|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA TỈNH LẠNG SƠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST Ngày: 26 - 6 - 2025 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Nam Toàn
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hoàng Văn Lộc
- Bà Nông Thị Ngọc Anh
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hợi – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Lương Thị Kiều - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 38/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2025, về việc “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2025/QÐST-HNGĐ, ngày 02 tháng 06 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2025/QÐST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lý Thị H, sinh năm 2000. Vắng mặt. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
ĐKHKTT: Thôn K, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh.
- Bị đơn: Anh Triệu Văn T, sinh năm 1998. Vắng mặt không có lý do.
Địa chỉ: Thôn K, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai chị Chu Thị H1 trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lý Thị H và anh Triệu Văn T được tổ chức cưới theo phong tục tập quán trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Sau khi kết hôn hai vợ chồng về sinh sống tại thôn K, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Quá trình chung sống vợ chồng có sự khác nhau về quan điểm sống nên hai người đã ly thân từ tháng 2/2022 đến nay. Do tình cảm vợ chồng không còn, thời gian sống ly thân đã lâu nên chị Lý Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Triệu Văn T; Về con chung: Không có; về tài sản chung, nợ chung vợ chồng: Không có. Và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt trong toàn bộ vụ án.
Lời khai người làm bà Trịnh Thị G – mẹ anh Triệu Văn T thể hiện chị Lý Thị Hường H bỏ nhà đi từ tháng 3/2021 đến nay. Các băn bản tố tụng bà G nhận thay và thông báo văn bản cho anh Triệu Văn T biết.
Tại biên bản xác minh trưởng thôn Khuổi Bổng là ông Bàn Văn S thể hiện chị H đi khỏi gia đình từ năm 2021 đến nay.
Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do nên không có văn bản thể hiện quan điểm của bị đơn.
Tòa án đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng vắng mặt bị đơn.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Từ khi thụ lý vụ án Thẩm phán đã tiến hành tố tụng đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Quá trình tiến hành tố tụng tại phiên tòa Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân thực hiện đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ bảo đảm đúng quyền lợi và thực hiện nghĩa vụ khi tham gia tố tụng. Bị đơn không thực hiện nghĩa vụ khi tham gia tố tụng.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các khoản 1 Điều 28; khoản 4 Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các 56, 57 Luật Hôn nhân gia đình; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lý Thị H, xử cho chị Lý Thị H được ly hôn với anh Triệu Văn T; Về con chung: Không có nên không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng: Do bị đơn không có văn bản trình bày quan điểm này nên không xem xét. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Lý Thị H yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn với anh Triệu Văn T có địa chỉ tại thôn K, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Do đó, đây là tranh chấp hôn nhân gia đình theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn. Tòa án nhân dân huyện Bình Gia thụ lý, giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng quy định.
[2] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết bị đơn vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án. Kết quả xác minh tại Công an xã, biên bản xác minh, lấy lời khai người làm chứng đều thể hiện bị đơn có hộ khẩu thường trú tại thôn K, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn và vẫn có liên lạc bằng điện thoại. Các văn bản tố tụng của Tòa án mẹ anh Triệu Văn T đã nhận thay và thông báo cho bị đơn. Quá trình giải quyết đã tống đạt đầy đủ, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng, giải thích đầy đủ quyền, nghĩa vụ cho bị đơn theo quy định. Tòa án đã hoãn phiên tòa lần 1 do vắng mặt bị đơn, đã tống đạt đầy đủ văn bản. Nguyên đơn có văn bản trình bày quan điểm và có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, việc xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn không làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự. Theo quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự là có căn cứ.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lý Thị H và anh Triệu Văn T được tự do, tự nguyện tìm hiểu và tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương và đăng ký kết hôn số 10 ngày 28/9/2018 tại UBND xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn theo quy định nên là hôn nhân hợp pháp, đúng pháp luật. Thời điểm sống ly thân, phù hợp với biên bản xác minh. Do đó, xác định các đương sự có mâu thuẫn vợ chồng, có thời gian sống ly thân đã lâu từ năm 2021 đến nay. Qua trình giải quyết vụ án, bị đơn đã được thông báo nội dung vụ án nhưng không tham gia tố tụng để trình bày quan điểm thể hiện việc không còn tình cảm vợ chồng. Như vậy, hôn nhân giữa Lý Thị H và anh Triệu Văn T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, theo Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử thấy có căn cứ để giải quyết cho chị Lý Thị H được ly hôn với anh Triệu Văn T.
[4] Về con chung: Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn nêu không có con chung, phù hợp với kết quả xác minh. Tuy nhiên, do không có văn bản trình bày của bị đơn đối với nội dung này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về tài sản chung vợ chồng, nợ chung vợ chồng: Quá trình giải quyết vụ án chị Lý Thị H xác định quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung vợ chồng, nợ chung vợ chồng. Tuy nhiên, bị đơn không có văn bản trình bày quan điểm đối với các nội dung này. Để đảm bảo quyền lợi của đương sự trong vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án.
[6] Về án phí: Chị Lý Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm. Tuy nhiên, chị Lý Thị H là dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 24, khoản 1 Điều 25, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Lý Thị H.
[7] Quan điểm của Viện kiểm sát là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
[8] Về kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; 238, 264, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, các Điều 56, 57, 58 Luật Hôn nhân gia đình 2014;
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 24, khoản 1 Điều 25, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lý Thị H được ly hôn với anh Triệu Văn T.
- Về án phí: chị Lý Thị H được miễn án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Ngô Nam Toàn |
Bản án số 20/2025/HNGĐ-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 20/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Lý Thị H và anh Triệu Văn T được tổ chức cưới theo phong tục tập quán trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Sau khi kết hôn hai vợ chồng về sinh sống tại thôn K, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Son. Quá trình chung sống vợ chồng có sự khác nhau về quan điểm sống nên hai người đã ly thân từ tháng 2/2022 đến nay. Do tình cảm vợ chồng không còn, thời gian sống ly thân đã lâu nên chị Lý Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Triệu Văn T.
