|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST
Ngày 27 tháng 6 năm 2025
Về việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phượng.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Lò Thị Quỳnh .
- Bà Hoàng Thanh Thúy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Cầm Việt Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Bằng Phi - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 60/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2025 về việc Tranh chấp hôn nhân và gia đình. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXX-ST ngày 28 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2025/QĐST - HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1993. Địa chỉ: Tổ E, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
Bị đơn: Anh Hà Văn L, sinh năm 1990. Địa chỉ: Đ: Tổ E, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng Thương mại cổ phần S, Địa chỉ: Số G, phố T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội. Đại diện theo pháp luật: Bà Ngô Thu H - Tổng giám đốc; Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Huy T1 - phó Giám đốc kiểm trưởng phòng điều hành chiến dịch xử lý nợ (Văn bản ủy quyền số 712A ngày 01/12/2023); Đại diện theo ủy quyền lại: Ông Nguyễn Bá Q, bà Nguyễn Thị Phương T2, ông Lò Văn D - Chuyên viên xử lý nợ (Giấy ủy quyền số 430 ngày 10/6/2025). Ông Q, bà T2 vắng mặt; ông D có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 27 tháng 12 năm 2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Hà Văn L kết hôn năm 2014 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống và phương pháp nuôi dạy con. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, trên thực tế đã ly thân nhiều năm, thỉnh thoảng anh Hà Văn L lại bỏ nhà đi một thời gian, đi đâu làm gì chị T không biết, hai vợ chồng không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Nay xét thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Hà Văn L.
Về con chung: Có 02 con chung cháu Hà Đình K, sinh ngày 26/5/2015 và cháu Hà Khánh V, sinh ngày 8/01/2019, chị Nguyễn Thị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con đến khi trưởng thành, vì anh Hà Văn L thường xuyên đi làm ăn xa, thỉnh thoảng về thăm con rồi lại đi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị T yêu cầu anh Hà Văn L cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu 2.500.000 đồng/1 tháng.
Về tài sản chung, tài sản riêng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Theo hợp đồng tín dụng số 0450/2023/HĐHM-CN/SHB. 122000 ngày 8/12/2023 ký giữa ngân hàng TMCP S với ông Hà Văn L và bà Nguyễn Thị T số dư nợ gốc là 1.580.000.000 đồng, nợ trong hạn. Chị T, anh L và Ngân hàng đã thỏa thuận với nhau tiếp tục thực hiện hợp đồng, trong trường hợp chị T, anh L vi phạm hợp đồng tín dụng thì Ngân hàng sẽ khởi kiện ở một vụ án khác.
- Bản tự khai ngày 10 tháng 2 năm 2025 anh Hà Văn L khai nhận:
Về quan hệ hôn nhân: Về thời gian, địa điểm kết hôn như chị Nguyễn Thị T khai là đúng. Quá trình chung sống không hạnh phúc, thường xuyên mâu thuẫn, vợ chồng đã ly thân nhiều năm, không còn quan tâm chăm sóc nhau, tình cảm vợ chồng không còn, anh Hà Văn L đồng ý ly hôn.
Về con chung: Có 02 con chung cháu Hà Đình K, sinh ngày 26/5/2015 và cháu Hà Khánh V, sinh ngày 8/01/2019, anh Hà Văn L đồng ý để chị Nguyễn Thị T nuôi dưỡng các con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Hà Văn L tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu 2.500.000 đồng/1 tháng.
Về tài sản chung, tài sản riêng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Anh Hà Văn L xác định, chị T và anh L có nợ Ngân hàng TMCP S số dư nợ gốc không nhớ chính xác, hợp đồng còn trong hạn, hiện vẫn đang thực hiện nghĩa vụ của người vay với ngân hàng rất tốt.
Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, Tòa án nhân dân thành phố Sơn La triệu tập nhiều lần và niêm yếu công khai: Thông báo về phiên họp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo hoãn phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh L vắng mặt không có lý do cũng không có ý kiến thay đổi lời khai đầu. Vì vậy, Tòa án không lập biên bản ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự được mà phải đưa vụ án ra xét xử.
- Chứng cứ do Tòa án thu thập: Biên bản xác minh ngày 8 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Sơn La đối với bà Vũ Thị Minh C, Bí thư - Tổ trưởng tổ E, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La thể hiện:
Anh Hà Văn L và chị Nguyễn Thị T có hộ khẩu tại tổ E, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La. Còn việc tình cảm vợ chồng mâu thuẫn như thế nào và có nợ chung bao nhiêu chính quyền địa phương không biết chính xác cụ thể.
Đối với việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Hà Văn L, do anh L đi làm ăn buôn bán, giờ giấc thất thường không cụ thể nên việc tống đạt trực tiếp gặp nhiều khó khăn, sẽ không đảm bảo thời hạn giải quyết vụ án của Tòa án. Do đó, đề nghị Tòa án niêm yết văn bản theo quy định của pháp luật.
Biên bản ghi ý kiến con chưa thành niên từ đủ 7 tuổi, ngày 11 tháng 2 năm 2025 của Tòa án đối với cháu Hà Đình K thể hiện: Trong trường hợp chị T và anh L ly hôn cháu K có nguyện vọng được ở với chị Nguyễn Thị T.
Công văn số 83/CV-SHB.SL ngày 27 tháng 02 năm 2025 của Ngân hàng TMCP S thể hiện: Ngân hàng và anh Hà Văn L, chị Nguyễn Thị T có ký hợp đồng tín dụng số 0450/2023/HĐHM-CN/SHB. 122000 ngày 8/12/2023 cho anh L, T vay số tiền gốc là 1.580.000.000 đồng, nợ trong hạn. Nay chị T và anh L ly hôn Ngân hàng không có ý kiến gì, nếu sau này có phát sinh tranh chấp đối với khoản vay sẽ khởi hiện ở một vụ án khác.
- Tại phiên tòa: Đại diện ngân hàng S anh Lò Văn D trình bày: Trong vụ án ly hôn anh L và chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nên Ngân hàng không yêu cầu Tòa án giải quyết nợ chung trong vụ án này. Nếu có tranh chấp, Ngân hàng sẽ khởi kiện ở vụ án khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, đương sự; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và đường lối giải quyết vụ án như sau:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn anh Hà Văn L trong suốt quá trình giải quyết vụ án vắng mặt. Tuy nhiên, Tòa án nhân dân thành phố Sơn La đã niêm Yết công khai các văn bản tố tụng nhưng anh Hà Văn L vẫn vắng mặt nên việc Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh L là phù hợp với quy định tại Điều 207, Điều 227 và Điều 228 của Bộ Luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân gia đình Khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Hà Văn L; Ghi nhận sự thỏa thuận của đương sự giao cháu Hà Đình K, sinh ngày 26/5/2015 và cháu Hà Khánh V, sinh ngày 8/01/2019 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục đến khi các con đủ 18 tuổi và có khả năng lao động; Ghi nhận việc anh Hà Văn L tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu Hà Đình K, sinh ngày 26/5/2015 và cháu Hà Khánh V, sinh ngày 8/01/2019 mỗi cháu 2.500.000 đồng/1 tháng. Chị Nguyễn Thị T và anh Hà Văn L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
- Về tố tụng: Xét đơn của nguyên đơn chị Nguyễn Thị T, khởi kiện yêu cầu xin ly hôn đối với anh Hà Văn L, anh L có hộ khẩu thường trú tại tổ E, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La. Tòa án nhân dân thành phố Sơn La thụ lý vụ án với quan hệ pháp luật tranh chấp xin ly hôn là đúng quan hệ pháp luật, đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Hà Văn L thường xuyên vắng mặt tại nơi cư trú, không chấp hành quyết định của Tòa án. Tòa án tiến hành niêm yết công khai các thủ tục tố tụng tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, Ủy ban nhân dân phường Q, nơi cư trú của bị đơn (nhà văn hóa tổ E) hợp lệ nhiều lần nhưng tại phiên tòa ngày hôm nay anh Hà Văn L vẫn vắng mặt; chị T có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 207, Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Hà Văn L tự nguyện kết hôn và đã được UBND phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La cấp giấy chứng nhận kết hôn. Khi kết hôn hai bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật, do đó, chị T và anh L là vợ chồng hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng không hòa thuận hạnh phúc, thường xuyên mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là bất đồng quan điểm sống, bất đồng trong việc giáo dục con cái. Chị T và anh L đã sống ly thân nhiều năm nay, không ai quan tâm đến ai. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh L mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, cần căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T, xử cho chị T được ly hôn với anh L.
- Về con chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Hà Văn L có 02 con chung là cháu Hà Đình K, sinh ngày 26/5/2015 và cháu Hà Khánh V, sinh ngày 8/01/2019. Nay ly hôn chị Nguyễn Thị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục hai con. Cháu Hà Đình K có nguyện vọng được ở với chị T. Xét thấy, hiện tại các cháu còn nhỏ, chị T có công việc ổn định, có thu nhập, bị đơn anh Hà Văn L thường xuyên vắng nhà không có điều kiện chăm sóc con. Vì vậy, chấp nhận sự thỏa thuận của đương sự giao con chung là cháu Hà Đình K và cháu Hà Khánh V cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chấp nhận việc anh Hà Văn L tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu 2.500.000 đồng/1 tháng đến khi các con trưởng thành và có khả năng lao động.
- Về tài sản chung, tài sản riêng: Trong quá trình giải quyết vụ án đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp về tài sản chung, tài sản riêng và có người khởi kiện thì sẽ được giải quyết ở một vụ án khác.
- Về nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại công văn số 83/CV-SHB.SL ngày 27 tháng 02 năm 2025 của Ngân hàng TMCP S thể hiện: Ngân hàng TMCP S cùng anh Hà Văn L, chị Nguyễn Thị T xác nhận: Theo hợp đồng tín dụng số 0450/2023/HĐHM-CN/SHB. 122000 ngày 8/12/2023 ký giữa ngân hàng TMCP S với ông Hà Văn L và bà Nguyễn Thị T số dư nợ gốc của chị T và anh L là 1.580.000.000 đồng, nợ trong hạn. Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nợ chung, nếu sau này có phát sinh tranh chấp thì sẽ khởi hiện ở một vụ án khác. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T và anh Hà Văn L có nghĩa vụ nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và khoản 5 và khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 4 Điều 147; khoản 1, khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; điểm b khoản 1 Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Khoản 5 và khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Hà Văn L.
- Về con chung: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của nguyên đơn, bị đơn: Giao cháu Hà Đình K, sinh ngày 26/5/2015 và cháu Hà Khánh V, sinh ngày 8/01/2019 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu K và cháu V đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.
- Về cấp dưỡng: Ghi nhận việc anh Hà Văn L tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung cụ thể:
Cấp dưỡng nuôi cháu Hà Đình K, sinh ngày 26/5/2015, mức cấp dưỡng là 2.500.000 (Hai triệu năm trăm nghìn) đồng/1 tháng. Thời gian cấp dưỡng từ tháng 7 năm 2025 đến khi cháu Hà Đình K đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Cấp dưỡng nuôi cháu Hà Khánh V, sinh ngày 8/01/2019, mức cấp dưỡng là 2.500.000 (Hai triệu năm trăm nghìn) đồng/1 tháng. Thời gian cấp dưỡng từ tháng 7 năm 2025 đến khi cháu Hà Khánh V đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
- Về tài sản chung, tài sản riêng: Nguyên đơn, bị đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Ngân hàng TMCP S và anh Hà Văn L, chị Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nên Tòa án không xem xét giải quyết trong vụ án, sau này có tranh chấp có quyền khởi kiện một vụ án khác.
- Về án phí:
Chị Nguyễn Thị T có nghĩa vụ nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khẩu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002622 ngày 10/2/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sơn La.
Anh Hà Văn L có nghĩa vụ nộp 150.000 (Một trăm năm mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm cấp dưỡng nuôi con.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 27/6/2025).
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Phượng |
Bản án số 20/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 20/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án hôn nhân gia đình Nguyễn Thị T - Hà Văn L
