Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/HS-PT

Ngày: 18 - 6 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Đức Hiệp
  • Các Thẩm phán: bà Nguyễn Thị Phượng và ông Phạm Văn Khôi
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Chinh – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 41/2025/TLPT-HS ngày 12 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo Bùi Thành Đ, Nguyễn Thị Thanh N do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2025/HS-ST ngày 24 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.

*Các bị cáo có kháng cáo, bị kháng cáo:

  1. Bùi Thành Đ, sinh ngày 24 tháng 11 năm 2007 tại Ninh Bình (tính đến ngày phạm tội bị cáo 16 tuổi 9 tháng 28 ngày). Nơi ĐKHKTT: Phố T, phường T, thành phố H, tỉnh Ninh Bình. Nơi cư trú: Số nhà A T, phố T, phường T, thành phố H, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Ngọc A (Đã chết), con bà Đinh Thị L, hiện đang chung sống như vợ chồng với Đỗ Thị Thanh N1 và có 01 con sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 19/12/2024 đến nay (có mặt).
  2. Đỗ Thị Thanh N1, sinh ngày 14 tháng 11 năm 2006 tại huyện Y, tỉnh Ninh Bình (tính đến ngày phạm tội bị cáo 17 tuổi 10 tháng 8 ngày). Nơi ĐKHKTT: Xóm T, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Nơi cư trú: Số nhà A T, phố T, phường T, thành phố H, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Minh T, con bà Phạm Thị L1; hiện đang chung sống như vợ chồng với Bùi Thành Đ và có 01 con sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 19/12/2024 đến nay (có mặt).

Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Bùi Thành Đ có kháng cáo: Bà Đinh Thị L (là mẹ đẻ của bị cáo Đ), nơi cư trú: Số nhà A T, phố T, phường T, thành phố H, tỉnh Ninh Bình (có mặt).

Người bào chữa cho các bị cáo Bùi Thành Đ, Đỗ Thị Thanh N1: Bà Phạm Thị M - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh N (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Thành Đ và Đỗ Thị Thanh N1 sống chung với nhau như vợ chồng ở tại số A T, phố T, phường T, thành phố N (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình. Ngày 22/9/2024 Đ nảy sinh ý định mua tinh dầu ma túy về bán kiếm lời nên rủ N1 cùng làm, N1 đồng ý và nói trong tài khoản N1 còn 1.000.000 đồng để góp cùng Đ, Đ và N1 thống nhất nếu có người hỏi mua ma tuý thì N1 hoặc Đ sẽ mang đi bán sau đó về thông báo cho nhau sau. Sau đó Đ lên mạng tìm hiểu và hỏi mua 100 ml tinh dầu ma tuý với giá 1.800.000 đồng của người dùng tài khoản facebook “CBD Ninh Bình”, rồi Đ dùng số tài khoản 9514112006 Ngân hàng quân đội MB của N1 chuyển số tiền 1.000.000 đồng vào số tài khoản 100006668575 của Ngân hàng TMCP C của người bán ma túy và hẹn người này mang ma túy đến gần nhà Đ thì Đ thanh toán nốt số tiền 800.000 đồng. Trưa cùng ngày có 02 người đi xe ô tô (gồm 1 người nam giới và 1 người nữ giới) đều đeo khẩu trang, đi đến khu vực gần nhà Đ, gọi Đ ra, Đ trả nốt cho người nam giới số tiền 800.000 đồng, người này đưa lại cho Đ 01 lọ nhựa màu đen bên trong có chứa chất lỏng màu trắng là ma túy. Đ cầm lọ ma túy vừa mua được lên trên phòng ngủ và san chiết sang 15 lọ nhựa màu trắng loại 5ml và cất vào túi xách màu hồng của N1, sau đó đặt túi xách lên giá nhựa màu hồng, còn N1 lên mạng xã hội facebook đăng bán số ma túy trên. Trong các ngày 22/9/2024 và 23/9/2024, N1 đã 02 lần bán trái phép chất ma tuý, cụ thể:

Lần thứ nhất: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 22/9/2024 N1 nhận được tin nhắn M1 từ tài khoản facebook có tên “N2 Dinh H” hỏi mua tinh dầu ma tuý của N1, N1 đồng ý và thống nhất với người này giá 250.000 đồng được 05 ml tinh dầu ma tuý. N1 gửi số tài khoản 9514112006 Ngân hàng Q của mình cho người này và yêu cầu thanh toán trước. Một lúc sau N1 nhận được số tiền 500.000 đồng từ số tài khoản 98061865839 Ngân hàng T1 chuyển vào số tài khoản của N1, N1 hẹn người này đến nhà N1 để lấy ma tuý. Khoảng 15 phút sau có 02 người nam giới mặc áo mưa, đeo khẩu trang, đi xe mô tô Wave màu tím than đến trước cửa nhà N1 (Nga không nhìn rõ biển kiểm soát), N1 cầm 02 lọ nhựa màu trắng kích thước (5 x 2)cm bên trong có chứa tinh dầu ma túy đưa cho 02 người nam giới. Lấy được tinh dầu ma túy xong 02 người nam giới này điều khiển xe đi luôn. Khoảng 17 giờ cùng ngày Đ đi chơi về thì N1 có kể cho Đ biết việc bán ma tuý được 500.000 đồng, sau đó Đ và N1 tiêu xài hết số tiền trên.

Lần thứ hai: Khoảng 11 giờ 20 phút ngày 23/9/2024 N1 tiếp tục nhận được tin nhắn messenger từ tài khoản facebook có tên “Nguyen D” hỏi mua tiếp 3 lọ tinh dầu ma túy với giá 750.000 đồng. N1 đồng ý và bảo người này chuyển tiền vào số tài khoản 9514112006 Ngân hàng Q của N1. Một lúc sau người này chuyển 750.000 đồng từ số tài khoản 0002045055496 vào tài khoản của N1 và nói N1 mang tinh dầu ma tuý đến gần nhà hàng P ở A phố T, phường N, thành phố H. N1 lấy 03 lọ tinh dầu ma tuý cất vào hốc xe phía trước bên trái của xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION biển kiểm soát 35N1 - 483.63 và điều khiển xe đi đến chỗ hẹn với người này. Khoảng 13 giờ 45 phút cùng ngày khi N1 đi đến khu vực ngõ A đường T, phố T, phường N, thành phố H thì gặp tổ công tác Công an phường N phối hợp với Công an phường N đang làm nhiệm vụ tại đây phát hiện N1 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. N1 tự giác lấy ở hộc để đồ bên trái của xe mô tô đang đi 03 lọ bằng nhựa trong suốt có nắp xoáy kích thước khoảng (5 x 2)cm, bên trong chứa chất lỏng màu trắng giao nộp cho tổ công tác và khai nhận đây là ma tuý N1 mang đi để bán.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đ và N1, thu giữ tại phòng 206 trên giá nhựa màu hồng cạnh đầu giường và tủ quần áo có 01 túi xách màu hồng bên trong có 10 lọ nhựa màu trắng kích thước (5 x 2)cm bên trong chứa chất lỏng màu trắng được niêm phong vào phong bì (ký hiệu KX01); thu giữ dưới gầm bàn trang điểm cạnh cửa ra ban công 43 lọ nhựa màu trắng trong suốt, 46 nắp xoáy bằng nhựa và 41 đầu nút bằng nhựa. Ngoài ra còn thu giữ của N1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus màu vàng và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision biển kiểm soát 35N1 - 483.63.

Tiến hành trưng cầu giám định đối với 03 lọ nhựa trong suốt có nắp xoáy, kích thước khoảng (5 x 2)cm, bên trong có chứa chất lỏng màu trắng được niêm phong trong phong bì ký hiệu TG01 và 10 lọ nhựa trong suốt có nắp xoáy, kích thước khoảng (5 x 2)cm, bên trong có chứa chất lỏng màu trắng được niêm trong phong bì ký hiệu KX01 thu giữ của N1 và Đ để xác định khối lượng chất ma tuý và loại chất ma tuý.

Tại bản kết luận giám định số 7371/KL-KTHS ngày 03/10/2024 của V Bộ C1 kết luận: Đều tìm thấy chất ma tuý MDMB-BUTINACA và MDMB-INACA trong mẫu các chất lỏng trong các niêm phong ký hiệu TG01, KX01. Tổng thể tích các mẫu chất lỏng trong niêm phong ký hiệu TG01 là 11,5ml; tổng thể tích các mẫu chất lỏng trong niêm phong ký hiệu KX01 là 38,5 ml. H1 lại đối tượng giám định: Mẫu vật sau giám định và vỏ bao gói mẫu được hoàn lại trong niêm phong số 7371/KL-KTHS theo Biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định.

Cơ quan điều tra đã ra quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 2277/QĐ-ĐCSMT-KT-MT ngày 22/10/2024 đối với các mẫu chất lỏng trong niêm phong ký hiệu TG01 và KX01 để xác định tổng khối lượng và hàm lượng chất ma tuý.

Tại công văn số 3250/C09-TT2 ngày 29/10/2024 của V Bộ C1 trả lời: Hiện nay, V chưa có mẫu chuẩn định lượng chất ma túy MDMB-BUTINACA và MDMB-INACA nên không giám định được hàm lượng và khối lượng chất ma túy MDMB-BUTINACA và MDMB-INACA có trong các mẫu trên.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 46/2025/HS-ST ngày 24/3/2025 Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình đã xét xử và quyết định:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, Điều 58, Điều 91, Điều 98, Điều 101, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 119, khoản 2 Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên; khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Tuyên bố: Các bị cáo Bùi Thành Đ, Đỗ Thị Thanh N1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

- Hình phạt:

  • + Xử phạt bị cáo Bùi Thành Đ 04 (Bốn) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt đi thi hành án.
  • + Xử phạt bị cáo Đỗ Thị Thanh N1 04 (Bốn) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác; án phí; tuyên quyền kháng cáo cho các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 08 tháng 4 năm 2025 bị cáo Đỗ Thị Thanh N1 có đơn kháng cáo xin đề nghị xét xử bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự vì bị cáo chỉ mua bán ma túy 01 lần,xin giảm nhẹ hình phạt. Ngày 08 tháng 4 năm 2025, bà Đinh Thị L là người đại diện theo pháp luật của bị cáo Bùi Thành Đ có đơn kháng cáo đề nghị xét xử bị cáo Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự vì bị cáo chỉ mua bán ma túy 01 lần và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Đ. Trước khi xét xử phúc thẩm các bị cáo có đơn xin thay đổi nội dung kháng cáo với nội dung: bản án sơ thẩm xét xử đúng người đúng tội, xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tại phiên tòa phúc thẩm sau khi phân tích đánh giá tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; khoản 1 điều 342, điểm c khoản 1 Điều 357, khoản 1 Điều 342 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 251, Điều 58, Điều 91, Điều 98, Điều 101, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 119, khoản 2 Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên.

Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Bùi Thành Đ, Đỗ Thị Thanh N1; sửa bản án hình sự sơ thẩm 46/2025/HS-ST ngày 24/3/2025 Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình về phần hình phạt tù.

  • + Xử phạt bị cáo Bùi Thành Đ 03 năm 09 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt đi thi hành án.
  • + Xử phạt bị cáo Đỗ Thị Thanh N1 03 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Ghi nhận sự tự nguyện của các bị cáo Bùi Thành Đ, Đỗ Thị Thanh N1, mỗi bị cáo đã nộp số tiền 825.000 đồng án phí sơ thẩm và số tiền do phạm tội mà có.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Đại diện hợp pháp của bị cáo Bùi Thành Đ, bị cáo Đỗ Thị Thanh N1 không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Người bào chữa của các bị cáo Bùi Thành Đ, Đỗ Thị Thanh N1 đề nghị xem xét vì các bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo Đ thừa nhận bản án sơ thẩm đã xét xử đúng; áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội, đặc điểm nhân thân, hoàn cảnh gia đình của các bị cáo, giảm nhẹ hình phạt hơn nữa mà bản án sơ thẩm đã quyết định, tạo điều kiện cho các bị cáo sửa chữa sai lầm.

Lời nói sau cùng của các bị cáo Bùi Thành Đ, Đỗ Thị Thanh N1 xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo yên tâm cải tạo sớm trở về với gia đình và xã hội

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hình thức đơn kháng cáo của bị cáo, làm trong hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đỗ Thị Thanh N1; bà Đinh Thị L và bị cáo Đ giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt . Căn cứ khoản 1 Điều 342 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi nội dung kháng cáo của bà Đinh Thị L và bị cáo Bùi Thành Đ.
  2. [2] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Bùi Thành Đ, Đỗ Thị Thanh N1 thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai nhận tội của các bị cáo còn phù hợp với lời khai của người chứng kiến; phù hợp với biên bản khám xét, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận: Ngày 22/9/2024 Bùi Thành Đ và Đỗ Thị Thanh N1 thống nhất góp tiền với nhau mua ma túy MDMB-BUTINACA và MDMB-INACA về bán kiếm lời, sau đó Đ trực tiếp mua ma túy MDMB-BUTINACA và MDMB-INACA, san chiết vào 15 lọ nhỏ để N1 lên mạng rao bán số ma túy trên. Trong ngày 22/9/2024 và ngày 23/9/2024, N1 đã 02 lần bán trái phép chất ma túy cho người sử dụng tài khoản facebook “Nguyen Dinh Huy”, cụ thể:

    Lần thứ nhất: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 22/9/2024, tại số nhà A đường T, phố T, phường T, thành phố H, tỉnh Ninh Bình, Đỗ Thị Thanh N1 đã bán trái phép cho người sử dụng tài khoản facebook “Nguyen Dinh Huy” 02 lọ ma tuý MDMB-BUTINACA và MDMB-INACA với giá 500.000 đồng.

    Lần thứ hai: Khoảng 13 giờ 45 phút ngày 23/9/2024, tại ngõ A đường T, phố T, phường N, thành phố H, tỉnh Ninh Bình, Đỗ Thị Thanh N1 cất giấu 03 lọ ma tuý MDMB-BUTINACA và MDMB-INACA có thể tích là 11,5ml mục đích để bán cho người sử dụng tài khoản facebook “Nguyen Dinh H” với giá 750.000 đồng thì bị phát hiện bắt giữ.

    Ngoài ra, bị cáo Đỗ Thị Thanh N1 và bị cáo Bùi Thành Đ còn cất giấu ma tuý MDMB-BUTINACA và MDMB-INACA có tổng thể tích 38,5ml nhằm mục đích bán kiếm lời.

    Các bị cáo Bùi Thành Đ, Đỗ Thị Thanh N1 đều đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi nêu trên của các bị cáo Bùi Thành Đ, Đỗ Thị Thanh N1 đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, thuộc trường hợp “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

  3. [3] Xét kháng cáo của bị cáo Bùi Thành Đ, Đỗ Thị Thanh N1 xin được giảm nhẹ hình phạt.

    Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo Bùi Thành Đ, Đỗ Thị Thanh N1 là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, là nguyên nhân dẫn đến những hành vi vi phạm pháp luật khác, gây ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an xã hội. Bản án sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xử phạt bị cáo Bùi Thành Đ 04 năm 06 tháng tù; xử phạt bị cáo Đỗ Thị Thanh N1 04 năm 03 tháng tù là phù hợp với quy định của pháp luật.

    Tại cấp phúc thẩm, các bị cáo Bùi Thành Đ, Đỗ Thị Thanh N1 xuất trình thêm tài liệu mới thể hiện các bị cáo đã nộp án phí hình sự sơ thẩm và số tiền do bán ma túy mà có, mỗi bị cáo đã nộp 825.000 đồng; có đơn xác nhận trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, đang nuôi con nhỏ (sinh ngày 26/5/2024). Đó là tình các tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

    Các bị cáo Bùi Thành Đ, Đỗ Thị Thanh N1 là người chưa thành niên nên khi lượng hình cần áp dụng chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi theo quy định của Luật tư pháp người chưa thành niên, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo nhằm giáo dục, giúp đỡ các bị cáo sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

    Vì vậy, kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo là có căn cứ chấp nhận. Hội đồng xét xử thấy cần sửa quyết định của Bản án sơ thẩm số 46/2025/HS-ST ngày 24/3/2025 Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình về phần hình phạt tù đối với các bị cáo Bùi Thành Đ, Đỗ Thị Thanh N1.

  4. [4] Về án phí: Kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị cáo Bùi Thành Đ và bị cáo Đỗ Thị Thanh N1 được chấp nhận nên các bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
  5. [5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; khoản 1 điều 342, điểm c khoản 1 Điều 357; khoản 1 Điều 342 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

    Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, Điều 58, Điều 91, Điều 98, Điều 101, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự;

    Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  2. Chấp nhận kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị cáo Bùi Thành Đ và bị cáo Đỗ Thị Thanh N1; sửa bản án hình sự sơ thẩm 46/2025/HS-ST ngày 24/3/2025 Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình về phần hình phạt tù.
    • + Xử phạt bị cáo Bùi Thành Đ 04 (B) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt đi thi hành án.
    • + Xử phạt bị cáo Đỗ Thị Thanh N1 03 (Ba) năm 06 (S) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt đi thi hành án.

    Ghi nhận sự tự nguyện của các bị cáo Bùi Thành Đ, Đỗ Thị Thanh N1, mỗi bị cáo đã nộp số tiền 825.000 đồng án phí sơ thẩm và số tiền do phạm tội mà có tại 02 Biên lai 0000343 và 0000344 ngày 04/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.

    Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

  3. Đại diện hợp pháp của bị cáo Bùi Thành Đ, bị cáo Đỗ Thị Thanh N1 không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 18/6/2025.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao (01bản);
  • - VKSND Cấp cao (01 bản);
  • - Phòng TT-KT-THA (01bản);
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình (03bản);
  • - Phòng HSNV - Công an Ninh Bình (01bản);
  • - TAND TP Hoa Lư (4 bản);
  • - VKSND TP Hoa Lư (01bản);
  • - Chi cục THA TP Hoa Lư (01bản);
  • - NĐDHP của bị cáo (01 bản)
  • - Bị cáo (01bản);
  • - Lưu hồ sơ, lưu tòa, HCTP (03bản);
  • - Thông báo chính quyền địa phương b/c.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

đã ký

Nguyễn Đức Hiệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HS-PT ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH về hình sự phúc thẩm (mua bán trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 20/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Mua bán trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bùi thành Đ cùng đồng phạm - mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger