| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15- PHÚ THỌ Bản án số: 20/2025/HS-ST Ngày: 03-12-2025 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15- PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng
Các Hội thẩm nhân dân: bà Trịnh Thị Thắng, bà Bùi Thị Dung
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: bà Quách Ngọc Mai- Thư ký Toà án nhân dân khu vực 15- Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15- Phú Thọ tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Phúc- Kiểm sát viên sơ cấp thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
Ngày 03/12/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 15- Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo: Bùi Văn T, sinh ngày 11/7/1996 tại xã Y, huyện L, tỉnh Hòa Bình (Nay là xã Y, tỉnh Phú Thọ). Nơi cư trú: xóm T, xã Y, tỉnh Phú Thọ. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông. Trình độ văn hóa (học vấn) 09/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn C, sinh năm 1965 (Đã chết) và bà Bùi Thị D, sinh năm 1966. Vợ là Bùi Thị Hồng N, sinh năm 1997 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ tại Trại tạm giam Công an tỉnh H (Nay là Trại tạm giam số 3- Công an tỉnh P) từ ngày 11/5/2025, chuyển tạm giam từ ngày 29/5/2025 đến nay. Có mặt;
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- + Bùi Văn H, sinh năm 1992. Địa chỉ: xóm C, xã Y, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt;
- + Bùi Tuấn M, sinh năm 2004. Địa chỉ: xóm C, xã Y, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt;
- + Nguyễn Văn N1, sinh năm 1947. Địa chỉ: Tổ dân phố K, phường P, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2019 Bùi Văn T đi chơi tại khu vực xã Y, huyện L, tỉnh Hòa Bình (nay là xã Y, tỉnh Phú Thọ) và gặp một người đàn ông không quen biết, qua nói chuyện người này giới thiệu tên là H nhà ở xóm C, xã Y, huyện L, tỉnh Hòa Bình (nay là xóm C, xã Y, tỉnh Phú Thọ). Người này nói với T là có bán ma tuý, nếu muốn mua thì liên lạc với anh ta. Sau đó T và người đàn ông cho nhau số điện thoại. Do khi đó trời tối nên T không nhìn rõ mặt, đặc điểm nhận dạng của người này, T lưu số điện thoại 0345.149.xxx của người đàn ông này là “A Hưng C1”.
Do T là người nghiện chất ma tuý nên hàng ngày phải đi uống thuốc thay thế Methadone tại khu vực thị trấn V, huyện L, tỉnh Hòa Bình (nay là xã L, tỉnh Phú Thọ). T có nghe một số người nghiện (không nhớ là ai) nói chuyện có người tên H nhà ở xóm C, xã Y, huyện L, tỉnh Hòa Bình (nay là xóm C, xã Y, tỉnh Phú Thọ) bán ma tuý nên T nghĩ chính là người đã cho T số điện thoại 0345.149.xxx vào năm 2019. Đến khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 10/5/2025 do có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma tuý nên T đã gọi điện cho H qua số điện thoại 0345.149.xxx hỏi mua 2.000.000đ (Hai triệu đồng) ma tuý (Heroine) thì H nói đang đi làm ở huyện Q, tỉnh Bắc Ninh và bảo T gửi tiền qua xe khách rồi H sẽ gửi ma tuý về cho T. Khoảng 13 giờ cùng ngày, T cho số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng) vào phong bì, ghi số điện thoại người nhận là 0345.149.xxx rồi gửi xe khách tuyến L, tỉnh Hòa Bình đi Q, tỉnh Bắc Ninh cho người bán ma tuý. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, T nhận được điện thoại của phụ xe khách bảo T ra bến xe huyện L, tỉnh Hòa Bình (nay là xã L, tỉnh Phú Thọ) để nhận hàng, T biết gói hàng có chứa ma tuý nên đã đi bộ từ nhà ra B huyện L, tỉnh Hòa Bình (nay là xã L, tỉnh Phú Thọ) để nhận hàng. Khoảng 23 giờ cùng ngày, T gặp phụ xe khách và nhận được một gói hàng là một hộp carton, T biết bên trong có ma tuý nên cầm gói hàng chứa ma tuý đi bộ về nhà. Khi đi được một đoạn thì T bị Tổ công tác Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh H (nay là Công an tỉnh P) phối hợp với Công an các xã Y, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hòa Bình (nay là các xã Y và xã L, tỉnh Phú Thọ) làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát tại khu vực bến xe thuộc phố Đ, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hòa Bình (nay là phố Đ, xã L, tỉnh Phú Thọ) bắt quả tang và thu giữ tại hộp carton T đang cầm trên tay bên trong có 01 (một) nồi lẩu, dưới đáy nồi lẩu có 01 (một) gói nilon có chứa chất bột dạng cục màu trắng (T khai là chất ma túy). (BL 01-02).
Tại kết luận giám định số: 259/KL-KTHS ngày 15/5/2025 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận:
- Chất bột dạng cục màu trắng trong phong bì niêm phong một mặt có ghi “Vật chứng nghi là ma tuý của Bùi Văn T, sinh năm 1996, HKTT: xóm T, xã Y, huyện L, tỉnh Hòa Bình trong vụ Tàng trữ trái phép chất ma tuý xảy ra tại phố Đ, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hòa Bình ngày 10/5/2025” gửi giám định có khối lượng 3,10g (Ba phẩy một gam), là ma túy, loại Heroine.
- Heroine (H2) nằm trong danh mục IA, số thứ tự 09, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. (BL 43).
Quá trình điều tra, bị cáo Bùi Văn T đã thành khẩn khai nhận hành vi vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận của bị cáo Bùi Văn T tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo; những người chứng kiến, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, các vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 23 giờ ngày 10/5/2025, tại bến xe khách huyện L, tỉnh Hòa Bình (nay là xã L, tỉnh Phú Thọ) Bùi Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 3,10g (Ba phẩy một gam) chất ma túy, loại heroine tại dưới đáy nồi lẩu đựng trong hộp carton T đang cầm nhằm mục đích sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang cùng tang vật. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma Tuý”.
Về mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/5/2025 (Ngày bị cáo bị tạm giữ).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy đối với 01 (một) phong bì niêm phong một mặt có ghi “Mẫu vật còn lại sau khi giám định. Vụ: Bùi Văn T, sinh năm 1996- Tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra ngày 10/05/2025 tại thị trấn V, huyện L, tỉnh Hòa Bình”. Trên mép dán có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh H (nay là tỉnh Phú Thọ) bên trong có chứa toàn bộ số ma tuý cùng toàn bộ vỏ bao gói còn lại sau giám định là vật nhà nước cấm tàng trữ.
- - Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động màu xanh đã cũ của Bùi Văn T dùng để liên lạc cá nhân và mua bán trái phép chất ma tuý ngày 10/5/2025.
- - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) nồi lẩu nhãn hiệu SHANBAN là đồ vật cất giấu ma tuý của Bùi Văn T ngày 10/5/2025.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Định 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Bùi Văn T phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Hồng |
Bản án số 20/2025/HS-ST ngày 03/12/2025 của Toà án nhân dân khu vực 15- Phú Thọ về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 20/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân khu vực 15- Phú Thọ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn Trang
