|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 20/2025/HS-PT |
Ngày: 27-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử Phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Vân.
Các thẩm phán:
- Bà Phạm Ngọc Giàu;
- Ông Nguyễn Văn Bình.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thư Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Vương – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 11/2025/TLPT-HS ngày 03 tháng 02 năm 2025. Đối với các bị cáo: Lê Đức L.
Do có kháng cáo của bị cáo Lê Đức L đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số 99/2024/HS-ST ngày 17/12/2024, của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.
Bị cáo có kháng cáo:
Lê Đức L, sinh ngày 12 tháng 6 năm 1993; nơi sinh: tại tỉnh An Giang; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T và bà Lương Thị Kim B; có vợ tên Nguyễn Thị Tú T1 (đã ly hôn) và 02 người con; tiền án, tiền sự: không có; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh từ ngày 09/8/2024 đến nay; có mặt.
- Bị hại: Anh Võ Văn T2, sinh năm 1991, nơi cư trú: Ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ ngày 20/9/2023, sau khi uống rượu Võ Văn T2 đến quán C chơi bida. Lúc này Lê Đức L đang uống cafe tại quán, T2 nghĩ Lập nhìn đểu mình nên sau khi thanh toán tiền, T2 đi về nhà lấy 01 cây dao tự chế bằng kim loại quay lại quán cafe tìm đánh L nhưng L bỏ chạy và trình báo Công an xã. Công an xã H đã hòa giải và thu giữ cây dao tự chế của T2, các bên không yêu cầu xử lý, cam kết không gây mất an ninh trật tự tại địa phương.
Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, bực tức việc bị Thương dùng dao đuổi đánh, L lấy 02 cây dao tự chế bằng kim loại rồi điều khiển xe mô tô đến nhà T2 và khiêu khích rủ T2 đánh nhau. Lúc này T2 đang tổ chức nhậu cùng với Trần Minh T3, sinh năm 2001; Lê Minh T4, sinh năm 2000 và Võ Nguyễn Hoài P, sinh ngày 23/11/2007, cùng địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Thương được gia đình và mọi người can ngăn đồng thời đuổi L đi về. Bực tức vì bị thách thức, T2 vào nhà lấy 01 cây kiếm bằng kim loại dài khoảng 01 mét rồi nói T3 chở đi đánh L và được T3 đồng ý. T3 vào nhà T2 lấy 01 cây rựa dài 01 mét lưỡi bằng kim loại rồi điều khiển xe mô tô biển số 70F4-6445 chở T2 đến nhà L tại ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Thấy vậy T4 điều khiển xe mô tô biển số 70H1-390.27 chở P mang theo 01 cây dao tự chế bằng kim loại dài khoảng 70cm chạy theo T3, T2 cùng đi đánh Lập.
Khoảng 18 giờ 30 phút khi đến khu vực chợ H, T3 dừng xe môtô trước quán nhà L, thấy L đang ngồi trên nền bê tông phía sau quán, T2 cầm kiếm chạy đến chỗ L, T3 cầm rựa chạy theo phía sau. Thấy T2, T3 cầm kiếm, rựa chạy đến, L vào trong nhà lấy 02 cây dao tự chế cầm trên hai tay để tấn công lại. T2, L dùng dao tự chế, kiếm chém qua lại vào người nhau nhưng T2 bị lấn át nên lùi lại phía sau vướng ghế trong quán ngã xuống và bị L chém trúng vào vị trí đầu. Lúc này T3 chạy đến đối diện L và dùng rựa chém liên tiếp hướng từ trên xuống dưới, từ phải qua trái vào vùng vai, cổ khiến L bị thương và bỏ chạy ra khỏi nhà ra hướng đường nhựa được khoảng 10m thì ngã xuống nền bê tông. Lập ngồi dậy bỏ chạy tiếp thì bị T3 chạy đến trước dùng rựa chém mạnh vào bụng và đầu của L; T2 chạy đến sau và cầm kiếm chém vào vị trí chân của L. Lập giơ 02 tay lên đỡ thì bị T3 tiếp tục chém vào tay, L vùng dậy bỏ chạy vào phía trong chợ, T2 tiếp tục cầm kiếm đuổi theo 01 đoạn thì quay lại. Thấy T2 bị thương chảy nhiều máu nên T3 điều khiển xe mô tô chở T2 đi cấp cứu. T4 và P chạy theo sau khi đến gần nhà L thì dừng xe mô tô trước tiệm tạp hóa cách nhà L khoảng 35 mét. P nói T4 ngồi trên xe chờ rồi cầm dao chạy vào trong chợ để bọc đầu nhưng không thấy người chạy ra nên P cầm dao quay lại đứng ngoài chờ. Khi thấy T3 chở T2 bỏ chạy, T4 chở P cầm hung khí chạy theo sau. Trên đường về, P và T3 ném bỏ dao tự chế cây rựa lại. Triết và P đưa T2 đến Trạm y tế xã H sơ cứu sau đó chuyển đến Trung tâm y tế huyện T cấp cứu, điều trị đến ngày 03/10/2023 thì xuất viện.
Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 249/KLTTCT-TTPYTN ngày 18/10/2023 của Trung tâm Pháp y – Sở Y tế tỉnh T kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Đức L tại thời điểm giám định là 40% (bốn mươi phần trăm).
Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 254/KLTTCT-TTPYTN ngày 06/12/2023 của Trung tâm Pháp y – Sở Y tế tỉnh T kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Võ Văn T2 tại thời điểm giám định là 28% (hai mươi tám phần trăm).
Bản Kết luận giám định số 1616/KL-KTHS ngày 27/10/2023 của Phòng K - Công an tỉnh T kết luận: Vết màu nâu đỏ ghi thu bằng miếng gạc y tế đặt số 02, số 03, số 04 và vết màu nâu đỏ dính trên cây dao tự chế đặt số 01, số 04 được thu tại hiện trường là máu người, nhóm máu B, cùng nhóm với nhóm máu của Lê Đức L.
Tại bản án Hình sự sơ thẩm số 99/2024/HS-ST ngày 17/12/2024, của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, Quyết định.
1. Tuyên bố bị cáo Lê Đức L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, các điểm b, s khoản 1, Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Lê Đức L 02 (hai) năm tù, thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, án phí, quyền kháng cáo của bị cáo.
Ngày 26-12-2024, bị hại Võ Văn T2 có đơn kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo L.
Ngày 27-12-2024, bị cáo Lê Đức L có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo L giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa trình bày quan điểm xử lý vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Đức L về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Mức hình phạt 02 năm tù Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội bị cáo gây ra cho bị hại, không nặng. Sau khi xét xử sơ thẩm bị hại có đơn kháng cáo, sau đó có đơn rút đơn kháng cáo và có đơn yêu cầu không xử lý hình sự đối với bị cáo L, do đó đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bị hại. Do bị hại có đơn yêu cầu không xử lý hình sự đối với bị cáo, đây là tình tiết mới nên có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử
căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, và Điều 65 của Bộ luật hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo L, sửa bản án Hình sự sơ thẩm. Cho bị cáo hưởng án treo.
Bị cáo Lê Đức L không tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo Lê Đức L xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tòa án nhân dân huyện Tân Biên tỉnh Tây Ninh xét xử, tuyên án đối với các bị cáo Lê Đức L vào ngày 17-12-2024; ngày 26-12-2024 bị hại có đơn kháng cáo, ngày 27-12-2024, bị cáo L có đơn kháng cáo; đơn kháng cáo của bị cáo và bị hại phù hợp với quy định tại Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong qúa trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm.
Trong quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên hợp pháp.
[3] Về hành vi của bị cáo thể hiện: Lê Đức L và Võ Văn T2 có mâu thuẫn với nhau từ trước nên khoảng 18 giờ 30 phút ngày 20/9/2023, Trần Minh T3 mang theo 01 cây rựa lưỡi bằng kim loại chở T2 mang theo 01 cây kiếm bằng kim loại đến khu vực ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh tìm đánh L. Thấy vậy L lấy 02 cây dao tự chế bằng kim loại là hung khí nguy hiểm chém nhiều lần vào người của T2. Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 254/KLTTCT-TTPYTN ngày 06/12/2023 của Trung tâm Pháp y – Sở Y tế tỉnh T kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Võ Văn T2 tại thời điểm giám định là 28%.
Tòa án cấp sơ thẩm xử bị cáo Lê Đức L phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác trái pháp luật, gây mất trật tự trị an ở địa phương nên cần có một hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.
[5] Xét kháng cáo của bị cáo L xin được hưởng án treo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[5.1] Khi quyết định hình phạt, cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 18.000.000 đồng, là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 02 năm tù là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
[5.2] Sau khi xét xử sơ thẩm, bị hại có đơn xin bãi nại không yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo L, bị hại cũng có lỗi dùng dao chém bị cáo thương tích 40%.Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, chưa được xem xét ở cấp sơ thẩm.
[5.3] Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; bị cáo thực hiện hành vi gây thương tích cho bị hại là do, bị hại có lỗi đến nhà chém bị cáo trước; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và đồng thời cũng không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
[6] Ngày 26-12-2024, bị hại Võ Văn T2 có đơn kháng cáo. Ngày 18-02-2025 bị hại có đơn rút đơn kháng cáo. Căn cứ vào khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bị hại Võ Văn T2.
[7] Từ những phân tích trên, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Đức L; chấp nhận rút đơn kháng cáo của bị hại, chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, sửa bản án hình sự sơ thẩm.
[8] Về án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[9] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357; căn cứ khoản 1 Điều 348 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 99/2024/HS-ST ngày 17 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.
1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Đức L 02 (hai) năm tù, cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, được tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Lê Đức L cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bị hại Võ Văn T2.
3. Về án phí hình sự phúc thẩm: căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Đức L không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Hồng Vân |
Bản án số 20/2025/HS-PT ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 20/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tội cố ý gây thương tích
