trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Quy trình đăng ký doanh nghiệp trực tuyến
  • search Bản án mẫu tranh chấp đất đai
  • search Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
  • search Điều kiện hưởng lương hưu mới nhất 2026
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUY PHONG

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 25-02-2025

v/v “Ly hôn

và nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG - TỈNH BÌNH THUẬN

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lý Văn Lấy

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Phạm Văn Minh
  • 2. Bà Trần Thị Hà

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Đắc Quốc Tuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa – Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 331/2024/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2024 về việc: “Ly hôn và nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2024/QĐ-XX, ngày 08 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 76/2024/QĐ-HPT ngày 24/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1998.

    Hiện trú tại: khu phố A, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Có mặt

  2. Bị đơn: Ông Đặng văn T1, sinh năm 1996.

    Hiện trú tại: khu phố A, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn ngày 05/01/2024 và lời khai tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày: Về hôn nhân: Bà và ông Đặng Văn T1 xác lập quan hệ vợ chồng năm 2019 trên cơ sở tự nguyện, tìm hiểu yêu thương nhau, có đăng ký kết hôn năm 2019 tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Đầu năm 2022, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, xung đột trầm trọng. Vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau, hay bất đồng quan điểm sống, không hòa hợp nhau. Tình cảm vợ chồng không còn, không ai còn quan tâm chăm sóc gì đến nhau, vợ chồng không ai tôn trọng nhau về cách sống.

Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không đạt được mục đích, không hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T1,

Về con chung: Trong quá trình chung sống, tôi và ông T1 có 01 con chung: Đăng Nguyễn Gia M - sinh ngày 10/04/2019. Hiện con đang ở với tôi. Tôi yêu cầu nhận trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục con chung cho đến khi đủ 18 tuổi, tôi không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Bị đơn ông Đặng Văn T1 vắng mặt nên không có lời trình bày.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tuân thủ theo đúng các quy định Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.

Việc tuân theo pháp luật của thư ký phiên tòa: thư ký đã tuân thủ theo đúng quy định tại các Điều 237 và Điều 239 Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án:

Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn bà Nguyễn Thị T đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại Điều 70 và Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn ông Đặng Văn T1 không thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của người tham gia tố tụng theo quy định tại các Điều 70 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 BLTTDS xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định pháp luật.

Về quan điểm giải quyết vụ án: khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự ; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng và quản lý án phí, lệ phí Tòa án;

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị T đối với ông Đặng Văn T1. Bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Đặng Văn T1.

Về con chung: Giao cho bà T nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đăng Nguyễn Gia M - sinh ngày 10/04/2019 đến khi trưởng thành. Bà T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: Không có.

Về án phí: bà Nguyễn Thị T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: bà Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Đặng Văn T1, do đó đây là vụ án “Tranh chấp về ly hôn” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. ông Đặng Văn T1 có nơi cư trú tại thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Nguyễn Thị T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Về thủ tục tố tụng: Qua xác minh tại Ban cán sự khu phố A, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận thì ông Đặng Văn T1 có hộ khẩu thường trú tại khu phố A, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến ngày xét xử, do ông T1 không hợp tác, từ chối nhận giấy triệu tập. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi cư trú của ông T1 theo đúng trình tự thủ tục tố tụng mà pháp luật đã quy định nhưng ông T1 vẫn không có mặt cũng như không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để tiến hành xét xử vắng mặt ông T1 theo thủ tục chung.

[3]. Về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T: Theo lời trình bày của bà T cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì bà và ông Đặng Văn T1 tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận vào năm 2019 nên quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông T1 là hợp pháp.

Bà T cho rằng do bà và ông T1 thường hay bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung và không ai tôn trọng ai, bà thấy giữa bà và ông T1 đã mâu thuẫn đã trầm trọng không tự giải quyết được, nên bà bỏ về nhà cha mẹ bà ở, giao căn trọ cho ông T1 ở, hiện nay ông T1 đã về nhà cha mẹ ông ở. Vợ chồng bà đã sống ly thân hơn 01 năm nay, không còn ai quan tâm đến ai. Vì vậy, bà yêu cầu giải quyết cho bà được ly hôn với ông T1.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông T1, Toà có liên hiện ông T1 qua số điện thoại có số thuê bao ông T1 sử dụng để làm việc ông có hứa sẽ đến Toà làm việc nhưng ông không chấp hành, sau khi lập biên bản về việc tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải Toà đã tiến hành niêm yết công khai cho ông T1 thông báo kết quả hoà giải, ông T1 có biết nhưng ông không phản hồi ý kiến đối với yêu cầu của bà T, điều này chứng tỏ ông T1 không có quan tâm gì đến mối quan hệ hôn nhân giữa ông và bà T và nghĩa vụ đối với con chung. Chứng tỏ ông T1 không mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Nhận thấy tình trạng hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị T và ông Đặng Văn T1 đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, để đảm bảo quyền lợi của các đương sự và để ổn định cuộc sống cho các bên, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị T.

[4]. Về con chung: Bà T yêu cầu nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Xét thấy, từ khi bà T và ông T1 ly thân nhau thì bà T là người trực tiếp nuôi con chung, ông T1 bỏ mặc con không có trách nhiệm với con cái. Chứng tỏ, ông T1 đã vi phạm nghĩa vụ đối với con chung, tại Tòa bà T yêu cầu nuôi con và cam đoan sẽ lo cho con có một sống đấy đủ về mọi mặt, vì vậy tiếp tục giao cho bà T nuôi dưỡng, giáo dục con chung là phù hợp.

Bà T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

[5]. Về tài sản và nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét

[6]. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật nên ghi nhận.

[7]. Về án phí: căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí về lệ phí Tòa án nên bà Nguyễn Thị T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 146 và khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.

    Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điềi 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

    Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí về lệ phí Tòa án.

  2. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị T đối với ông Đặng Văn T1. Bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Đặng Văn T1.
  3. Về con chung: Giao cho bà T nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đăng Nguyễn Gia M - sinh ngày 10/04/2019 đến khi trưởng thành. Bà T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

    Bà T không được ngăn cản ông T1 trong việc thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung.

  4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Bà T đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm tại biên lai thu số 0006991 ngày 30/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phong, bà T đã nộp đủ án phí.
  5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt nguyên đơn, báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 25/02/2025). Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND (tỉnh+huyện);
  • - Tòa án tỉnh;
  • - Các đương sự;
  • - THA huyện,
  • - UBND (xã) thị trấn;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lý Văn Lấy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 20/2025/HNGĐ-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG - TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn và nuôi con chung

  • Số bản án: 20/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG - TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con chung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger