Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/HS-ST

Ngày: 19 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thế Tương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Anh Dũng và bà Phạm Thị Ánh Nguyệt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Ngoan - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Bình - Kiểm sát viên

Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 08/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 03 năm 2025 đối với:

Bị cáo: Vũ Trần T, sinh năm 1989 tại xã H, huyện V, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Số nhà D, ngõ F, đường Đ, tổ F, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Vũ Hồng Q sinh năm 1958 và con bà Trần Thanh M sinh năm 1959; Có vợ là Nguyễn Thị T1, sinh năm 1990 và 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Từ tháng 10/2007 đến tháng 8/2009 đi bộ đội đóng quân tại T - Sư đoàn C - Quân khu C1. Sau đó học Trung cấp điện tại trường Đại học Đ1. Từ năm 2013 đến năm 2017, đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Ngày 17/11/2005 bị Công an thành phố T ra Quyết định xử phạt hành chính “Cảnh cáo” về hành vi gây thương tích. Ngày 30/01/2011, G tổn hại sức khỏe cho người khác bị Công an thành phố ra Quyết định xử phạt hành chính số 157 ngày 25/3/2011 phạt 1.000.000 đồng (chấp hành xong ngày 05/7/2011). Từ năm 2018 đến nay sinh sống và lao động tự do tại địa phương. Bị cáo được áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Anh ZHONG ZHAO BIN (Chung Triệu B), sinh năm 2006; Nơi cư trú: Số H đường T, thị trấn T, thành phố T, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc.
  • - Anh Lê Quang M1, sinh năm 1989; Nơi cư trú: Tổ B, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
  • - Anh Trần Văn T2, sinh năm 1980; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã M, huyện K, tỉnh Thái Bình.
  • - Anh Phạm Ngọc M2, sinh năm 2002; Nơi cư trú: Tổ D, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
  • - Bà Trần Thanh M, sinh năm 1959; Nơi cư trú: SN D,ngõ F, tổ F, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
  • - Anh Huỳnh Cảnh G1, sinh năm 1988; Nơi cư trú: Số H, ngõ G, ngách A, đường H, phường M, quận C, thành phố Hà Nội.

(Người liên quan vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 10/2024, Vũ Trần T sử dụng tài khoản Facebook “Hết Chấm” đăng tải bài viết lên các trang mạng xã hội với nội dung có xe ô tô KIA moning, loại 04 chỗ ngồi nhận chở khách thuê, kèm theo số điện thoại 0947.120.xxx. Sau khi đăng tải, có một người đàn ông không quen biết nói giọng miền B1 gọi điện thoại trao đổi với T, nội dung người này có mối khách người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam cần đưa vào thành phố Hồ Chí Minh và hỏi T có nhận chở khách không. T đồng ý nên người đàn ông xin tài khoản Zalo để liên hệ. T hướng dẫn người này kết bạn Zalo qua số điện thoại 0947.120.xxx. Để phục vụ công việc chở khách thuê xe, T mua 01 sim điện thoại di động số thuê bao là 0568.228.481 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen để sử dụng.

Khoảng 23 giờ ngày 19/10/2024, người đàn ông liên hệ với T cho biết có 04 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam, khoảng 07 giờ ngày 20/10/2024, sẽ đến khu vực cao tốc Hà Nội - Hải Phòng hẹn T đi đón, đưa đến địa điểm khách yêu cầu, tiền công chở khách là 16.000.000 đồng và người này chuyển vào tài khoản số 0211000496979 của T mở tại Ngân hàng V chi nhánh T4 16.000.000 đồng. Do là chuyến đầu tiên nhận chở khách nên T sử dụng ứng dụng Google map đi đến Cao tốc Hà Nội - Hải Phòng. Khi đi qua một trạm thu phí, T dừng xe tại làn đường khẩn cấp nghỉ ngơi và cung cấp biển số xe, chia sẻ qua ứng dụng Zalo vị trí định vị cho người đàn ông thuê chở. Khoảng 08 giờ ngày 20/10/2024, có 01 xe ô tô 07 chỗ nhãn hiệu Inova, màu đen dừng tại vị trí T dừng xe (T không nhớ biển số xe), có 02 người đàn ông Trung Quốc khoảng hơn 20 tuổi lên xe của T. Qua ứng dụng Google dịch, T hỏi họ muốn đi đâu thì 02 người này yêu cầu đưa họ đi thành phố Hồ Chí Minh để làm việc. Trung liên hệ qua Zalo với người đàn ông thuê chở thông báo đã đón được 02 khách Trung Quốc thì người này gửi vị trí định vị, yêu cầu T đến địa điểm theo vị trí định vị để đón 02 khách Trung Quốc còn lại tại khu vực C Hà Nội - Hải Phòng. T điều khiển xe ô tô đi đến địa điểm chỉ định đón 02 người đàn ông Trung Quốc lên xe. Qua ứng dụng Google dịch 02 người Trung Quốc này cho biết muốn đến thành phố Hà Nội trong đó có 01 người mượn điện thoại của T để gọi điện cho người thân. T cho người này mượn điện thoại di động N màu đen lắp sim số 0568.228.481 sử dụng. Theo sự chỉ dẫn trên ứng dụng Google map, T chở 02 người Trung Quốc đến khu vực quận L, thành phố Hà Nội, 02 người đàn ông Trung Quốc xuống xe, không biết 02 người này đi đâu, làm gì.

T tiếp tục điều khiển xe ô tô chở 02 người Trung Quốc còn lại về tỉnh Thái Bình để liên hệ thuê xe khách đưa họ vào thành phố Hồ Chí Minh. Khoảng 12 giờ cùng ngày khi đến huyện V, tỉnh Thái Bình do không mang theo căn cước công dân, mặt khác 02 người Trung Quốc trên xe vượt biên trái phép vào Việt Nam, không có hộ chiếu, giấy tờ nên Trung liên hệ nhờ bạn là anh Lê Quang M1, sinh năm 1989, trú tại tổ B, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình thuê giúp nhà nghỉ cho khách. M1 đồng ý, nói với T đến khách sạn H, tại phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Khi đến khách sạn, T nhờ M1 sử dụng thẻ căn cước công dân đăng ký phòng nghỉ, dẫn 02 người Trung Quốc lên phòng. Khi 02 người Trung Quốc nhận phòng, T và M1 ra về. T biết nhà xe A có chuyến khởi hành từ bến xe thành phố T đi thành phố Hồ Chí Minh vào lúc 02 giờ 30 phút sáng ngày 21/10/2024 nên Trung liên hệ theo số điện thoại 0564.222.xxx của nhà xe đặt 02 vé đi thành phố Hồ Chí Minh. Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 21/10/2024, do M1 thuê phòng tại khách sạn H nên T nhờ M1 đến khách sạn H trả phòng để T đón khách. T trả tiền phòng hết 345.000 đồng, lên đón khách thì chỉ thấy còn 01 người đàn ông Trung Quốc. Qua ứng dụng Google dịch, người đàn ông Trung Quốc cho biết người kia đã được chủ đón đi. T đưa người đàn ông Trung Quốc còn lại tên Z (tên gọi theo tiếng Việt Nam là Chung Triệu B) đến cầu Phúc Khánh, thành phố T giao cho phụ xe 1.200.000 đồng, T hưởng lợi 14.455.000 đồng. Sau đó bị Công an tỉnh T kiểm tra bắt giữ.

Bản Cáo trạng số 17/CT-VKS ngày 14/01/2025 truy tố bị cáo Vũ Trần T về tội “Tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép” quy định tại khoản 1 Điều 348 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trong bản Cáo trạng và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo có cơ hội sớm được trở về với gia đình và xã hội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị:

  • - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Trần T về tội “Tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép".
  • - Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 348; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 65 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 năm đến 04 năm.
  • - Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu trắng hồng, bên trong có 01 sim số thuê bao là 0947.120.789; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen (đã qua sử dụng) bên trong có 01 sim số thuê bao là 0568.228.481.
  • - Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền thu lợi bất chính 14.455.000 đồng bị cáo T đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình (biên lai số 0003498 ngày 08/01/2025).

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thấy việc làm của mình là sai, bị cáo rất ăn năn hối cải, bị cáo mong Hội đồng xét xử mức hình phạt nhẹ nhất cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là đều hợppháp.

Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do, xét thấy họ đã có đủ lời khai tại Cơ quan điều tra nên căn cứ vào Điều 292 và Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Tại phiên toà, bị cáo Vũ Văn T3 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã xác định. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của những người liên quan và còn được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ như: Công văn số 845/PA08 ngày 23/10/2024 của Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh T chuyển tin báo tội phạm kèm theo tài liệu đến Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh T đề giải quyết theo thẩm quyền (bút lục số 28); Công văn số 856/PA08 ngày 24/10/2024 của Phòng quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh T; Biên bản trích xuất dữ liệu Camera ninh của khách sạn H do Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh T, thể hiện Vũ Trần T chở 02 người đàn ông Trung Quốc đến khách sạn H, sau đó Lê Quang M1 thuê phòng tại khách sạn (bút lục từ số 219 đến số B); Sao kê số tài khoản 0211000496979 của Vũ Trần Trung M3 tại Ngân hàng V1 chi nhánh T4, thể hiện ngày 20/10/2024, T nhận 16.000.000 đồng, nội dung “020097042210201233242024EBZJ969072.45317.123325.T57125186 HUYNH CANH GIANG transfer- Ma GD ACSP/ZJ969072 chuyển đến” (bút lục từ số 115 đến số 136); cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

[3] Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 19/10/2024, Vũ Trần T được một người đàn ông không rõ tên, tuổi địa chỉ liên hệ qua điện thoại Zalo thuê chở 04 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam từ khu vực Cao tốc Hà Nội - Hải Phòng đến địa điểm mà khách yêu cầu, trả công 16.000.000 đồng. Sáng ngày 20/10/2024, T đi đến đường C - Hải Phòng đón 04 người Trung Quốc. T đưa 02 người đến thành phố Hà Nội, chở 02 người Trung Quốc còn lại về nghỉ tại khách sạn H, phường H, thành phố T để thuê xe khách đưa người vào thành phố Hồ Chí Minh. Trong qúa trình ở khách sạn 01 người Trung Quốc được người khác đón đưa đi; 01 người Trung đặt vé xe khách của nhà xe A chở vào thành phố Hồ Chí Minh hết 1.200.000 đồng, T hưởng lợi 14.455.000 đồng. Sau đó bị Công an tỉnh T kiểm tra, bắt giữ. Vì vậy, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Vũ Trần T về tội “Tội tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép” quy định tại khoản 1 Điều 348 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.

Điều luật quy định như sau:

Điều 348. Tội tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép

“1. Người nào vì vụ lợi mà tổ chức hoặc môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép, thì bị phạt từ từ 01 năm đến 05 năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”

...”

[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo T đã xâm phạm đến hoạt động quản lý hành chính về lĩnh vực xuất cảnh, nhập cảnh của N1. Tội phạm bị cáo thực hiện là tội phạm nghiêm trọng, xuất phát từ việc thiếu hiểu biết pháp luật. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo hình phạt tương xứng để giáo dục bị cáo và góp phần đấu tranh, phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có thời tham gia quân đội, có bố đẻ là ông Vũ Hồng Q là thương binh, đã tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 14.455.000 đồng quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về mức hình phạt: Căn cứ vào tính chất mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải xử phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự để cho bị cáo T được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và giao bị cáo cho UBND xã nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp pháp luật.

[6] Các nội dung khác liên quan đến vụ án: Đối với người Trung Quốc tên Z (tên gọi theo tiếng Việt Nam là Chung Triệu B), sinh năm 2006, trú tại số H, đường T, thị trấn T, thành phố T, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc. Ngày 29/10/2024, Chung Triệu B bị Công an tỉnh T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 5193 ngày 29/10/2024, xử phạt tiền 4.000.000 đồng và trục xuất về Trung Quốc.

  • - Đối với 03 người Trung Quốc mà Vũ Trần T đã đưa đến thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Do các trường hợp này đã được T đưa đến các địa bàn không xác định được thông tin, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không điều tra, xử lý được.
  • - Đối với người đàn ông thuê Vũ Trần Trung Đ 04 người Trung Quốc đã nhập cảnh trái phép vào Việt Nam để đưa số người này đi Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình điều tra, Vũ Trần T không nhớ, không cung cấp được số điện thoại, không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xác minh xử lý.
  • - Đối với anh Lê Quang M1, sinh năm 1989, trú tại phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Quá trình điều tra xác định, khi được Vũ Trần T nhờ thuê phòng, anh M1 không biết 02 người Trung Quốc không có hộ chiếu, giấy tờ, đã nhập cảnh trái phép vào Việt Nam; không biết mục đích T đưa người Trung Quốc về lưu trú tại địa bàn tỉnh Thái Bình nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.
  • - Đối với anh Huỳnh Cảnh G1, trú tại số H, ngõ G, ngách A, đường H, phường M, quận C, thành phố Hà Nội là người chuyển 16.000.000 đồng vào tài khoản của Vũ Trần T. Quá trình điều tra xét thấy anh Huỳnh Cảnh G1 không liên quan đến việc Vũ Trần T tổ chức cho 04 người Trung Quốc ở lại Việt Nam trái phép nên Cơ quan điều tra không xử lý.
  • - Đối với anh Trần Văn T2, sinh năm 1980, trú tại thôn Đ, xã M, huyện K, tỉnh Thái Bình là phụ xe khách khi được thuê chở khách Trung Quốc vào thành phố Hồ Chí Minh không được Vũ Trần T nói cho biết là người Trung Quốc nhập cảnh trái phép nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.
  • - Đối với người phụ nữ Trung Quốc tên Lai Ya L (tên gọi theo tiếng Việt Nam là Lại Nhã L1), sinh năm 2006, trú tại thị trấn T, thành phố T, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc hiện đang sinh sống tại Trung Quốc nên Cơ quan điều tra không triệu tập, ghi lời khai được. Ngày 28/11/2024, Cơ quan An ninh điều tra ban hành Công văn số 748/CV-ANĐT về việc trao đổi thông tin đối tượng có dấu hiệu vi phạm pháp luật gửi Cục Q1 Công an tỉnh T phục vụ trao đổi thông tin đến cơ quan chức năng Trung Quốc xử lý Lại Nhã L1 theo quy định.
  • - Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA morning, màu ghi biển kiểm soát 17 D -007.04 (đã qua sử dụng), giấy đăng ký xe mang tên Vũ Trần Trung cấp ngày 06/01/2023; Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên chủ sở hữu là bà Trần Thanh M, sinh năm 1959, trú tại tổ F, phường B Thành phố T mua cuối năm 2022, giao cho con là Vũ Trần T đứng tên đăng ký xe làm phương tiện đi lại nên Cơ quan An ninh điều tra trả lại cho cho chủ sở hữu là đúng quy định

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu trắng hồng (đã qua sử dụng), bên trong có 01 sim số thuê bao là 0947.120.789 là công cụ phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu hóa giá sung vào ngân sách nhà nước; Số tiền 14.455.000 đồng bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình là tiền thu lời bất chính từ việc thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước; Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen (đã qua sử dụng) bên trong có 01 sim số thuê bao là 0568.228.481 không dùng vào việc thực hiện hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 348; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố: Bị cáo Vũ Trần T phạm tội “Tội tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vũ Trần T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 19/3/2025. Giao bị cáo Vũ Trần T cho Ủy ban nhân dân phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

  3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu hóa giá sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu trắng hồng (đã qua sử dụng), bên trong có 01 sim số thuê bao là 0947.120.789; Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước Số tiền 14.455.000 đồng, là tiền thu lời bất chính bị cáo đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình (biên lai số 0003498 ngày 08/01/2025); Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen (đã qua sử dụng) bên trong có 01 sim số thuê bao là 0568.228.481.
  4. Về án phí: Bị cáo Vũ Trần T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 19/3/2025; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - Cục THADS tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan điều tra CA tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan THAHS CA tỉnh Thái Bình;
  • - Bị cáo;
  • - NQLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Ngô Thế Tương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tổ chức cho người khác ở lại việt nam trái phép

  • Số bản án: 20/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Án HSST số 20/2025 Vũ Trần Trung phạm tội tổ chức cho người khác ở lại VN trái phép
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger