|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LỢI TỈNH BẠC LIÊU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST Ngày: 26-3-2025 V/v ly hôn |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LỢI, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Hồng Chi
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đào Văn Vĩnh
- Bà Trần Thị Phương Anh
- - Thư ký phiên tòa: Bà Tào Diệu Như, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Xuân, Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 16/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2025 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QÐST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Trần Thanh H, sinh năm 1985. Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Địa chỉ liên lạc: Số C, Tổ A, ấp C, đường V, xã V, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1982. Địa chỉ: Ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 07 tháng 01 năm 2025, Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 10 tháng 02 năm 2025, nguyên đơn bà Trần Thanh H, trình bày: Vào năm 2010, bà Trần Thanh H và ông Nguyễn Văn T tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương. Đến tháng 10 năm 2017, bà Trần Thanh H và ông Nguyễn Văn T tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Bạc Liêu và được Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận kết hôn số 88/2017, ngày 23 tháng 10 năm 2017.
Quá trình chung sống, bà Trần Thanh H và ông Nguyễn Văn T có tất cả 02 (hai) người con chung là Nguyễn Văn N, sinh ngày 16 tháng 5 năm 2001 và Nguyễn Thị N1, sinh ngày 02 tháng 8 năm 2003. Hiện nay, Nguyễn Văn N và Nguyễn Thị N1 đã trưởng thành khỏe mạnh và đã có gia đình riêng.
Về tài sản chung: Bà Trần Thanh H xác định bà Trần Thanh H và ông Nguyễn Văn T chung sống không có tạo lập được tài sản chung gì hết.
Về nợ chung: Trong thời gian chung sống, bà Trần Thanh H xác định bà Trần Thanh H và ông Nguyễn Văn T không vay, mượn tiền, tài sản của bất kỳ cá nhân, cơ quan, tổ chức tín dụng hoặc Ngân hàng nào nên không có nợ chung.
Trong thời gian chung sống, do tính tình không hòa hợp, quan điểm sống khác nhau, không có tiếng nói chung, ông Nguyễn Văn T không chung thủy, có mối quan hệ không lành mạnh với người phụ nữ khác dẫn đến giữa bà Trần Thanh H và ông Nguyễn Văn T thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cự cãi với nhau nên bà Trần Thanh H và ông Nguyễn Văn T đã tự chấm dứt quan hệ chung sống với nhau và sống ly thân với nhau từ năm 2022 cho đến nay. Bà Trần Thanh H đang sống tại địa chỉ: Số C, Tổ A, ấp C, Đường V, xã V, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh cho đến nay; còn ông Nguyễn Văn T đang sống tại địa chỉ: Ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Bạc Liêu cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, bà Trần Thanh H và ông Nguyễn Văn T có gặp gỡ trực tiếp với nhau và cũng có liên lạc với nhau bằng điện thoại để giải quyết mâu thuẫn và hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả.
Nay bà Trần Thanh H yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn T; không yêu cầu được đoàn tụ. Khi ly hôn, do Nguyễn Văn N, sinh ngày 16 tháng 5 năm 2001 và Nguyễn Thị N1, sinh ngày 02 tháng 8 năm 2003 đã trưởng thành khỏe mạnh nên bà Trần Thanh H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung, bà Trần Thanh H xác định bà Trần Thanh H và ông Nguyễn Văn T chung sống không có tài sản chung và nợ chung nên bà Trần Thanh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với ý kiến, trình bày của bị đơn ông Nguyễn Văn T: Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và triệu tập ông Nguyễn Văn T đến Tòa án, nhưng ông Nguyễn Văn T không thực hiện việc gửi văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thanh H cũng như cung cấp tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án cho Tòa án và cũng không đến Tòa án làm việc nên không thể ghi nhận ý kiến, yêu cầu của ông Nguyễn Văn T đối với yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thanh H. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do bà Trần Thanh H cung cấp và do Tòa án thu thập được để làm cơ sở giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký phiên tòa, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và quan điểm giải quyết vụ án như sau:
- - Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký phiên tòa và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự; riêng bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về nội dung: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 57 Luật Hôn nhân và Gia đình: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thanh H đối với ông Nguyễn Văn T, cho bà Trần Thanh H và ông Nguyễn Văn T ly hôn. Về con chung: Nguyễn Văn N, sinh ngày 16 tháng 5 năm 2001 và Nguyễn Thị N1, sinh ngày 02 tháng 8 năm 2003 đều đã trưởng thành khỏe mạnh và không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra giải quyết. Bà Trần Thanh H phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền: Bà Trần Thanh H yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn T và hiện nay ông Nguyễn Văn T cư trú tại ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Bạc Liêu nên Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Trần Thanh H có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt. Bị đơn ông Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng tại phiên tòa hôm nay ông Nguyễn Văn T vẫn vắng mặt không rõ lý do nên căn cứ vào khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Trần Thanh H và ông Nguyễn Văn T.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hôn nhân: Bà Trần Thanh H và ông Nguyễn Văn T tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2010. Đến tháng 10 năm 2017, bà Trần Thanh H và ông Nguyễn Văn T tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Bạc Liêu và được Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận kết hôn số 88/2017, ngày 23 tháng 10 năm 2017 nên hôn nhân giữa bà Trần Thanh H và ông Nguyễn Văn T là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
[2.2] Bà Trần Thanh H yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn T với lý do trong thời gian chung sống, tính tình không hòa hợp, quan điểm sống khác nhau, không có tiếng nói chung, ông Nguyễn Văn T không chung thủy, có mối quan hệ không lành mạnh với người phụ nữ khác dẫn đến giữa bà Trần Thanh H và ông Nguyễn Văn T thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cự cãi với nhau nên bà Trần Thanh H và ông Nguyễn Văn T đã tự chấm dứt quan hệ chung sống với nhau và sống ly thân với nhau từ năm 2022 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, bà Trần Thanh H và ông Nguyễn Văn T có gặp gỡ trực tiếp với nhau và cũng có liên lạc với nhau bằng điện thoại để giải quyết mâu thuẫn và hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Tại Biên bản xác minh ngày 12 tháng 3 năm 2025, ông Trần Văn Út N2, là Trưởng ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Bạc Liêu xác định bà Trần Thanh H và ông Nguyễn Văn T đã sống ly thân khoảng 04-05 năm nay. Xét thấy, hôn nhân giữa bà Trần Thanh H và ông Nguyễn Văn T thực tế đã phát sinh mâu thuẫn, không thể giải quyết, cuộc sống chung giữa bà Trần Thanh H và ông Nguyễn Văn T thực tế đã không còn và không thể duy trì. Điều này cho thấy, tình cảm vợ chồng giữa bà Trần Thanh H và ông Nguyễn Văn T đã không còn có sự quan tâm, chăm sóc, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thanh H đối với ông Nguyễn Văn T, cho bà Trần Thanh H và ông Nguyễn Văn T ly hôn.
[2.3] Bà Trần Thanh H và ông Nguyễn Văn T chung sống có tất cả 02 (hai) người con chung gồm Nguyễn Văn N, sinh ngày 16 tháng 5 năm 2001 và Nguyễn Thị N1, sinh ngày 02 tháng 8 năm 2003. Bà Trần Thanh H xác định do Nguyễn Văn N, sinh ngày 16 tháng 5 năm 2001 và Nguyễn Thị N1, sinh ngày 02 tháng 8 năm 2003 đều đã trưởng thành khỏe mạnh và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Thanh H xác định bà Trần Thanh H và ông Nguyễn Văn T chung sống không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông Nguyễn Văn T không thể hiện ý kiến có tranh chấp và yêu cầu giải quyết về vấn đề tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[2.5] Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch, bà Trần Thanh H phải nộp 300.000 đồng. Bà Trần Thanh H đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004562 ngày 17 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu nên được chuyển thu án phí.
[3] Các quan điểm đề xuất việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu tại phiên tòa, như đã phân tích, là có căn cứ nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 57 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội và điểm 1.1 phần II mục A của Danh mục án phí, lệ phí Tòa án (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016):
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thanh H đối với ông Nguyễn Văn T, cho bà Trần Thanh H và ông Nguyễn Văn T ly hôn.
- Về con chung: Do Nguyễn Văn N, sinh ngày 16 tháng 5 năm 2001 và Nguyễn Thị N1, sinh ngày 02 tháng 8 năm 2003 đều đã trưởng thành, khỏe mạnh và không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có và không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và Gia đình, bà Trần Thanh H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Bà Trần Thanh H đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004562 ngày 17 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu nên được chuyển thu án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và Gia đình 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn kháng cáo 15 (mười lăm) ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nơi nhận:
|
Dương Hồng Chi |
Bản án số 20/2025/HNGĐ-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LỢI, TỈNH BẠC LIÊU về ly hôn
- Số bản án: 20/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LỢI, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Trần Thanh H yêu cầu được ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với ông Nguyễn Văn T.
