|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST Ngày: 28/02/2025 V/v tranh chấp “Ly hôn”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO-TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Sang.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Kiệt.
2. Bà Bùi Thị Thu Nhi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Đặng Kiều My, Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 522/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 240/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 02/2025/QĐST-HNGĐ ngày 07/01/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 22/2025/QĐST-HNGĐ ngày 06/02/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Lê Thành T, sinh năm 1982 (có mặt).
Địa chỉ: E tổ A ấp P, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. - Bị đơn: Chị Đỗ Thị Trúc L, sinh năm 1979 (xin vắng mặt).
Địa chỉ: E tổ A ấp P, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng C – Chi nhánh tỉnh T. Địa chỉ: A đường N, Phường D, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
Đại diện theo pháp luật: Ông Dương Văn H, chức vụ: Giám đốc.
Ông H ủy quyền cho ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1977, chức vụ: Phó giám đốc - Ngân hàng C - Chi nhánh tỉnh T. Theo Giấy ủy quyền ngày 31/10/2024 (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn anh Lê Thành T trình bày: Anh và chị L quen biết nhau và có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thành phố M ngày 20/02/2009. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc, nhưng đến đầu năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, đã ly thân từ 2014 cho đến nay, mặc dù ở chung một nhà. Nhận thấy, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt, không còn khả năng đoàn tụ, nên anh yêu cầu được ly hôn với chị Đỗ Thị Trúc L.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Ngọc Phương K, sinh ngày 30/3/2011. Hiện cháu K đang sống với vợ chồng anh, chị, Khi ly hôn, anh đồng ý giao cháu K cho chị L nuôi dưỡng, anh cấp dưỡng nuôi con 2.500.000 đồng/tháng cho đến khi cháu K tròn 18 tuổi; Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Trong quá trình tố tụng chị L trình bày: Chị thống nhất với lời trình bày của anh T về thời gian kết hôn, có đăng ký kết hôn tại xã T, thành phố M, Tiền Giang. Anh, chị không có mâu thuẫn gì lớn, nhưng không có tiếng nói chung, đã ly thân từ năm 2014 đến nay, nhưng chị muốn giữ tâm lý cho con học hành nên người, nên cố gắng lo ăn uống sinh hoạt trong gia đình, vợ chồng vẫn sống chung một nhà, nên chị không đồng ý ly hôn.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Ngọc Phương K, sinh ngày 30/3/2011. Chị không đồng ý ly hôn, chị mong muốn đoàn tụ vợ chồng để cùng nhau nuôi con, vì ly hôn con chung sẽ bỏ học do ảnh hưởng tâm lý của cháu K. Hiện chị và cháu K, anh T đang sống chung tại căn nhà theo địa chỉ trên, nhà này do mẹ chồng chị đứng tên. Chị không đồng ý ly hôn, nên không yêu cầu giải quyết về con chung. Nếu Tòa án cho ly hôn thì chị đồng ý nuôi cháu K, yêu cầu anh Trung cấp D nuôi con 2.500.000 đồng/1 tháng cho đến khi cháu K tròn 18 tuổi.
- Về tài sản chung: vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng C – Chi nhánh T: Tại Công văn số 18/CV-NHCS ngày 16/01/2025 có nội dung: Ngày 20/02/2021 ngân hàng có cho ông Lê Thành T, sinh năm 1982 vay 20.000.000 đồng, ngày đến hạn 20/02/2026. Dư nợ đến ngày 15/01/2025 là 20.000.000 đồng; L1 đã trả 6.746.307 đồng, số lãi còn phải trả tạm tính đến 15/01/2025 là 295.890 đồng; Số dư tiền gởi tiết kiệm: 3.977.859 đồng.
Do khoản vay của ông T chưa đến hạn trả nợ cuối cùng, Ngân hàng đã trao đổi với khách hàng và khách hàng đã đồng ý thỏa thuận trong gia đình tự trả nợ khi Tòa án giải quyết thủ tục ly hôn, vì vậy ngân hàng tiếp tục theo dõi thu hồi và chưa đề nghị áp dụng biện pháp khác.
Tại phiên tòa anh T yêu cầu được ly hôn với chị L, anh đồng ý giao cháu K cho chị L nuôi dưỡng, anh cấp dưỡng nuôi con 2.205.000đ/tháng, tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết; Nợ chung: không yêu cầu giải quyết.
- Chị L vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên tại phiên tòa ngày 07/01/2025 chị L trình bày: Chị đồng ý ly hôn, chị đồng ý nuôi dưỡng cháu K, đồng ý anh Trung cấp D nuôi con cho đến khi cháu K tròn 18 tuổi. Về tài sản chung: tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết; Nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Đại diện theo ủy quyền của ngân hàng C - chi nhánh T trình bày: Khoản vay khách hàng ông T, bà L chưa đến hạn trả nợ cuối cùng, ngân hàng vẫn tiếp tục và theo dõi thu hồi nợ, ngân hàng không có đơn yêu cầu độc lập trong vụ án này, nếu khách hàng vi phạm nghĩa vụ trả nợ ngân hàng sẽ khởi kiện thành vụ án khác.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự chấp hành đúng quy định.
Về nội dung vụ án: Anh T yêu cầu được ly hôn, chị L đồng ý ly hôn, đề nghị cho ly hôn giữa anh T với chị L; Về con chung: Đề nghị giao cháu K cho chị L nuôi dưỡng, anh Trung cấp D nuôi con 2.205.000 đồng/tháng; Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét; Về nợ chung: Anh T trình bày còn nợ Ngân hàng C – chi nhánh T 16.350.000 đồng, anh không yêu cầu giải quyết; Phía Ngân hàng cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này, nên không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Chị Đỗ Thị Trúc L có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị L.
[1] Về hôn nhân: Anh T và chị L có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã T, thành phố M cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 20/02/2009, nên hôn nhân giữa anh, chị là hợp pháp.
[2] Xét yêu cầu của anh T, Hội đồng xét xử nhận thấy: Tại phiên tòa anh T trình bày vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, đã ly thân từ năm 2014 cho đến nay, không ai quan tâm chăm sóc ai. Chị L đã thuê nhà trọ sinh sống từ tháng 12/2024 cho đến nay, nên anh yêu cầu được ly hôn với chị L.
Xét thấy, mâu thuẫn giữa hai anh, chị đã trầm trọng, đã ly thân thời gian rất dài từ năm 2014 cho đến nay, hiện mỗi người sống một nơi, không ai quan tâm chăm sóc ai, anh T yêu cầu được ly hôn, tại phiên tòa ngày 07/01/2025 chị L trình bày chị đồng ý ly hôn, nên Hội đồng chấp nhận cho ly hôn giữa anh T với chị L là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Ngọc Phương K, sinh ngày 30/3/2011. Anh T đồng ý giao cháu K cho chị L nuôi dưỡng, tại phiên tòa ngày 07/01/2025 anh T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 2.500.000 đồng/tháng cho đến khi cháu K tròn 18 tuổi. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay anh T trình bày hiện anh đang thất nghiệp, công việc không ổn định, anh tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 2.205.000 đồng/tháng.
Xét thấy, cháu K có nguyện vọng được sống chung với mẹ là chị L, để ổn định cuộc sống, tâm sinh lý của cháu K, nên giao cháu K cho chị L nuôi dưỡng, anh Trung cấp D nuôi con 2.205.000 đồng/tháng là phù hợp quy định tại Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
- Về tài sản chung: Tại phiên tòa anh T trình bày: Tại đơn khởi kiện anh ghi tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết tài sản chung, nay anh vẫn giữ ý kiến trong đơn khởi kiện. Trong quá trình tố tụng chị L trình bày tài sản chung tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về nợ chung: Anh T trình bày tại đơn khởi kiện anh ghi không có, không yêu cầu giải quyết lý do là anh không biết còn nợ ngân hàng bao nhiêu. Nhưng thực tế anh có nợ ngân hàng C1 - chi nhánh T 20.000.000 đồng, chị L có đóng lãi hàng tháng. Hiện còn nợ vốn, lãi tổng cộng là 16.350.000 đồng, anh không yêu cầu giải quyết. Phía Ngân hàng C – chi nhánh T trình bày: Khoản vay khách hàng ông T, bà L chưa đến hạn trả nợ cuối cùng, ngân hàng vẫn tiếp tục và theo dõi thu hồi nợ, ngân hàng không có đơn yêu cầu độc lập trong vụ án này, nếu khách hàng vi phạm nghĩa vụ trả nợ ngân hàng sẽ khởi kiện thành vụ án khác, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét về nợ chung của anh T và chị L.
[3] Về án phí: Anh T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
[4] Xét, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự; Điều 227, Điều 228, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Thành T.
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Lê Thành T và chị Đỗ Thị Trúc L.
- Về nuôi con chung: Giao cháu Lê Ngọc Phương K, sinh ngày 30/3/2011 cho chị Đỗ Thị Trúc L nuôi dưỡng, anh Lê Thành T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 2.205.000 đồng/tháng. Thực hiện từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Lê Ngọc Phương K tròn 18 tuổi.
- Kể từ ngày chị Đỗ Thị Trúc L có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Lê Thành T chậm thi hành án thì hàng tháng còn phải chịu lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
- Anh Lê Thành T có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Anh Lê Thành T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh T đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006730 ngày 04/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang nên anh T còn phải nộp tiếp 300.000 đồng nữa.
Anh Lê Thành T, Ngân hàng C - chi nhánh T có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Chị Đỗ Thị Trúc L vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đinh Thị Sang |
Bản án số 20/2025/HNGĐ-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG về ly hôn
- Số bản án: 20/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
