Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/HS-PT

Ngày: 25/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thanh Quốc

Các Thẩm phán: Bà Phan Thị Hồng Dung

Bà Lê Thị Minh Trang

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Huỳnh Phương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Cúc – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 11/2025/TLPT-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Quốc H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 106/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Quốc H, sinh năm 2000 tại Cần Thơ. Nơi cư trú: khu vực L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: làm thuê. Con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1968 và bà Trần Thị H1, sinh năm 1972; bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

Trong vụ án, còn có bị hại không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 15 tháng 6 năm 2024, Nguyễn Quốc H đi bộ từ nhà thuộc khu vực L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ đến nhà bà Nguyễn Thị Cẩm H2 (cô ruột của H) ngụ cùng khu vực thì gặp Nguyễn Thị Cẩm M (con ruột bà H2) đang nằm võng, H hỏi “bà H2 đang ở đâu”; M trả lời “bà H2 đang ở phía sau nhà”. Do thường xuyên đến nhà bà H2 nên H biết rõ bà H2 cất giấu chìa khóa tủ kính trong gối nằm và trong tủ kính có tiền nên khi H đi vào bên trong nhưng không thấy bà H2 thì nảy sinh ý định lấy trộm tiền của bà H2. Liền lúc này, H đi lại giường ngủ của bà H2 lấy chìa khóa tủ kính được cất giấu trong gối nằm đi đến tủ kính mở tủ lấy một túi bằng vải dù màu đen bên trong có số tiền 78.100.000 đồng. Sau đó, H đóng tủ lại mang túi vải có tiền lấy trộm bên trong và chìa khóa tủ về nhà lấy xe mô tô biển kiểm soát 67H1 – 044.92 đi qua T để đi làm. Trên đường đi, H dừng xe tại khu đất trống thuộc phường T, quận T kiểm tra túi vải và lấy 2.200.000 đồng để chi tiêu, còn lại 75.900.000 đồng H cho vào bọc nilon màu đen cất giấu vào bụi cỏ tại khu đất trống. Lúc này, bà H2 phát hiện bị mất trộm tiền nên điện thoại cho H, H điều khiển xe mô tô quay về T, trong lúc qua phà T - T, H ném bỏ túi vải dù màu đen và chìa khóa tủ xuống sông. Khi về đến nhà, Công an phường T mời H làm việc, H thừa nhận hành vi và cùng với Công an phường đến khu đất trống thuộc phường T, quận T thu hồi số tiền 75.900.000 đồng.

Tang vật thu giữ gồm: 05 cọc tiền Việt Nam được băng dây thun, trong đó có 04 cọc mệnh giá 100.000 đồng với số tờ từng cọc 100 tờ, 97 tờ, 91 tờ và 57 tờ, tổng là 344 tờ, với số tiền 34.400.000 đồng; 01 cọc mệnh giá 500.000 đồng với số tờ 83 tờ, bằng số tiền 41.500.000 đồng. Tổng số tiền thu giữ 75.900.000 đồng.

Quá trình điều tra, Nguyễn Quốc H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thừa nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với chứng cứ đã được thu thập.

Về vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T tiến hành tạm giữ theo quy định. Đồng thời, ra quyết định trả lại cho chủ sở hữu ông Nguyễn Văn C đại diện nhận số tiền 75.900.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: H tự nguyện bồi thường cho ông C và bà H2 số tiền 2.200.000 đồng, ông C và bà H2 xin bãi nại cho H.

Tại bản án hình sự số 106/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ: điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Quốc H 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi tuyên án sơ thẩm, ngày 09/12/2024 bị cáo Nguyễn Quốc H kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội và vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa nhận định: Xét thấy nội dung vụ án đã được làm rõ theo hồ sơ vụ án, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Khi lượng hình, cấp sơ thẩm đã xem xét toàn diện và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cũng như nhân thân của bị cáo đúng quy định. Mức hình phạt mà cấp sơ thẩm áp dụng là tương xứng đối với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo. Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp thêm chứng cứ gì mới để xem xét. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng và bản án sơ thẩm đã tuyên. Đối chiếu với tài liệu chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:

Ngày 15/6/2024, lợi dụng bị hại sơ hở trong việc quản lý tài sản, bị cáo đã lén lút lấy chìa khóa mở tủ lấy đi túi vải chứa số tiền 78.100.000 đồng để trong tủ kính của gia đình bị hại.

Với hành vi nêu trên và giá trị tài sản bị chiếm đoạt, cấp sơ thẩm truy tố xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Sau khi tuyên án sơ thẩm, bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo. Hội đồng xét xử xét thấy,

[3.1] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác và gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bản thân bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật song vẫn bất chấp hậu quả để thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp chỉ để thỏa mãn ham muốn hưởng thụ vật chất mà không cần bỏ công sức lao động, kể cả việc tài sản bị chiếm đoạt là của người thân trong gia đình. Do đó, cần có mức án nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để đảm bảo tác dụng giáo dục, răn đe với bị cáo cũng như đảm bảo công tác phòng ngừa chung cho xã hội.

[3.2] Tiến trình tố tụng, bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả đồng thời hợp tác trong việc thu hồi lại tài sản chiếm đoạt; ngoài ra, phía bị hại có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên cấp sơ thẩm xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp.

[3.3] Xét mức hình phạt mà cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là tương xứng với đánh giá về tính chất, mức độ hành vi bị cáo đã thực hiện, trên cơ sở có xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm chứng cứ nào mới để làm cơ sở xem xét nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

[4] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận.

[5] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

[6] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Quốc H.

Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 106/2024/HS-ST ngày 28 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Căn cứ: điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
  3. Xử phạt: bị cáo Nguyễn Quốc H 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
  4. Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
  5. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND CC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Cần Thơ;
  • - Cơ quan tố tụng Q. Thốt Nốt;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thanh Quốc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HS-PT ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về hình sự phúc thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 20/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: KHÔNG CHẤP NHẬN KHÁNG CÁO CỦA BỊ CÁO, GIỮ NGUYÊN BẢN ÁN SƠ THẨM
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger