|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 20/2025/HS-PT Ngày: 19 - 02 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Thái Thị Hồng Vân |
| Các Thẩm phán: | Ông Phạm Văn Phấn |
| Bà Trần Thị Mỹ Hải |
- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thanh Tâm - Thư ký viên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 171/2024/TLPT-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024, do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Ngọc C đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 201/2024/HS-ST ngày 23 tháng 7 năm 2024, của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
Các bị cáo có kháng cáo:
1. Nguyễn Ngọc T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 25 tháng 7 năm 1976 tại thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Khối Q, phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; Con ông: Nguyễn Ngọc T1 (Đã chết); Con bà: Cao Thị T2 (Đã chết); Anh chị em ruột: Có 04 người, bị cáo là người con thứ ba trong gia đình; Vợ: Trương Thị T3, sinh năm 1984; Con: Có 03 người, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 22/7/1998, Tòa phúc phẩm Tòa án nhân dân tối cao xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 1985, 06 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 3 Điều 201 Bộ luật Hình sự 1985. Tổng hợp hình phạt chung là 10 năm tù; Ngày 23/3/2012: Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 08 tháng 21 ngày Cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự 2009; Ngày 31/3/2014: Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 04 tháng tù về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự 2009.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/02/2024 đến ngày 03/3/2024 được trả tự do. Có mặt.
2. Nguyễn Ngọc C, tên gọi khác: Không; sinh ngày 16 tháng 7 năm 1980 tại thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: K, phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Con ông: Nguyễn Ngọc T4 (Đã chết); Con bà: Lê Thị Thanh T5, sinh năm 1947; Anh chị em ruột: Có 03 người, bị cáo là người con thứ ba trong gia đình; Vợ: Nguyễn Thị Hoài N, sinh năm 1988; Con: Có 02 người, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 27/11/2002, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân tối cao xử phạt 02 năm tù về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 133 Bộ luật Hình sự 1999; Ngày 24/02/2010: Công an thành phố V, tỉnh Nghệ An ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 57/QĐXP HC xử phạt 200.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy; Ngày 27/02/2020: Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt tiền 30.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự; Đã thi hành xong ngày 04/8/2020.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/02/2024 đến ngày 03/3/2024 được trả tự do. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trên cơ sở kết quả điều tra đã xác định được như sau: Vào khoảng 10 giờ ngày 26/02/2024, Nguyễn Hữu P gọi điện thoại rủ Nguyễn Huy H, Nguyễn Ngọc C, Nguyễn Ngọc T và Chế Minh T6 đến nhà anh Nguyễn Hồng T7, sinh năm 1971, địa chỉ số nhà A, ngõ B, đường P, khối A, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An đánh bạc. Sau đó, P, C và T6 đến nhà ông T7 nhưng ông T7 không ở nhà mà chỉ gặp anh Nguyễn Trung H1, sinh năm 1996, trú tại khối A, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An (Là con trai ông T7). Tại đây, anh H1 mở cửa cho P, C và T6 vào nhà ngồi uống nước còn H1 đi ra ngoài, khoảng 10 phút sau, H đến rồi cùng với C, P và T6 rủ nhau đánh bạc bằng hình thức đánh "Đánh xiểng" thắng thua mỗi ván từ 100.000 (Một trăm nghìn) đồng đến 1.500.000 (Một triệu năm trăm nghìn) đồng. Khi H, C, P và T6 đang đánh bạc thì Nguyễn Ngọc T đến và sau khi đánh bạc hết ván đầu tiên T vào thay chỗ của P tham gia đánh bạc cùng với H, C và T6.
Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, vợ chồng ông T7 và Phạm Thị H2 (Là chủ nhà) đi về nhà. Ông T7 ngồi chờ trên xe ô tô ở ngoài đường còn H2 đi vào nhà thấy H, C, T6, T đang ngồi đánh bạc. Lúc này, do đánh bạc thua hết tiền nên T6 hỏi vay H2 5.000.000 (Năm triệu) đồng tiền mặt để đánh bạc thì H2 đồng ý. Sau đó, T6 chuyển 5.000.000 đồng (Năm triệu) đồng vào số tài khoản 9979945976 mang tên Phạm Thị H2 mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần N1. Sau khi T6 chuyển khoản, H2 đưa tiền mặt cho T6 và ra ngoài đi công việc với ông T7. Đến khoảng 17 giờ 30 phút ngày 26/02/2024, khi ông T7 và H2 mở cửa vào nhà thì tổ công tác Đội Điều tra tổng hợp Công an thành phố V vào phát hiện Nguyễn Huy H, Nguyễn Ngọc C, Nguyễn Ngọc T và Chế Minh T6 đang đánh bạc. Cơ quan Công an thu giữ tại chiếu bạc 02 (Hai) bộ bài Tu lơ khơ, mỗi bộ gồm 52 quân bài (một bộ màu xanh, một bộ màu đỏ) và số tiền 13.300.000 (Mười ba triệu ba trăm nghìn) đồng. Kiểm tra thu giữ trong túi quần sau bên trái Nguyễn Ngọc T số tiền 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn) đồng; trong túi áo khoác Chế Minh T6 đang mặc số tiền 3.900.000 đồng (Ba triệu chín trăm nghìn) đồng. Sau đó, tổ công tác đã niêm phong thu giữ vật chứng, yêu cầu các đối tượng về trụ sở làm việc và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Đến 19 giờ 40 phút cùng ngày 26/02/2024, nhận thức được hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật nên Nguyễn Hữu P và Phạm Thị H2 đã đến Cơ quan điều tra Công an thành phố V xin đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Số tiền các bị cáo khai sử dụng để đánh bạc như sau:
- - Đối với Nguyễn Huy H: Trước khi đánh bạc, H có số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu) đồng sử dụng toàn bộ số tiền trên để đánh bạc. Quá trình đánh bạc, H thua hết số tiền 2.000.000 đồng và vay của Nguyễn Ngọc C số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) để đánh bạc tiếp. Khi bị bắt quả tang, thu giữ của H số tiền 7.400.000 (Bảy triệu bốn trăm nghìn) đồng. H đang thắng số tiền 400.000 (Bốn trăm nghìn) đồng.
- - Đối với Nguyễn Ngọc C: Trước khi đánh bạc, C có số tiền 4.500.000 (Bốn triệu năm trăm) đồng và sử dụng toàn bộ số tiền trên để đánh bạc. Quá trình đánh bạc, Nguyễn Ngọc C cho Nguyễn Huy H vay số tiền 5.000.000 (Năm triệu) đồng. Khi bị bắt quả tang, thu giữ Chương số tiền 3.600.000 đồng. C đang thắng số tiền 4.100.000 (Bốn triệu một trăm nghìn) đồng.
- - Đối với Nguyễn Ngọc T: Trước khi đánh bạc, T có số tiền 5.500.000 (Năm triệu năm trăm nghìn) đồng và đưa ra số tiền 1.000.000 (Một triệu đồng) đồng để đánh bạc, nếu thua tiếp tục sử dụng toàn bộ số tiền 4.500.000 (Bốn triệu năm trăm nghìn) đồng trong túi quần để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, thu giữ T số tiền 5.200.000 đồng. T đang thua số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.
- - Đối với Chế Minh T6: Trước khi đánh bạc, T6 có số tiền 4.700.000 (Bốn triệu bảy trăm nghìn) đồng và sử dụng toàn bộ số tiền trên để đánh bạc. Quá trình đánh bạc, T6 đã vay của chị Phạm Thị H2 số tiền 5.000.000 (Năm triệu) đồng để đánh bạc. Vậy, tổng số tiền Chế Minh T6 sử dụng để đánh bạc là 9.700.000 (Chín triệu bảy trăm nghìn) đồng. Khi bị bắt quả tang, thu giữ của T6 số tiền 4.500.000 (Bốn triệu năm trăm nghìn). T6 đang thua số tiền 5.200.000 (Năm triệu hai trăm nghìn) đồng.
- - Đối với Nguyễn Hữu P: Trước khi vào đánh bạc có số tiền 800.000 (Tám trăm nghìn) đồng, toàn bộ số tiền này P sử dụng để đánh bạc. P đánh được một ván thì Nguyễn Ngọc T vào thay. Sau đó P ra về và đã tiêu xài hết toàn bộ số tiền trên.
- - Đối với Phạm Thị H2 không trực tiếp tham gia đánh bạc nhưng để các đối tượng đánh bạc tại nhà của mình và cho Chế Minh T6 vay 5.000.000 (Năm triệu) đồng tiền mặt để đánh bạc.
Quá trình điều tra xác định tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc và phải chịu trách nhiệm hình sự là 22.500.000 (Hai mươi hai triệu năm trăm nghìn) đồng.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 201/2024/HS-ST ngày 23 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An quyết định:
Căn cứ khoản 1 điều 321, điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Ngọc T 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 26/02/2024 đến ngày 03/3/2024.
Căn cứ khoản 1 điều 321, điểm s khoản 1 điều 51, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Ngọc C 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 26/02/2024 đến ngày 03/3/2024.
Bản án sơ thẩm cũng đã áp dụng pháp luật để xử phạt các bị cáo Chế Minh T6, Nguyễn Hữu P, Nguyễn Huy H, Phạm Thị H2 và tuyên án phí, quyền kháng cáo của các bị cáo.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024 bị cáo Nguyễn Ngọc C, làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, giúp đỡ các cơ quan chức năng nhanh chóng làm sáng tỏ nội dung vụ án, các con còn quá nhỏ, là trụ cột chính trong gia đình, mẹ già yếu.
Ngày 02 tháng 8 năm 2024 bị cáo Nguyễn Ngọc T kháng cáo xin hưởng án treo với lý do: Khai báo thành khẩn, ăn năn về hành vi phạm tội, phạm tội ít nghiêm trọng, là trụ cột lao động chính trong nhà nuôi 3 đứa con ăn học, vợ thất nghiệp, ốm đau liên tục.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Ngọc C giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo. Bị cáo Nguyễn Ngọc T bổ sung nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đề nghị Hội đồng xét xử:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, b khoản 1 điều 355, điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Ngọc T, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Nguyễn Ngọc C, Nguyễn Ngọc T, sửa bản án sơ thẩm giảm hình phạt cho các bị cáo. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc C từ 07 tháng tù đến 09 tháng tù, bị cáo Nguyễn Ngọc T từ 06 tháng tù đến 08 tháng tù. Về án phí: Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bị cáo Nguyễn Ngọc C, Nguyễn Ngọc T không tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung kháng cáo của các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về nội dung vụ án: Trong khoảng thời gian từ 11 giờ 00 phút đến 17 giờ 30 phút ngày 26/02/2024, tại số nhà A, ngõ B, đường P, khối A, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Huy H, Nguyễn Ngọc C, Chế Minh T6 và Nguyễn Ngọc T đang có hành vi đánh bạc bằng hình thức "Đánh xiểng", thắng thua mỗi ván từ 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) đến 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) thì bị tổ công tác Đội Điều tra tổng hợp Công an thành phố V kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. Trước khi các đối tượng trên bị bắt quả tang, Nguyễn Hữu P chuẩn bị địa điểm, công cụ và tham gia đánh bạc với Nguyễn Huy H, Nguyễn Ngọc C và Chế Minh T6 01 (một) ván, sau đó Nguyễn Ngọc T vào thay P để tiếp tục đánh bạc. Phạm Thị H2 không tham gia đánh bạc nhưng để các đối tượng trên đánh bạc tại nhà của mình cho Chế Minh T6 vay 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) tiền mặt để đánh bạc. Tổng số tiền đánh bạc được xác định là 22.500.000 (Hai mươi hai triệu năm trăm nghìn) đồng. Hành vi mà các bị cáo thực hiện đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo điều 321 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bản án sơ thẩm số 201/2024/HS-ST ngày 23 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đã xem xét đầy đủ tình tiết giảm nhẹ và đã xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 15 (mười lăm) tháng tù; Nguyễn Ngọc C 12 (mười hai) tháng tù đều về tội “Đánh bạc” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2] Xét nội dung kháng cáo của các bị cáo:
[2.1] Đối với kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Ngọc T:
Hành vi đánh bạc của các bị cáo là vi phạm pháp luật hình sự, gây mất trật tự trị an tại địa phương, các bị cáo có đủ khả năng nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo Nguyễn Ngọc T có nhân thân xấu đã bị Tòa án xét xử nhiều lần về nhiều tội khác nhau trong đó có hai lần về tội đánh bạc. Mặc dù đã được cải tạo giáo dục nhiều lần nhưng không lấy đó làm bài học răn mình mà lại tiếp tục phạm tội, thể hiện sự xem thường pháp luật. Do đó, việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Ngọc T.
[2.2] Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Ngọc T, bị cáo Nguyễn Ngọc C, thấy rằng:
Vụ án thuộc loại ít nghiêm trọng, có nhiều bị cáo cùng tham gia đánh bạc, nhưng không có sự bàn bạc phân công thực hiện tội phạm, sự liên kết trong các hành vi của các bị cáo chỉ là đồng phạm mang tính chất giản đơn, tổng số tiền các bị cáo đánh bạc ít (22.500.000 đồng). Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng, cả hai đều có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Ngọc C có cha, mẹ đẻ là người có công với cách mạng. Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo C xuất trình tình tiết giảm nhẹ mới - bố đẻ được tặng Huân chương chiến sĩ vẻ vang, bị cáo T có bố đẻ là thương binh 4/4, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Ngọc T 15 tháng tù, bị cáo Nguyễn Ngọc C 12 tháng tù là có phần nghiêm khắc nên có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên toà là phù hợp.
[4] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Ngọc C kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác không có kháng cáo, kháng nghị cấp phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a, b khoản 1 điều 355, điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Ngọc T, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Nguyễn Ngọc C, Nguyễn Ngọc T, sửa bản án sơ thẩm giảm hình phạt cho các bị cáo.
Căn cứ khoản 1 điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 54 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 07 (Bảy) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 26/02/2024 đến ngày 03/3/2024.
Căn cứ khoản 1 điều 321, điểm s khoản 1 điều 51, khoản 2 điều 51, điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Ngọc C 06 (Sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 26/02/2024 đến ngày 03/3/2024.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a, khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Ngọc C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Thái Thị Hồng Vân |
Bản án số 20/2025/HS-PT ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 20/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
