Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 - NGHỆ AN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 25/11/2025

V/v tranh chấp hôn nhân
và gia đình

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11- NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Ái

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Vi Văn Dương

Ông Vang Thanh Hải

- Thư ký phiên tòa: Lê Thị Thảo - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 11- Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11- Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Lô Văn Tim - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11- Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 43/2025/TLST- HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Ngân Thị H, sinh năm 1986 (Có đơn xét xử vắng mặt) Trú tại: Bản Q, xã T, tỉnh Nghệ An.
  2. Bị đơn: Anh Vi Văn T, sinh năm 1985 (Có đơn xét xử vắng mặt) Đăng ký thường trú: Bản Quang P, xã T, tỉnh Nghệ An. Chỗ ở hiện nay: Bản K, xã T, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 08/10/2025 và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án chị Ngân Thị H trình bày:

  • - Về tình cảm: Chị Ngân Thị H và anh Vi Văn T tìm hiểu nhau được một thời gian thì kết hôn vào năm 2009. Chị H và anh T đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An (nay là xã T, tỉnh Nghệ An) vào ngày 26 tháng 11 năm 2009 trên cơ sở tự nguyện không ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống rất hạnh phúc, mâu thuẫn phát sinh vào năm 2018, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng quan điểm sống khác nhau nên thường xuyên cãi vã, xúc phạm nhau thậm tệ, anh T không quan tâm chăm sóc gia đình, đến năm 2018 anh T đi làm ăn xa, không liên lạc với vợ con, lâu dần tình cảm vợ chồng rạn nứt, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau, và sống ly thân nhau từ năm 2018. Nay tình cảm vợ chồng đã cạn kiệt chị H có nguyện vọng ly hôn để ổn định cuộc sống và công việc.
  • - Về con chung: Chị H và anh T có 02 con chung là cháu Vi Thị Thủy T1, sinh ngày 01/5/2010 và cháu Vi Thị Hà K, sinh ngày 17/6/2014 hiện cháu đang sống cùng tôi tại bản Quang Phúc, xã T, tỉnh Nghệ An. Từ năm 2018 anh T bỏ đi làm ăn xa, một mình chị H chăm sóc nuôi dưỡng 02 cháu, nên nếu ly hôn đặt ra chị H có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T1, cháu K cho đến khi các cháu trưởng thành, về cấp dưỡng: Chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng tiền nuôi con.
  • - Về tài sản chung, nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 14 tháng 10 năm 2025 bị đơn anh Vi Văn T trình bày:

  • - Về tình cảm: Anh T và chị Ngân Thị H tìm hiểu nhau được một thời gian thì kết hôn vào năm 2009. Anh T và chị H đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An (Nay là UBND xã T, tỉnh Nghệ An) vào ngày 26 tháng 11 năm 2009 trên cơ sở tự nguyện không ai ép buộc. Sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng sống rất hạnh phúc, mâu thuẫn phát sinh vào năm 2018, nguyên nhân là do vợ chồng tính cách không hợp nhau nên thường xuyên cãi vã, xúc phạm nhau thậm tệ, càng sống chung tình cảm vợ chồng càng rạn nứt, nên quyết định sống ly thân nhau. Nay tình cảm vợ chồng không chị H có nguyện vọng ly hôn thì tôi đồng ý.
  • - Về con chung: Anh T và chị H có 02 con chung là cháu Vi Thị Thủy T1, sinh ngày 01/5/2010 và cháu Vi Thị Hà K, sinh ngày 17/6/2014 hiện cháu đang sống tại bản Q, xã T, tỉnh Nghệ An. Nếu ly hôn anh T đồng ý giao cháu T1 và cháu K cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu trưởng thành, về cấp dưỡng: Anh T và chị H tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về tài sản chung, nợ chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, triệu tập hợp lệ, các thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hoà giải hợp lệ cho anh Vi Văn T theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh T đều vắng mặt, vụ án không tiến hành hoà giải được do sự vắng mặt của bị đơn anh Vi Văn T. Nguyên đơn chị Ngân Thị H vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh Vi Văn T nên Toà án đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11- Nghệ An tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:

Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với nguyên đơn, bị đơn: Đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quan điểm giải quyết nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nguyên đơn chị Ngân Thị H cụ thể như sau: Quan hệ hôn nhân cho chị Ngân Thị H được ly hôn với anh Vi Văn T; Con chung: Giao cháu Vi Thị Thủy T1, sinh ngày 01/5/2010 và cháu Vi Thị Hà K, sinh ngày 17/6/2014 cho chị Ngân Thị H chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu trưởng thành, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh T; Tài sản chung, nợ chung: Chị H và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; Án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng và các lời khai của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Thủ tục tố tụng: Đây là quan hệ tranh chấp hôn nhân và gia đình quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Anh Vi Văn T đăng ký thường trú tại bản Q, xã T, tỉnh Nghệ An. Căn cứ vào Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa nguyên đơn chị Ngân Thị H và bị đơn anh Vi Văn T thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân nhân dân khu vực 11 - Nghệ An. Bị đơn, Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ vào 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[2] Quan hệ hôn nhân: Chị H và anh T kết hôn với nhau vào năm 2009 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An (nay là xã T, tỉnh Nghệ An) cấp giấy chứng nhận kết hôn tại số 12 ngày 26 tháng 11 năm 2009 vì vậy đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

[3] Nội dung:

[3.1] Tình cảm: Chị H và anh T trong quá trình chung sống có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do quan điểm sống khác nhau nên thường xuyên chưởi bới, xúc phạm nhau thậm tệ và đã sống ly thân với nhau từ giữa năm 2018, chị H cũng thừa nhận, chị không còn tình cảm với anh T, không muốn tiếp tục chung sống với anh T và muốn được ly hôn để ổn định cuộc sống, hôn nhân không đạt được mục đích, mâu thuẫn phát sinh từ lâu nhưng cả hai không tìm ra được giải pháp khắc phục, không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân của chị H và anh T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị H là có căn cứ phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3.2] Con chung: Chị H và anh T có 02 con chung là cháu Vi Thị Thủy T1, sinh ngày 01/5/2010 và cháu Vi Thị Hà K, sinh ngày 17/6/2014 và chị H có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Vi Thị Thủy T1, Vi Thị Hà K cho đến khi các cháu trưởng thành, chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng tiền nuôi con. Anh Vi Văn T đồng ý giao cháu Vi Thị Thủy T1, Vi Thị Hà K cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng, về cấp dưỡng anh T và chị H tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết, Cháu Vi Thị Thủy T1, Vi Thị Hà K đều có nguyện vọng sống với chị H. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, giao cháu Vi Thị Thủy T1, sinh ngày 01/5/2010 và cháu Vi Thị Hà K, sinh ngày 17/6/2014 cho chị Ngân Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh T. Anh T được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở anh T thực hiện quyền này.

[3.3] Tài sản chung, nợ chung: Chị Ngân Thị H và anh Vi Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Án phí và quyền kháng cáo: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, và Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;

Tuyên xử:

  1. Quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Ngân Thị H được ly hôn với anh Vi Văn T.
  2. Con chung:
    • + Giao con chung của nguyên đơn và bị đơn là cháu Vi Thị Thủy T1, sinh ngày 01/5/2010 và cháu Vi Thị Hà K, sinh ngày 17/6/2014 cho chị Ngân Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành.
    • - Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh T;
    • - Anh T có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một bên hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
  3. Tài sản chung, nợ chung: Chị H và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Án phí: Buộc chị Ngân Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001023 ngày 09/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
  5. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND khu vực 11-Nghệ An;
  • - Phòng THADS 11 - Nghệ An;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Tam Quang, Nghệ An;
  • - Lưu Văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lương Thị Ái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HNGĐ-ST ngày 25/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 20/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger