|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST Ngày: 28/02/2025 V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hoàn.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Thu Hiền;
Bà Hoàng Thị Len .
- Thư ký phiên tòa: Ông Tạ Trung Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 187/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2024 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2025/QĐ-PT ngày 13 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1987;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố V, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình.
Số định danh cá nhân: 034087007199.
- Bị đơn: Chị Hoàng Thị H, sinh năm 1990;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Đ, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
Địa chỉ hiện nay: Nhật Bản (không rõ địa chỉ cụ thể).
Số định danh cá nhân: 034190000464.
(Anh T có đơn xin xét xử vắng mặt, chị H vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Tại đơn khởi kiện đề ngày 19/11/2024 và Bản tự khai của nguyên đơn anh Nguyễn Thanh T yêu cầu giải quyết về quan hệ hôn nhân với chị Hoàng Thị H và trình bày như sau:
Anh và chị H tự nguyện tìm hiểu và có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình vào ngày 22/12/2021 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 67/2021. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân của mâu thuẫn là do tính tình không hợp, bất đồng về quan điểm sống. Sau đó, chị H đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, từ đó hai vợ chồng không thường xuyên liên lạc, hỏi han, quan tâm nhau và sống ly thân từ đó đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng đã hết, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị H.
Về con chung: Anh và chị H không có con chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh và chị H không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt anh.
* Đối với chị Hoàng Thị H: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập và các văn bản tố tụng khác trong quá trình giải quyết vụ án cho chị Hoàng Thị H thông qua gia đình chị H, nhưng chị H không tham gia tố tụng, không có văn bản trình bày ý kiến của chị đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn gửi đến Tòa án.
* Bà Trịnh Thị H1, sinh năm 1969, địa chỉ: Thôn Đ, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình (mẹ đẻ của chị Hoàng Thị H) trình bày:
Về điều kiện kết hôn giữa anh T và chị H như anh T đã trình bày là đúng. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh T, chị H chung sống với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống nên đã sống ly thân với nhau. Sau đó một thời gian, chị H đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản để ổn định cuộc sống nên vợ chồng anh T và chị H đã sống ly thân được hơn 01 năm nay. Gia đình hai bên cũng đã cố gắng hàn gắn nhưng đều không được. Vợ chồng anh T và chị H không có con chung, không có tài sản chung, nợ chung.
Nay anh T khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị H, đề nghị Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết.
Hiện nay, chị H đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản, bà không biết rõ địa chỉ chính xác của chị H ở Nhật Bản nhưng chị H vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình qua điện thoại và mạng xã hội. Bà đã thông báo các văn bản tố tụng của Tòa án giao cho bà để chị H biết, bao gồm: Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập, ... chị H nói chị nhất trí ly hôn anh T. Bà đề nghị Tòa án tiếp tục gửi các văn bản trong quá trình giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình giữa anh T và chị H cho bà để bà thông báo lại cho chị H.
* Công văn số 1128/PA08 ngày 31/12/2024 của Phòng Q Công an tỉnh T cung cấp: Chị Hoàng Thị H xuất cảnh lần gần nhất ngày 28/03/2023, chưa có thông tin nhập cảnh vào Việt Nam.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý đến khi xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn không tham gia tố tụng.
- Về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị áp dụng Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho anh Nguyễn Thanh T ly hôn chị Hoàng Thị H. Về quan hệ con chung: Không đặt ra giải quyết. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết. Anh T phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, cũng như thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Sau khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án anh Nguyễn Thanh T xin ly hôn chị Hoàng Thị H theo thủ tục chung, anh T đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn như cung cấp bản tự khai, cung cấp các chứng cứ chứng minh và có đơn đề nghị Toà án không hòa giải, đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn - chị Hoàng Thị H đã được Tòa án thông báo thông qua mẹ đẻ của chị các văn bản tố tụng gồm: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên toà; Giấy triệu tập của Tòa án nhưng chị H không có mặt theo yêu cầu của Tòa án, không cung cấp bản tự khai và địa chỉ cụ thể tại Nhật Bản của chị cho Tòa án. Như vậy, chị H đã cố tình giấu địa chỉ, từ chối trình bày ý kiến và không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Tòa án đã giao các văn bản tố tụng cho thân nhân của chị H và đã niêm yết công khai các văn bản đó tại chính quyền địa phương nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của chị H ở Việt Nam để đảm bảo quyền tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án cho chị H. Tuy nhiên, chị H vẫn vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do. Anh T có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục vắng mặt anh Nguyễn Thanh T và chị Hoàng Thị H.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn:
[2.1] Quan hệ hôn nhân của anh Nguyễn Thanh T và chị Hoàng Thị H được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình vào ngày 22/12/2021 là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, vợ chồng anh T, chị H chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, tình cảm vợ chồng không còn như trước, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay. Sau khi chị H đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, vợ chồng không còn thường xuyên liên lạc, quan tâm nhau. Điều này thể hiện mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do chị H đang ở Nhật Bản không thể đến Tòa án để tham gia hòa giải và thỏa thuận ly hôn nên Tòa án chấp nhận yêu cầu của anh T, xử cho anh T ly hôn chị H là phù hợp với quy định tại Điều 39 Bộ luật Dân sự; Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về quan hệ con chung: Vợ chồng anh T, chị H không có con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung. Tòa án đã thông tin qua bà H1 (là mẹ đẻ chị H) hướng dẫn chị H trình bày lời khai, quan điểm của mình về yêu cầu khởi kiện của anh T nhưng chị H không có lời khai, không có yêu cầu nào nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[2.4] Về án phí và quyền kháng cáo: Anh Tùng phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm; các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản b điểm 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 Điều 271; Điều 273; Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí Tòa án.
[1] Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Thanh T được ly hôn chị Hoàng Thị H.
[2] Về quan hệ con chung: Không đặt ra giải quyết.
[3] Về quan hệ tài sản: Không đặt ra giải quyết.
[4] Về án phí: Anh Nguyễn Thanh T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng anh T đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai số 0000407 ngày 26 tháng 12 năm 2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình sang thi hành án phí.
[5] Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Thanh T có quyền kháng cáo bản án trong thời gian 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án; chị Hoàng Thị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thúy Hoàn |
Bản án số 20/2025/HNGĐ-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 20/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh T - Hoàng Thị H
