Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THUẬN HÓA

THÀNH PHỐ HUẾ

Bản án số: 20/2025/HS-ST

Ngày: 06/03/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HÓA, THÀNH PHỐ HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Lan.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Phương Nam và ông Võ Phi Hùng.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vân, Thư ký Tòa án nhân dân quận Thuận Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hóa tham gia phiên tòa: Ông Đinh Thanh Tâm, Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thuận Hóa, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 29/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Trần Công L (Tên gọi khác: Cu Ba); Giới tính: Nam; Sinh ngày: 01/4/1990, tại tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H); Căn cước công dân số: [...]; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: thôn M, xã P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là TDP M, phường D, quận T, thành phố H); Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Con ông: Trần Quang L1 (đã chết); Con bà: Huỳnh Thị Mỹ K, sinh năm 1959; Anh chị em ruột có 05 người, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Vợ: Lê Thị L2, sinh năm: 1991; Con: 01 con sinh năm 2023;

Tiền án: 01 tiền án: về hành vi “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 110/2021/HSPT ngày 23/9/2021)

Tiền sự: Không.

Quá trình nhân thân:

  • Ngày 10/9/2008, bị Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, xử lý vi phạm hành chính bằng hình thức “Áp dụng biện pháp giáo dục tại xã” với thời gian 06 tháng vì đã có hành vi nhiều lần trộm cắp tài sản, cố ý gây thương tích (Lộc đã chấp hành xong).
  • Ngày 03/10/2008, bị Công an xã P xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền do có hành vi “Trộm cắp tài sản”.
  • - Ngày 16/12/2008, bị Công an xã P xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền do có hành vi “Gây thương tích cho người khác” và “Gây rối trật tự công cộng”.
  • - Ngày 11/8/2009, bị Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử phúc thẩm, tuyên phạt 01 năm 8 tháng tù giam về tội “Cố ý gây thương tích” (Bản án số 74 ngày 11/8/2009), L đã chấp hành xong.
  • - Ngày 20/6/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Vang xử phạt 02 năm về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 16 ngày 20/6/2017), L đã chấp hành xong.
  • - Ngày 23/9/2021, Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử phúc thẩm, xử phạt bị cáo Trần Công L 01 năm 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 110/2021/HSPT ngày 23/9/2021).

Bị cáo bị áp dụng biện pháp bắt tạm giam từ ngày 31/10/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an quận T (nay là P trại tạm giam T - P); có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Phạm Thanh A (Tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam; Sinh ngày: 12/8/1990, tại tỉnh Hà Tĩnh; Căn cước công dân số: [...] Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: thôn T, xã P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là TDP T, phường D, quận T, thành phố H); Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Phạm Thanh B, sinh năm: 1966; Con bà: Phạm Thị H, sinh năm: 1966; Anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là con đầu trong gia đình; Vợ: Nguyễn Bích P1, sinh năm: 1996; Con: 01 con sinh năm 2023;

Tiền án: Không

Tiền sự: Không.

Quá trình nhân thân:

Nhỏ sống với cha mẹ ở xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là phường D, quận T, thành phố H), đi học văn hóa đến lớp 12/12 thì nghỉ học, ở nhà phụ giúp gia đình.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/12/2024 cho đến nay; có mặt.

Bị hại:

- Anh Trần Minh H1, sinh năm 1993; địa chỉ: thôn T, xã P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là TDP T, phường D, quận T, thành phố H); có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 16/8/2024, Phạm Thanh A khi đang ngồi chơi gần quán N tại thôn T, xã P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là TDP T, phường D, quận T, thành phố H) thì có gọi điện cho Trần Công L đến chơi. Tại đây, trong lúc nói chuyện cả hai bàn bạc đi đến nhà anh Trần Minh H1 (sinh năm 1993; trú tại thôn T, xã P (nay là TDP T, phường D, quận T, thành phố H) để lấy trộm tài sản là cầy vòi hương (tên khoa học Paradoxurus hermaphroditus). Sau khi đã thống nhất, cả hai cùng đi bộ đến nhà anh H1. Khi đến trước nhà anh H1 thì A đứng ngoài cảnh giới, còn L trèo qua hàng rào B40, đi vào rồi tiến đến chuồng nuôi nhốt bắt 02 cá thể cầy vòi hương cho vào bao tải màu trắng, sau đó đi ra đưa cho A và nói phát hiện có C nên đề nghị A cùng trèo vào để phá hủy tránh bị phát hiện. Khi L cùng A đi đến vị trí có Camera, thì A ngồi xuống để cho L đứng trên vai của mình, L dùng tay bẻ Camera đặt ở vị trí xoay mặt ra sân của nhà, và bẻ Camera xoay ra các lồng nuôi nhốt cầy vòi hương. Sau khi thực hiện xong hành vi trên thì cả hai mang theo Camera quay lại hướng cũ rồi trèo rào tẩu thoát ra ngoài và mang tài sản chiếm đoạt được đi bộ đến cột điện đối diện trường mầm non cũ. Tại đây, L ném 02 Camera xuống ruộng, A vẫn cầm bao tải chứa 02 cá thể cầy vòi hương vừa chiếm đoạt được trên tay, rồi cả hai tiếp tục đi bộ đến đình làng T giấu bao tải đựng hai cá thể cầy vòi hương vào bụi cỏ sát bên bụi tre đối diện đình làng. Sau khi thực hiện xong hành vi trên thì cả hai đi về nhà của mình.

* Vật chứng thu giữ gồm:

  • - 01 (một) cá thể động vật màu xám đen, có đặc điểm ở phần đuôi đang bị thương, có cân nặng 5 kg, hình dáng tương tự như cá thể cầy vòi hương.
  • - 01 (một) cá thể động vật màu xám đen, có hình thù giống như loài động vật cầy vòi hương, có cân nặng 4,1 kg.

* Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 5553 ngày 11/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố H kết luận:

  • - 01 (một) cá thể chồn hương (cầy vòi hương) có đặc điểm bị thương ở phần đuôi, màu lông xám đen có trọng lượng 5 kg, có trị giá 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng).
  • - 01 (một) cá thể chồn hương (cầy vòi hương) có màu lông xám đen có trọng lượng 4,1 kg, có trị giá 3.690.000 đồng (Ba triệu sáu trăm chín mươi đồng).

* Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 5720 ngày 15/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố H kết luận: 02 (hai) Camera nhãn hiệu YOOSEE wifi 8.0 MPX đã bị hư hỏng hoàn toàn, có trị giá 1.400.000 đồng (Một triệu bốn trăm nghìn đồng).

* Tại Bản kết luận giám định ngày 14/9/2024 của Tổ giám định Sở N1 kết luận: 02 cá thể động vật được giám định là loài động vật rừng nguy cấp, quý hiếm, thuộc nhóm IIB, được cấp phép nuôi theo quy định của pháp luật.

* Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Trần Minh H1 02 (hai) cá thể cầy vòi hương, nhưng anh H1 không nhận lại do chưa đồng ý với Kết luận định giá tài sản và chưa định giá lại theo yêu cầu. Tuy nhiên, hiện nay 02 cá thể cầy vòi hương trên đang được anh H1 nuôi dưỡng.

Đối với 02 Camera hiệu YOOSEE Wifi 8.0 MPX, quá trình điều tra các bị cáo L, A khai nhận, sau khi bẻ gãy đã ném xuống ruộng tại khu vực trường Mầm non ở TDP T, phường D, quận T, thành phố H, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không được.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Trần Minh H1 không yêu cầu các bị cáo L, A bồi thường về dân sự.

Tại bản cáo trạng số 46/CT - VKSQTH ngày 23/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hóa, thành phố H đã truy tố bị cáo Trần Công L và Phạm Thanh A về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hóa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố các bị cáo Trần Công L và Phạm Thanh A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Trần Công L từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 31/10/2024.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Phạm Thanh A từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.
  • - Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Trần Minh H1 02 (hai) cá thể cầy vòi hương nhưng anh H1 không nhận lại do chưa đồng ý với Kết luận định giá tài sản và chưa định giá lại theo yêu cầu. Hiện nay 02 cá thể cầy vòi hương trên đang được anh H1 nuôi dưỡng nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả lại 02 (hai) cá thể cầy vòi hương cho anh Trần Minh H1.
  • -Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Trần Minh H1 không yêu cầu các bị cáo bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
  • -Về án phí hình sự sơ thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, cácbị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận điều tra và bản cáo trạng nên các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 16/8/2024, tại nhà anh Trần Minh H1 ở thôn T, xã P (nay là TDP T, phường D, quận T, thành phố H), Trần Công L, Phạm Thanh A đã lợi dụng sơ hở lén lút chiếm đoạt tài sản của anh H1 gồm 02 (hai) cá thể cầy vòi hương (chồn hương), có tổng trị giá: 8.190.000 đồng (Tám triệu một trăm chín mươi nghìn đồng). Ngoài ra, các bị cáo L, A còn hủy hoại tài sản của anh H1 02 (hai) Camera hiệu YOOSEE wifi 8.0 MPX, có tổng trị giá 1.400.000 đồng (Một triệu bốn trăm nghìn đồng). Đây là vụ án đồng phạm mang tính giản đơn, trong đó bị cáo L là người thực hành tích cực, bị cáo A là người giúp sức. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hóa, thành phố H đã truy tố bị cáo Trần Công L và Phạm Thanh A về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của các bị cáo là gây nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, mà còn làm ảnh hưởng xấu đến an toàn, trật tự xã hội nên cần phải xử lý nghiêm.

[3] Xét về nhân thân:

Đối với bị cáo Trần Công L là người có nhân thân xấu: Ngày 03/10/2008, bị Công an xã P xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền do có hành vi “Trộm cắp tài sản”; Ngày 16/12/2008, bị Công an xã P xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền do có hành vi “Gây thương tích cho người khác” và “Gây rối trật tự công cộng”; Ngày 11/8/2009, bị Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử phúc thẩm, tuyên phạt 01 năm 8 tháng tù giam về tội “Cố ý gây thương tích”; Ngày 20/6/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Vang xử phạt 02 năm về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 16 ngày 20/6/2017); Ngày 23/9/2021, Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử phúc thẩm, xử phạt bị cáo Trần Công L 01 năm 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”.

Đối với bị cáo Phạm Thanh A có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự,

[4] Xét về tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Đây là vụ án đồng phạm, các bị cáo có sự cấu kết trong việc thực hiện hành vi phạm tội. Trong vụ án này bị cáo L là người trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp, nên phải chịu trách nhiệm chính, còn bị cáo A là người giúp sức tích cực cho bị cáo L trong việc chiếm đoạt tài sản của bị hại. Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án thì Hội đồng xét xử xét thấy vai trò của bị cáo L cao hơn bị cáo A, nên khi quyết định hình phạt thì bị cáo L chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo A.

- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Đối với bị cáo Trần Công L phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ Luật Hình sự.

Đối với bị cáo Phạm Thanh A không phạm vào tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo Trần Công L thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo Phạm Thanh A phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có bố, ông bà ngoại đều là người có công với cách mạng nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Sau khi xem xét toàn bộ vụ án, nhân thân của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng xét thấy:

Bị cáo Trần Công L có nhân thân xấu, có nhiều tiền án tiền sự, Trong đó có một tiền án về tội” Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích mà nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên bị cáo phạm vào tình tiết tăng nặng là “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ Luật Hình sự, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm mà vẫn tiếp tục đi vào con đường phạm tội, nên Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành một người công dân tốt và có ích cho xã hội.

Bị cáo Phạm Thanh A có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải bắt bị cáo Phạm Thanh A chấp hành hình phạt tù mà nên cho bị cáo A được hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách được quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Trong vụ án này, quá trình điều tra anh Trần Minh H1 có đơn yêu cầu định giá lại tài sản. Tuy nhiên, căn cứ vào bản kết luận định giá tài sản số 5553 ngày 11/10/2024 và công văn trả lời số 2279 ngày 18/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H, xét thấy không có đủ căn cứ để tiến hành định giá lại nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H (nay là quận T) không tiến hành trưng cầu định giá lại là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Đối với hành vi hủy hoại tài sản là 02 Camera hiệu YOOSEE wifi 8.0 MPX, có trị giá 1.400.000 đồng (Một triệu bốn trăm nghìn đồng) của L và A, do trị giá tài sản bị hủy hoại dưới 2.000.000 đồng, các bị can L, A cũng chưa từng bị xử phạt hành chính về hành vi này nên không đủ yếu tố để xử lý về hành vi “Hủy hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản”. Công an thành phố H đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Hủy hoại tài sản cá nhân” của L và A (Quyết định số 0007843 ngày 06/12/2024; Quyết định số 0007844 ngày 10/12/2024) xử phạt mỗi người số tiền 4.000.000 đồng. Hiện nay Trần Công L, Phạm Thanh A chưa thi hành.

[5] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Trần Minh H1 02 (hai) cá thể cầy vòi hương nhưng anh H1 không nhận lại do chưa đồng ý với Kết luận định giá tài sản và chưa định giá lại theo yêu cầu. Tuy nhiên, hiện nay 02 cá thể cầy vòi hương trên đang được anh H1 nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử nhận thấy cần trả lại 02 (hai) cá thể cầy vòi hương cho anh Trần Minh H1 là đúng theo quy định pháp luật.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Trần Minh H1 không yêu cầu các bị cáo L, A bồi thường về dân sự là tự nguyện nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, Điều 51; điểm h, khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015;

Tuyên bố bị cáo Trần Công L phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt bị cáo Trần Công L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 31/10/2024.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015;

Tuyên bố bị cáo Phạm Thanh A phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Xử bị cáo Phạm Thanh A 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 01(một) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phạm Thanh A cho Ủy ban nhân dân phường D, quận T, thành phố H giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tuyên xử: Trả lại cho anh Trần Minh H1 02 (hai) cá thể cầy vòi hương.

3. Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Công L và Phạm Thanh A, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Huế;
  • - VKSND thành phố Huế;
  • - Sở Tư pháp thành phố Huế;
  • - PV06 CA thành phố Huế;
  • - VKSND quận Thuận Hóa;
  • - CQCSĐT CA thành phố Huế;
  • - UBND nhân dân phường Dương Nổ, quận Thuận Hóa, thành phố Huế;
  • - Chi Cục THADS quận Thuận Hóa;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án
  • - Lưu dán án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hương Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HS-ST ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HÓA, THÀNH PHỐ HUẾ về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 20/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HÓA, THÀNH PHỐ HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 16/8/2024, Phạm Thanh A khi đang ngồi chơi gần quán N tại thôn T, xã P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là TDP T, phường D, quận T, thành phố H) thì có gọi điện cho Trần Công L đến chơi. Tại đây, trong lúc nói chuyện cả hai bàn bạc đi đến nhà anh Trần Minh H1 để lấy trộm tài sản là cầy vòi hương (tên khoa học Paradoxurus hermaphroditus). Sau khi đã thống nhất, cả hai cùng đi bộ đến nhà anh H1. Khi đến trước nhà anh H1 thì A đứng ngoài cảnh giới, còn L trèo qua hàng rào B40, đi vào rồi tiến đến chuồng nuôi nhốt bắt 02 cá thể cầy vòi hương cho vào bao tải màu trắng, sau đó đi ra đưa cho A và nói phát hiện có C nên đề nghị A cùng trèo vào để phá hủy tránh bị phát hiện. Khi L cùng A đi đến vị trí có Camera, thì A ngồi xuống để cho L đứng trên vai của mình, L dùng tay bẻ Camera đặt ở vị trí xoay mặt ra sân của nhà, và bẻ Camera xoay ra các lồng nuôi nhốt cầy vòi hương. Sau khi thực hiện xong hành vi trên thì cả hai mang theo Camera quay lại hướng cũ rồi trèo rào tẩu thoát ra ngoài và mang tài sản chiếm đoạt được đi bộ đến cột điện đối diện trường mầm non cũ. Tại đây, L ném 02 Camera xuống ruộng, A vẫn cầm bao tải chứa 02 cá thể cầy vòi hương vừa chiếm đoạt được trên tay, rồi cả hai tiếp tục đi bộ đến đình làng T giấu bao tải đựng hai cá thể cầy vòi hương vào bụi cỏ sát bên bụi tre đối diện đình làng. Sau khi thực hiện xong hành vi trên thì cả hai đi về nhà của mình.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger