bị cáo Ttrộm cắp mà có nên không xem xét xử lý với vai trò đồng phạm cùng với bị cáo Thà là phù hợp.
Đối với ông Phạm Văn T17 mua các thanh sắt của hai người đàn ông lạ mặt, không biết tên và địa chỉ cụ thể, khi mua ông Tócũng không hỏi tài sản từ đâu có, cơ quan Điều tra chưa làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xem xét, xử lý sau và thống nhất giao nộp các sắt, không yêu cầu gì khác.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản xong không yêu cầu gì và các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng không yêu cầu gì, nên không xem xét, giải quyết.
Đối với số tiền 2.800.000 đồng, số tiền mà chị T5mua 51 thanh sắt của bị cáo T18 bị cáo T21 trả lại cho chị T5xong, nên không xem xét, giải quyết.
Đối với số tiền 273.000 đồng mà bị cáo T19 D1bị cáo Tkhông yêu cầu D1trả lại, nên không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung; màu xanh; bên trong có sim số 0395538459 đã qua sử dụng, đây là công cụ dùng vào việc phạm tội.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với số tiền 273.000 đồng là số tiền bị cáo T19 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Thanh D1đây là số tiền do phạm tội mà có.
Đối với 23 thanh sắt, đã qua sử dụng, gồm: 06 thanh sắt vuông, có ghi chữ Tôn Đ, kích thước 100mm x 100mm, độ dày 1,4mm, chiều dài 06 mét; 08 thanh sắt vuông, có ghi chữ Tôn Đ, kích thước 90mm x 90mm, độ dày 1,4mm, chiều dài 06 mét; 03 thanh sắt hình chữ nhật, có ghi chữ Tôn Đ, kích thước 50mm x 100mm, độ dày 1,4mm, chiều dài 06 mét; 06 thanh sắt hình chữ nhật, có ghi chữ Tôn Đ, kích thước 40mm x 80mm, độ dày 1,4mm, chiều dài 06 mét và đối với 28 thanh sắt, đã qua sử dụng, gồm: 12 thanh sắt hình chữ nhật, có ghi chữ Tôn Đ, kích thước 40mm x 80mm, độ dày 1,4mm, chiều dài 06 mét; 10 thanh sắt hình chữ nhật, có ghi chữ Tôn Đ, kích thước 40mm x 80mm, độ dày 1,4mm, chiều dài 4,56 mét; 02 thanh sắt vuông, có ghi chữ Tôn Đ, kích thước 90mm x 90mm, độ dày 1,4mm, chiều dài 4,5 mét; 01 thanh sắt vuông, có ghi chữ Tôn Đ, kích thước 90mm x 90mm, độ dày 1,4mm, chiều dài 4,03 mét; 02 thanh sắt vuông, có ghi chữ Tôn Đ, kích thước 90mm x 90mm, độ dày 1,4mm, chiều dài 3,2 mét; 01 thanh sắt chữ U, kích thước 50mm x 100mm, độ dày 1,4mm, chiều dài 4,97 mét, đây là tài sản của Công ty cổ phần C4 Cảnh sát điều tra đã trả lại cho người đại diện của bị hại là ông Nguyễn Văn T10 phù hợp.
Tại phần tranh luận bị cáo; người đại diện của bị hại; các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo biết mình có tội, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng, Kiểm sát viên trong quá trình tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Từ khi khởi tố vụ án cho đến tại phiên tòa sơ thẩm những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Xét thấy các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Thị T20 hợp với nội dung Cáo trạng truy tố; phù hợp với lời khai của người đại diện của bị hại; các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; các người làm chứng; kết luận định giá tài sản, vật chứng thu giữ được và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, qua tranh tụng đã đủ cơ sở kết luận vào ngày 04-12-2024 bị cáo Nguyễn Thị T21 nhiều lần có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của bị hại là Công ty cổ phần C tổng cộng 51 thanh sắt, tổng giá trị định giá tài sản là 13.518.300 đồng.
[3] Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người trên 18 tuổi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đầy đủ năng lực hành vi chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Thị T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
[4] Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại được pháp luật bảo vệ, chỉ vì muốn có tiền tiêu xài mà bị cáo đã trộm cắp tài sản của bị hại, hành vi của bị cáo đã gây lo lắng trong cộng đồng dân cư và gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành
công dân tốt, có như thế mới thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời cũng nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo, về nhân thân, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; người đại diện của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo làm thuê, không có tài sản và đại diện Viện kiểm sát không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
Đối với Lê Thị Kim T5là người mua sắt và Phạm Thanh D1là người cân, chở sắt của bị cáo T16 tổng cộng 51 thanh sắt, nhưng không biết các thanh sắt nêu trên do bị cáo Ttrộm cắp mà có nên không xem xét xử lý với vai trò đồng phạm cùng với bị cáo Thà là phù hợp.
Đối với anh Phù V T7là bảo vệ Công ty, nhưng tại thời bị cáo T22 trộm sắt anh T7được phân công đi chăm sóc cây xanh chỗ khác không có mặt, khi về thì có cân tiếp 02 đến 03 thanh sắt cùng với D1, nhưng anh T7không biết bị cáo T23 cắp sắt để bán, nên không xem xét xử lý là phù hợp.
Đối với ông Phạm Văn T17 mua các thanh sắt của hai người đàn ông lạ mặt, không biết tên và địa chỉ cụ thể, khi mua ông Tócũng không hỏi tài sản từ đâu có, cơ quan Điều tra chưa làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xem xét, xử lý sau và thống nhất giao nộp các sắt, không yêu cầu gì khác.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản xong không yêu cầu gì và các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng không yêu cầu gì, nên không xem xét, giải quyết là phù hợp theo quy định pháp luật.
Đối với số tiền 2.800.000 đồng, số tiền mà chị T5mua 51 thanh sắt, hiện bị cáo T21 trả lại cho chị T5xong, nên không xem xét, giải quyết là phù hợp theo quy định pháp luật.
Đối với số tiền 273.000 đồng mà bị cáo T19 D1bị cáo Tkhông yêu cầu D1trả lại, nên không xem xét, giải quyết là phù hợp quy định pháp luật.
[8] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung; màu xanh; bên trong có sim số 0395538459 đã qua sử dụng, đây là công cụ dùng vào việc phạm tội.
Đối với số tiền 273.000 đồng là số tiền bị cáo T19 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Thanh D1sau khi hai lần cân sắt xong, đây là số tiền do bị cáo T24 tội mà có, buộc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Thanh D1nộp để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Đối với 51 thanh sắt, đã qua sử dụng đây là tài sản của Công ty cổ phần C4 Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị hại người đại diện của bị hại là ông Nguyễn Văn T25 xong, nên không xem xét, xử lý là phù hợp theo quy định pháp luật.
[9] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30- 12- 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Thị T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[10] Xét thấy phát biểu luận tội và đề nghị xử lý vụ án của vị đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T26 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung; màu xanh; bên trong có sim số 0395538459 đã qua sử dụng.
(Vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng đang quản lý, theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21-5-2025).
Buộc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Thanh D1 nộp số tiền 273.000 đồng để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30- 12- 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Thị T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người đại diện có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 20-6-2025).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Vũ Bình |
Bản án số 20/2025/HS-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 20/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù.
